Những vấn đề yếu ớt của nhà nước
Theo Talawas - Vương Thiệu-quang (Nguyễn Ước dịch) - 12-01-2006
Vào
cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi “đợt sóng thứ ba” của
dân chủ hóa quét lên hầu hết quả đất thì đã có sự tin tưởng rộng rãi
giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách rằng cải
cách dân chủ sẽ dẫn tới tình trạng nhà nước co lại hoặc bị trung hòa.
Thế nhưng sau một thập niên quá đổi nhấn mạnh tới việc kiềm chế nhà
nước, nhìn vào bản đồ chính trị thế giới lại thấy có quá nhiều chế độ
dân chủ giả mạo hoặc bất toàn, và thậm chí còn có một số trường hợp
“dân chủ lộn ngược” tận gốc rễ.
Rồi cũng khá ngạc nhiên là nhiều nhà nghiên cứu đi tới việc thấy
rằng khả năng đứng vững và hiệu năng của các định chế nhà nước là thiết
yếu cho những viễn ảnh để có dân chủ. Như Samuel P. Huntington ghi nhận
rằng “phải có chính quyền trước đã rồi mới có thể giới hạn nó.” [1]
Chính quyền có dân chủ ra sao đi nữa không là vấn đề, nếu nó không thực
hiện nổi những chức năng căn bản của một nhà nước thì nhân dân cũng
chẳng thu được phúc lợi gì từ nó.
Bởi thế, một chế độ dân chủ có khả năng và có hiệu năng sẽ là một
hỗn hợp của các định chế có năng-lực-nhà-nước và các định chế có tính
dân chủ. Cái đầu làm cho nhà nước có năng lực cai trị trong khi cái sau
làm cho người dân có thể giữ cho nhà nước có tinh thần trách nhiệm.
Một ngụ ý thêm nữa là, trong nhiều trường hợp, dân chủ hóa liên quan tới hai quá trình tách biệt nhau:
- uá trình chuyển tiếp từ chế độ phi dân chủ tới chế độ có nhiều hoặc có ít dân chủ, và
- quá trình thiết lập hoặc tái thiết lập nhà nước — nghĩa là
thật nông nổi cho xứ sở nào mà trong thời gian chuyển tiếp, lại hủy
hoại hoặc làm suy yếu các năng lực thiết yếu của nhà nước.
Những yếu tố thiết yếu của một nhà nước hiệu năng
Ðể cai trị hữu hiệu, nhà nước phải có đủ khả năng thực hiện sáu chức năng quan trọng sau đây:
1. Giữ độc quyền sử dụng sức mạnh hợp pháp
Theo định nghĩa của Max Weber, trắc nghiệm căn bản về chủ quyền
quốc gia là chính quyền của quốc gia đó có thể hoặc không thể tuyên bố
độc quyền sức mạnh trên lãnh thổ theo pháp quyền của nó, với các lực
lượng quân sự và các cơ quan công an cảnh sát có khả năng đẩy lùi kẻ
thù quốc ngoại và bảo vệ trật tự quốc nội. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh
tầm quan trọng của sự phát triển một lực lượng công an cảnh sát chuyên
nghiệp, tháo vát, tận tâm, có kỷ luật, mặc đồng phục, và được cai quản
bởi luật pháp. Ðiều thú vị là, dù các chế độ đàn áp thường được gọi là
“quốc gia cảnh sát trị”, xét theo tỉ lệ công dân thì thật ra chúng có
khuynh hướng có ít cảnh sát hơn so với các xã hội tự do là nơi có lực
lượng cảnh sát đông đảo hơn và bị kiềm chế hơn.
2. Thu hút tài nguyên
Cũng như con người không thể sống nếu không có máu, nhà nước không
thể vận hành nếu không có thu nhập từ thuế. Chính tài nguyên có sẵn ấy
cho phép nhà nước thực hiện những công tác khác. Trong ý nghĩa ấy, một
chính phủ hiệu năng phải có khả năng thu hút từ xã hội các tài nguyên
đủ dùng, gom các tài nguyên ấy thành vốn liếng chung của quốc gia và
dùng chúng cho những mục đích quốc gia. Nếu một nhà nước không có khả
năng về mặt tài chánh thì nó không thể hiệu năng.
