LTS.-
“Nhật ký của im lặng” mà tác giả Nguyễn Văn Lục (Talawas) dùng để tả
cuốn “Hồi Ký Không Tên” của cựu Dân Biểu Lý Quí Chung. Cuốn hồi ký này
được ông Lý Quí Chung viết trước khi ông qua đời đã nhận được nhiều ý
kiến trái ngược nhau. Sau đây là ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Lục với
những phân tích và nhận định khá tỉ mỉ. Bài dài có thể đăng nhiều kỳ.
(N.V.)
1. Nỗi vui một nửa - Bọn trí thức bốn tên:
Có
những nỗi vui, cái thích chả cắt nghĩa được. Nhớ lại có một lúc nào đó
xuất hiện các tên Trung-Tr rồi Chung-Ch đồng loạt. Nhất là sau 1963.
Thật khó cùng một lúc có những tên tuổi như thế nổi lên cùng thời. Ðến
nỗi, ông Thiên Hổ, chủ bút báo Xây Dựng đã viết chửi gom cùng một lúc
bốn tên Trung, Chung như sau: Tất nhiên rồi. Những Lý Quí Chung, Nguyễn
Hữu Chung, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung và các anh em có tên Chung
hay Trung cũng như các đứa con chỉ được quen mồm gọi thằng Cu như Thiên
Hổ, nghĩa là đại đa số con dân Việt Nam ở ba miền Trung Nam Bắc, vẫn
muốn là (những người ở giữa) thì câu đó nông a lê ù, mà còn tổ làm cớ
cho Cộng sản nó khai thác. Nhà dân biểu hăng say Lý Quí Chung vì dân
tộc, với dân tộc hẳn đã nghĩ đến điều đó. Dù sao Thiên Hổ cũng xin phép nói trước, sợ đàn anh quá sốt sắng đến thành ngây thơ. Chết cho dân tộc chúng em đấy. [1]
Có
điều cả bốn người họ đều nổi cộm lên, đều viết được. Phải nói họ đều
viết hay mới đúng. Trong hồi ký của Lý Quí Chung cũng đã có lần nhắc
đến cái cụm bốn Trung, Chung rất là lạ, rất là kỳ cục như thế. Trong cả
bốn, Nguyễn Hữu Chung sau này ở cùng chỗ với tôi, lại có viết chung
trên tạp chí Ði Tới. Anh viết ít. Nhưng nhiều lúc anh hạ một con chữ,
tôi đọc thấy cũng đã lắm.
Ðến lúc Lý Quí Chung cho ra cuốn Hồi ký không tên, rồi talawas cho đăng lại, tôi theo dõi mỗi ngày với sự thích thú.
Nay đã đọc xong, xin ghi lại một số cảm nghĩ của mình.
Thể
văn hồi ký tự nó có sắc thái đặc biệt. Ðó là thể văn cho người đã xế
chiều. Viết để nhớ lại và gửi gắm. Ðọc nó, giúp ta hiểu đời sống một
người, đồng thời hiểu một giai đoạn mà tác giả sống, nhất là về phương
diện chính trị, xã hội hay văn học. Nhưng theo tôi, đó là một thể văn
gay go nhất, vì nó đòi hỏi người viết một nguyên tắc khá quyết liệt:
viết thật thà, viết với lòng trung thực, viết không phải để tô son đánh
bóng mình. Hầu hết các cuốn hồi ký từ trong nước đến hải ngoại đều phạm
phải lỗi lầm này, đến không thể kể ra cho hết được. Những hồi ký như
vậy trở thành vô giá trị, cùng lắm đọc chơi, đọc để giải trí.
Riêng
cuốn hồi ký của Lý Quí Chung, tôi nghĩ nó đạt được nửa điều trung thực,
nửa điều thật thà. Nửa kia phải nín thở qua sông. Lỗi không phải ở tác
giả. Bởi vì nó che giấu nhiều thứ. Có những điều cần nói đã không nói
ra. Bắt đầu từ chương: Sau ngày 30.4.1975. Ðến ngót nghét 30 năm mà như
thể không có điều gì để nói.
Tôi
tự hỏi mình, ông viết vào cái lúc sắp sửa bước chân vào cõi bên kia.
Còn gì để ông vướng bận? Còn gì để ông e ngại mà không trải lòng mình
ra? Cái chúc thư mà ông gửi đến người đọc là chúc thư gì? Nội dung nhắn
gửi có đủ chưa, có còn gì để nói nữa? Ðiều gì đã làm ông phải lựa lời,
lách chữ, để ít ra còn được lên tiếng?