3. Hình thành bản sắc quốc gia và huy động sự đồng thuận
Duy trì trật tự bằng cưỡng bách mà thôi thì không thể thực hành về
lâu về dài. Phải có một số bản sắc và giá trị được chia sẻ chung, vượt
quá những quan hệ địa phương hoặc thân tộc và kết chặt xã hội lại như
một tổng thể. Lịch sử mới đây của vùng Balkans, Rwanda, Indonesia và
các phần của khối Sô-viết cũ nhắc nhở chúng ta rằng sự thiếu vắng một
bản sắc quốc gia bao trùm xã hội có thể là một lực ly tâm đáng sợ. Nhà
nước cũng cần một khối công dân được xác định đặc điểm bởi sự đồng nhất
luân lý trong chung một đường biên nhất định — một chuỗi các nguyên tắc
nòng cốt vượt quá bản sắc quốc gia đơn thuần — nếu nó mong muốn cai trị
mà không phải viện tới sự cưỡng bách quá mức và phí tổn quá đắt.
4. Ðiều chỉnh xã hội và kinh tế
Xã hội hiện đại đầy dẫy những rủi ro do kỹ nghệ, thương mại, đô thị
hóa và bất cân đối của quyền lực và thông tin đem lại. Do đó, để bảo vệ
nhân dân và môi sinh, nhà nước cần thông qua những luật lệ tác động lên
nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế và xã hội bao quát từ cân đo đong
đếm tới chất lượng của thực phẩm và dược phẩm, các định chuẩn an toàn,
và thậm chí quyền và bổn phận của cha mẹ. Chắc chắn sẽ diễn ra bất tận
các cuộc tranh luận về ranh giới thích đáng của việc “nhà nước điều
chỉnh”, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng hết thảy các xã hội hiện
đại có qui củ và hợp lý thì đều được điều chỉnh cao độ, dù nó dân chủ
hay không.
5. Duy trì tính nhất quán nội bộ của các định chế nhà nước
Nhà nước hiện đại cần một bộ máy thư lại có hiệu năng, nghĩa là một
chuỗi các tổ chức lớn rộng và phức tạp với các cơ quan mà bánh răng cưa
của chúng phải ăn khớp nhau. Không thể cho phép các khuynh hướng thư
lại nói chung “xem cơ quan ta là nhất” hoặc tham nhũng hoặc sự thiếu
năng lực của cá nhân viên chức lên tới điểm xem rẻ tính nhất quán nội
bộ của chính guồng máy quản trị của nhà nước.
6. Tái phân phối tài nguyên
Sự tái phân phối thì liên quan tới sự tái phân cấp các tài nguyên
hiếm hoi cho các nhóm xã hội khác nhau. Mục đích của nó là cung cấp cơ
hội may mắn tối thiểu với sự an toàn kinh tế cũng như ngăn chặn sự bất
ổn chính trị vốn có khuynh hướng làm điêu đứng xã hội nào đang có những
chênh lệch lớn lao về của cải và các cơ hội quá ít hoặc hoàn toàn không
có để biến đổi xã hội. Một chính sách tái phân phối vừa phải sẽ khiến
nhà nước có khả năng duy trì trật tự xã hội và gia tăng tính chính
thống của nó.
Khủng hoảng cai trị tại Trung Quốc
Ðo lường bằng sáu tiêu chuẩn kể trên thì nhà nước-Ðảng Cộng Sản
Trung Quốc (ÐCSTQ) là một nhà nước yếu ớt. Nó xâm nhập sâu xa bằng
những yêu sách cực độ về quyền lực và tìm cách đi sâu vào mọi xó xỉnh
của xã hội, nhưng xâm nhập không có nghĩa là hiệu năng. Thực tế, một
nhà nước xâm nhập có thể tồi trong việc lập và thực hiện chính sách và
cả trong việc xử lý công tác quản lý thường lệ. Hai thập niên rưỡi cải
cách trên căn bản thị trường của một Trung Quốc đang hội nhập thật sâu
vào nền kinh tế thế giới và phát đạt chưa từng thấy chỉ làm lộ rõ thêm
sự “thâm thủng năng lực” của nhà nước, như một điềm gở. Vì kinh tế và
chính trị của Trung Quốc ngày càng phức tạp và thông thoáng hơn bao giờ
nên các định chế quản trị và chính trị của xứ sở bị tụt hậu hơn bao
giờ. Quả thật có vô số dấu hiệu chỉ rõ rằng Trung Quốc đang lâm vào
cuộc khủng hoảng sâu xa và thậm chí quá tải về cai trị tới độ chứa đựng
từng tiêu chuẩn và gồm đủ cả sáu tiêu chuẩn kể trên.
Dấu hiệu thứ nhất của khủng hoảng về cai trị là tình trạng vô luật
lệ đang đe dọa cao độ tại Trung Quốc. Con số hàng năm các tội ác có báo
cáo, tính theo tỉ lệ 10.000 người, bùng nổ từ 5,5 trong năm 1978 tới
28,8 năm 2000. Mức độ tội phạm có bạo lực thậm chí tăng nhanh hơn, đăc
biệt trong mấy năm vừa qua. Trên cả nước, các cơ quan thi hành luật
pháp không thể đối phó vì thiếu nhân lực, thiếu ngân khoản và thiếu tái
trang bị. Lối tiếp cận để ngăn chặn tội ác theo kiểu Mao-ít lấy địa bàn
khu phố và thôn xóm, với các ban giám sát hoạt động từng đơn vị, đều
không còn hữu hiệu trong một xã hội rộng lớn với số dân di động ngày
càng tăng. Với chỉ một viên chức phục vụ cả ngàn dân cư, Trung Quốc là
một trong những quốc gia cảnh sát trị thưa thớt nhất thế giới. Tại các
địa phương nhất định, các phạm nhân quả thật đông hơn và nhiều súng
hơn, đã hạ sát các viên chức; trong năm 2001, 443 viên chức bị giết
trong lúc thi hành nhiệm vụ. Một số cơ quan công an địa phương là đối
tượng xâm nhập của người phạm pháp, hoặc bị hối hộ, trở thành nơi cung
cấp sự bảo vệ (có trả tiền) cho băng đảng đang hoành hành trên đường
phố và phạm pháp mà không bị trừng phạt.
Tài chính công cộng của Trung Quốc thì hỗn loạn. Gánh thuế má nói
chung vẫn nặng nề, đặc biệt đối với nông dân; thậm chí tại miền trung
Trung Quốc, nhiều cơ quan cấp huyện và thị xã không trả nổi tiền lương
và tiền hưu bổng đều đặn hoặc ngay cả việc cung ứng các dịch vụ công
cộng cơ bản. Trong những năm vừa qua, tổng số tiền thu nhập từ thuế của
chính quyền trung ương bình quân rất thấp, 8% tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) hoặc ít hơn, để lại một Bắc Kinh rõ ràng là không có khả năng
thực hiện nhiều chức năng quản lý quan trọng, kể cả việc tài trợ một
lực lượng công an hiện đại. Thêm nữa, con số thống kê năm 2000 cho thấy
tiền thu thuế chính thức của các cơ quan mọi cấp chỉ bằng khoảng 15%
GDP trong khi cái gọi là tiền thu thuế không chính trức thì gia tăng
theo hình trôn ốc, và hiện nay, nó có khả năng nhiều gấp hai lần rưỡi
tổng số tiền thu thuế chính thức. Không một xứ sở nào trên thế giới này
bị xem là có quá nhiều nguồn tài chánh công cộng đi vào các tài khoản
ngoại ngân sách như thế. Ðược thu nhân danh nhà nước nhưng chỉ bị kiểm
soát qua loa so với tiền thu thuế chính thức; tiền thu thuế không chính
thức cung cấp dồi dào cơ hội cho việc hối lộ và làm hư hoại viên chức.