Nhưng dù gì đi nữa, tôi cũng vẫn đọc ông với niềm trân trọng, nhất là khi ông viết những dòng trăn trối như thế này:
Tôi
có ý định viết lại phần đời sau 30 tháng Tư 1975 này, thành một tập hồi
ký riêng. Nhưng tôi hoài nghi mình sẽ không còn thời gian đủ để làm
việc đó. Tôi vừa thoát qua cơn bệnh hiểm nghèo, không biết thời gian
tạm ứng tiếp cho tôi sẽ được bao lâu. Phần một của tập Hồi Ký tôi mất
một năm rưỡi để viết. Tôi đã bắt đầu ngay khi vừa phục hồi sức khỏe từ
cuối tháng 12.2002. Khi viết những dòng này, ngày 01.3.2004, tôi được
tin người bạn thân và đồng hành với tôi trước 1975 trong thời gian
chống Mỹ-Thiệu, cựu dân biểu Nguyễn Hữu Chung, đã mất ngày 26 tháng 2
năm 2004.
Có thể thời gian còn lại quá ít để ông không có thì giờ viết nữa?
Nhân
tiện đây xin trích dẫn người bạn thân Nguyễn Hữu Chung của ông. Lối
viết rất Nam Kỳ, rất Nguyễn Hữu Chung, rất trung thực, trong một lá thư
trước khi ông mất:
Anh Hóa,
Bác sĩ cho “moi” 12 tháng, “moi” xài hết 6 tháng rồi. Anh kêu tôi viết, tôi cám ơn anh, nhưng tôi nghĩ mình viết cái gì bây giờ?
Mình viết về một dân tộc mà mình biết có một phân nửa. Mình
viết về một đất nước mà mình biết có phân nửa. Mình viết về thế hệ
tương lai, tính từ 75, đã một thế hệ sanh ra và lớn lên mà cả hai thế
hệ này... nó không biết mình là ai, mà mình cũng không biết nó là ai.
Anh
thấy không, anh kêu tôi viết về tuổi trẻ, về tương lai, về một thế hệ
mà đã hơn một phần tư thế kỷ mình không ở đó, cái điều đó có thể cũng
không sao, nhưng quan trọng hơn, là mình không dự phần, mình không chia
sẻ, thì bây giờ viết cái gì bây giờ. Tôi đi năm 75, ở cái tuổi sung mãn
nhứt của đời người thì... chỉ để kiếm cơm. Bây giờ về hưu rồi, hết rồi “toa” (...)Nhưng anh cứ nói cho tôi biết, tôi phải viết cái gì bây giờ?
Nguyễn Hữu Chung,
Montréal,một ngày tháng Tư 2003
(Trích từ một thư gửi Ðoàn Minh Hóa, chủ nhiệm, chủ bút tạp chí Ði Tới, Montréal, Québec, Canada)
Trích
dẫn cả hai đoạn văn trên để nhớ cả hai người đã một thời tuổi trẻ, đã
có mặt, đã tham dự một phần vào lịch sử miền Nam trong những ngày trước
30.4.75.
Những trí thức trẻ tạo nên thời cuộc
Dựa
theo Hồi ký không tên của Lý Quí Chung, tôi nhớ lại sau 1963 xuất hiện
một loạt những khuôn mặt chính trị non trẻ, không có một tý bề dày kinh
nghiệm chính trị gì cả. Vốn liếng chính trị rất mỏng. Kinh nghiệm sinh
hoạt nghị trường, v.v... cũng không có. Kể như là những tay mơ. Họ là
giới thanh niên trí thức trẻ của cả một thời, đánh dấu một thời kỳ của
ho. Họ là những Ngô Công Ðức, Lý Quí Chung, Nguyễn Hữu Chung, Hồ Ngọc
Nhuận, Phạm Thế Trúc (sau trốn sang Nhật không dám về) Nguyễn Hữu Hiệp,
Hồ Văn Minh, Hồ Ngọc Cứ, Hoàng Ngọc Biên, Dương Văn Ba, Dương Minh
Kính, Nguyễn Văn Châu, Bành Ngọc Quý, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Tấn Mẫm,
Hồ Ngọc Cứ, Nguyễn Văn Binh (đại tá). Dĩ nhiên, phải nhìn nhận rằng, họ
có mặt là do sự hỗ trợ đằng sau của Công giáo hay Phật giáo, hoặc do
nhãn hiệu Nam, Bắc hay Trung. Thời cuộc thay đổi, tình hình chính trị
thay đổi. Họ thay thế các khuôn mặt chính trị lớp cũ, nhiều khuôn mặt
quá quen thuộc tỏ ra lỗi thời. Họ thiếu kinh nghiệm nhưng xông xáo, học
bài rất nhanh. Cộng thêm họ có lý tưởng, có một tấm lòng. Nhiều người
trong số họ - với kinh nghiệm thu tập trong nghị trường, trong mặt trận
báo chí, trong các phong trào phản