Tại Trung Quốc, bản sắc quốc gia không phải là chủ đề được giải
quyết một cách đầy đủ nhưng nó đặt ra sự đe dọa lớn lao cho sự toàn vẹn
lãnh thổ của đất nước. Chỉ ở vùng Tây Tạng và Tân Cương là yêu cầu ly
khai có được sự ủng hộ của dân chúng tới một mức giới hạn nào đó. Ðiều
nguy hiểm hơn cả là sự trống rỗng tâm linh của một xứ sở có 1,3 tỉ linh
hồn. Sau ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) năm
1949, chủ nghĩa Mao cố ý tỏ ra là mình đưa ra một mục đích có ý nghĩa
cho cuộc sống. Dù không biết nó có từng thật sự làm như thế hay không,
nhưng ngày nay, rõ ràng là sự gia tăng của thương mại và thị trường đã
thu nhỏ chủ nghĩa Mao tới mức còn bé hơn cái vỏ ốc của chính nó ngày
trước. Khi các chênh lệch xã hội rộng thêm, tham nhũng và bất an tăng
cao trong thời kỳ đổi thay chóng mặt, hàng triệu người Trung Quốc thấy
thế giới chung quanh mình tàn bạo, bất thân thiện và trống rỗng ý
nghĩa. Nhiều người trở nên hoài nghi yếm thế. Những người khác khao
khát một dây neo tâm linh, ao ước cái có vẻ như “những ngày tốt lành”
thời Mao hoặc lũ lượt kéo nhau tới với các tôn giáo được thành lập
chính thức như Thiên Chúa giáo và Phật giáo hoặc các giáo phái mới, thí
dụ Pháp Luân Công mà đã bị chính thức cấm.
Sự mỏng manh của nhà nước Trung Quốc cũng được biểu lộ trong năng
lực điều chỉnh không thỏa đáng và đáng buồn của nó. Tình trạng làm đồ
giả mạo tràn lan là một thí dụ gây ấn tượng mạnh. Gần như bất cứ cái gì
cũng có thể bị làm giả, không chỉ đồng hồ Rolex mà thậm chí cả hạt
giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dược phẩm, máy móc nông nghiệp, con dấu
nhà nước, thẻ chứng minh nhân dân, hộ chiếu, nhãn kiểm tra ô-tô, biên
lai thuế, bằng cấp đủ loại, giấy hôn thú, giấy chứng nhận công nhân
viên, hồ sơ thuế hải quan, sổ ngân hàng, bạc cắc, sách Harry Potter,
huy chương Cúp bóng đá Thế giới, và thêm nữa. Văn bằng đại học thông
dụng tới nỗi thống kê năm 2000 ghi nhận rằng con số người có văn bằng
cao đẳng hoặc đại học năm đó nhiều hơn số người thật sự tốt nghiệp tới
khoảng 600.000 người. Thậm chí có những người mặc đồng phục của công an
mà có thể không là công an thật. Trong năm năm vừa qua, chính phủ khám
phá ra gần 320.000 bộ đồng phục, huy hiệu công tác, xe và vũ khí của
công an, và phát hiện được 10.000 công an dỏm. Năm 2001, có 192.000
người tử nạn sau khi dùng dược phẩm giả hoặc chất lượng quá kém. Bất
chấp các nỗ lực của chính quyền đưa tới việc đóng cửa 1.300 xí nghiệp
dược, hay là một nửa của toàn bộ kỹ nghệ ấy, năm đó, trong sáu tháng
đầu của 2002, có thêm 70.000 cái chết vì dược phẩm đểu.
Hãi hùng chẳng kém những con số kể trên là càng ngày càng có thêm
người chết vì sự bất lực của nhà nước trong việc điều chỉnh sự an toàn
ở nơi lao động. Con số những cái chết có báo cáo vì tai nạn kỹ nghệ gia
tăng hằng năm tính từ đầu thập niên 1990. Chỉ riêng năm 2002, trong sáu
tháng đầu, có hơn 53.000 người chết trong tổng số 450.000 vụ rủi ro mà
hầu hết xảy ra tại hiện trường lao động. Gần 3.400 người chết là thợ mỏ
tử nạn trong khi làm việc. Là nước sản xuất than đá lớn nhất thế giới,
sản lượng của Trung Quốc có phần cao hơn Hoa Kỳ nhưng tỉ lệ thợ Trung
Quốc chết tính theo một triệu tấn than mỏ thì cao hơn Hoa Kỳ 100 lần và
cao hơn tỉ lệ của thế giới 20 lần. Trong suốt mấy chục năm trước đây,
kỹ nghệ đó bị khống chế bởi một số ít ỏi mỏ do nhà nước điều hành, ngày
nay Bắc Kinh đối mặt với một công tác gần như không thể làm nổi là điều
chỉnh hàng ngàn mỏ nhỏ do tư nhân làm chủ; có nhiều mỏ loại đó là cái
bẫy của thần chết. Chính quyền đã và đang giảm thiểu số lượng các mỏ mở
ra từ 82.000 năm 1997 xuống khoảng 15.000 hiện nay, nhưng tai nạn tử
vong vẫn còn cao tới mức dễ sợ.
Nhà nước Trung Quốc thường được xem như một cỗ máy với các cơ quan
hoàn toàn ăn khớp nhau một cách êm ái. Trong thực tế, hệ thống kiểm
soát và phối hợp có tính tập trung ấy là một sự vờ vĩnh rộng khắp. Rất
gần cái tiêu điểm mà Kenneth Lieberthal dùng thuật ngữ “chủ nghĩa toàn
trị chắp vá” để xác định đặc điểm của chế độ đó. Các vấn đề làm đồ giả
mạo và tai nạn tử vong nơi lao động — vốn vẫn dai dẳng xảy ra bất chấp
những gì phải hoàn toàn ngay thẳng, đã được thừa nhận khi có những
chiến dịch của chính phủ trung ương triệt để chống lại chúng —phơi bày
không chỉ sự bất lực của nhà nước Trung Quốc đối với việc điều chỉnh xã
hội mà còn cho thấy sự bất lực của nhà nước trong việc làm cho các viên
chức của nó thực thi công tác của họ. Một số viên chức chỉ giản dị là
tham nhũng, nháy mắt với các công ty bất lương hoặc nguy hiểm để được
lại quả bằng đút lót. Các viên chức khác, đặc biệt ở cấp địa phương chỉ
đưa mắt ngó hàng triệu người dân đang tìm việc làm và còn muốn góp phần
đẻ ra công ăn việc làm cho dù nó có nghĩa là chịu đựng những công việc
không an toàn hoặc tẻ nhạt. Mặt khác, chính quyền địa phương kẹt tiền,
dựa vào các hoạt động như thế để thu thuế lợi tức trong khi xem các sắc
lệnh hoặc nghị định do trung ương gởi xuống như không có, vì chúng chỉ
giao nhiệm vụ mà không có chút nào tài trợ. Như thế, tham nhũng và
những hình thức bất chấp luật lệ khác tiếp tục tiến triển nhanh chóng,
và mỗi vụ tai tiếng mới là làm xói mòn thêm nền tảng đạo đức của chế
độ.
Nhìn lại thời gian vừa qua người ta thấy cuộc cải cách tại Trung
Quốc đi qua hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn một bắt đầu từ năm 1978 và
kết thúc khoảng năm 1993. Trong khoảng thời gian ấy, cải cách là một
cuộc chơi “đại thắng lợi”: mọi thành phần xã hội đều được hưởng lợi tối
đa, dù một số được hưởng lợi nhiều hơn các số khác. Thế nhưng kể từ
khoảng năm 1994, nạn thất nghiệp gia tăng và tình trạng bất bình đẳng
trong xã hội nhanh chóng mở rộng, bắt đầu biến vô số công nhân và nông
dân thành những kẻ rốt cuộc là người thua cuộc, thậm chí thua tối đa.
Cuộc chơi cải cách trở thành một cuộc kinh doanh trong đó một bên ăn cả
và một bên thua trắng tay (zero-sum affair), nghĩa là một số người này
thu hoạch trong sự mất mát của những người kia. Ngày nay Trung Quốc là
một xã hội rất bất bình đẳng về kinh tế xã hội hơn bao giờ hết trong
lịch sử của nước CHNDTH, với chỉ số Gini, dùng để so sánh sự bất bình
đẳng trong phân phối lợi tức, ở khoảng 0,43 hôm nay [cuối năm 2002] so
với 0,32 vào hai mươi năm trước, 1980.
Bất bình đẳng tới mức đó thì thành vấn đề; nhà nước Trung Quốc có
thể trả lời vấn đề đó bằng một sự tái phân phối do nó chủ động nhưng
khả năng thu hút tài nguyên yếu ớt đã giới hạn trầm trọng năng lực
khiến nó không thể đóng đúng vai trò của mình. Năm 2000, kết toán chi
tiêu của Trung Quốc cho các chương trình an sinh xã hội là dưới 1,2%
GDP. Chi tiêu công cộng cho giáo dục và chăm sóc y tế tổng cộng chưa
tới 3,5% GDP, một tỉ lệ thấp hơn rất nhiều so với con số tương ứng mà
người ta nhận thấy tại hầu hết các nước khác, kể cả những nước đang
phát triển. Hậu quả là, tại Trung Quốc, bất chấp nền kinh tế đang tăng
trưởng nhanh đem lại thịnh vượng cho nhiều người, các định chuẩn đời
sống bị xuống thấp trong đại bộ phận nhân dân, để lại đằng sau nó một
di sản bao gồm sự nản lòng kỳ vọng, càng ngày càng sa sút sự ủng hộ
những cải cách dựa trên thị trường, bất mãn càng lúc càng trầm trọng,
xung khắc lên cao và làm mãnh liệt thêm các sức ép lên trên nhà nước.
Hầu hết các triệu chứng của sự “thâm thủng năng lực cai trị” được
xác định ở trên thì gần như đã lộ rõ tại vùng nông thôn miền trung và
miền tây Trung Quốc. Tại một số vùng nông thôn các định chế của nhà
nước chỉ đơn giản là ngưng làm việc, và các thị tộc cổ truyền hoặc các
băng đảng tội ác trám vào chỗ trống đó. Trong tình trạng một nhà nước
hiện đại không chịu làm những công tác căn bản nhất đúng với yêu cầu
đặt ra cho nó, người dân ở thôn quê càng ngày càng thấy rằng, hơn bất
cứ cái gì khác, nhà nước chỉ còn là một mối phiền lòng, cần né tránh nó
trong cuộc vật lộn hằng ngày để sống còn.
Một ưu tiên mới
Vì nhà nước hiệu năng là điều kiện tiên quyết để có dân chủ, và
Trung Quốc ngày nay không có một nhà nước như thế, cho nên đối với nó,
hẳn chẳng tỉnh táo chút nào nếu đi theo sự minh triết có tính qui ước
của đợt sóng dân chủ thứ ba và quan niệm rằng muốn theo đuổi dân chủ
thì vấn đề là phải làm suy yếu các định chế nhà nước. Sự khủng hoảng về
cai trị đang gây ra những tổn thương xã hội nghiêm trọng; nếu vẫn để
yên mà không ngăn chặn, nó có thể làm hư hại các viễn tượng của Trung
Quốc trong việc trở thành một chế độ dân chủ đầy lông đủ cánh. Bởi lý
do đó, những nhà cải cách dân chủ nên nỗ lực làm vững mạnh các năng lực
của nhà nước theo một diễn tiến dân chủ hóa, hơn là ra sức kiềm chế
quyền lực của nhà nước.
Có thêm bốn lý do khiến Trung Quốc ôm chặt việc tái thiết nhà nước
như một ưu tiên cao nhất của quốc gia. Thứ nhất, hầu hết người dân
Trung Quốc đều ao ước chính phủ càng ngày càng có năng lực hơn trong
việc thực hiện có hiệu quả các chức năng thiết yếu của nó, vì sự vô
năng lực của nhà nước đang gây tổn thương lớn lao cho tình trạng lành
mạnh kinh tế xã hội. Thứ hai, dân chủ tự nó không có khả năng chữa trị
sự vô năng lực của nhà nước. Cần phải thực hiện những nỗ lực đặc biệt.
Thứ ba, dân chủ — vì nó cho phép sự khả dĩ đua tranh rộng rãi nhất, nên
nói một cách chính xác, nó do đó định chế hóa sự bất định — tích cực
đòi hỏi một nhà nước có tính hiệu năng cao để có thể giữ cho công việc
của quốc gia tiến triển bất chấp những khuynh đảo. Ðối với một xứ sở
như Trung Quốc, những thách thức do sự tự do hóa và dân chủ hóa mang
tới chỉ làm nổi bật thêm nhu cầu ấy. Sau cùng, dân chủ hóa sẽ phóng xã
các sức mạnh có khả năng đặt sức ép lớn lao lên hệ thống chính quyền.
Sự cáo chung của chủ nghĩa toàn trị có thể đưa tới sự tan rã lãnh thổ
dần dần; mức tôn trọng của nhân dân đối với chính quyền có thể tụt
xuống rất thấp; những kỳ vọng càng ngày càng cao có thể vượt quá khả
năng đáp ứng của chính quyền; sự phá sản của đảng cai trị cũ có thể để
lại đằng sau nó một chỗ trống; và các sức ép đòi hỏi một sự đồng dạng
lớn lao hơn (kết quả của quyền công dân được nới rộng) có thể làm phơi
bày và làm trầm trọng thêm những căng thẳng mà trước đây bị đè nén về
miền địa phương, sắc tộc, giai cấp và tôn giáo.
Dĩ nhiên nói như thế không phải có ý rằng sự khủng hoảng về cai trị
đang lập thành chứng cớ để giữ riết lấy cái nhà nước có bàn tay sắt ấy.
Trong khi nhà nước hiệu năng là điều kiện ắt có cho một nền dân chủ ổn
định, nó không chút nào là điều kiện đủ. Chiến lược tốt nhất cho Trung
Quốc là tái xây dựng một nhà nước có tính dân chủ, nghĩa là, làm mạnh
thêm năng lực cai quản thiết yếu của nhà nước trong khi định chế hóa
“sự tham gia của mọi thành phần” và “sự tranh luận công khai”, hai đặc
tính cơ bản của dân chủ mà Robert A. Dahl đã mô tả. Ngày nay tại Trung
Quốc, tình trạng phân cực kinh tế xã hội, đô thị hóa cùng những gia
tăng trong việc xóa nạn mù chữ, giáo dục và sự phơi bày bằng truyền
thông, đang hiệp sức nhau gây nên khát vọng tham gia vào việc lập quyết
định chung. Nếu các nhóm bên trong xã hội không tìm được những kênh có
tính định chế để qua đó họ có thể trình bày những nhu cầu và những quan
tâm của mình thì sự bất mãn đang bị đè nén có thể sẽ bùng nổ thành bạo
động. Ðể xã bớt hơi nén này, trong suốt quá trình chuyển tiếp, nhà nước
phải càng ngày càng hợp tác với các nhóm xã hội đang sở đắc ý thức
chính trị và hướng dẫn sự tham dự của họ bằng những phương cách nuôi
dưỡng sự hội nhập chính trị.
Trong ý nghĩa này, sự tham dự được định chế hóa sẽ lập nên không
chỉ một dụng cụ để làm dịu bớt sự khống chế của nhà nước mà còn một van
an toàn qua đó nhà nước có thể làm giảm thiểu những căng thẳng giữa nhà
nước và xã hội. Về lâu về dài, khi tính chất đa dạng và phức tạp của
các quyền lợi ngày càng ăn khớp nhau hơn thì thời gian sẽ tới cho xứ sở
để thay thế cấu trúc độc quyền của sự câu kết quyền lợi bằng một cấu
trúc có tính cạnh tranh.
Shaoguang Wang (Vương Thiệu-quang, 王 紹 光), giáo sư
môn khoa học chính trị, Ðại học Trung Hoa - Hongkong. Ông là tác giả và
đồng tác giả của trên mười cuốn sách, trong đó có: Failure of Charisma: The Chinese Cultural Revoluttion in Wuhan – Không lôi cuốn nổi quần chúng: Cách mạng Văn hóa tại Vũ Hán (1995); The Political Economy of Uneven Development: The Case of China – Kinh tế chính trị của sự phát triển không đồng bộ: Trường hợp Trung Quốc (1999); và The Chinese Economy in Crisis: State Capacity and Tax Reform (Study on Contemporary China)
– Kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng: Khả năng của nhà nước Trung Quốc
và Cải cách thế má (Nghiên cứu về Trung Quốc đương đại)-(2001); Nationalism, Democracy and National Integration in China – Chủ nghĩa dân tộc, Dân chủ và Hòa nhập dân tộc tại Trung Quốc (2003)
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
[1]Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies
– Trật tự chính trị trong các xã hội đang thay đổi (New Haven: Yale
University Press, 1968), 8. Xem thêm Adam Przeworski và những người khác, Sustainable Democratization – Dân chủ hóa có khả năng duy trì được (Cambridge: Cambridge University Press, 1995), 13; và Juan J. Linz và Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America, and Post-Comminist Europe:
Các vấn đề của chuyển tiếp dân chủ và sự củng cố: Nam Âu, Nam Mỹ và
châu Âu hậu cộng sản (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1996),
17.
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: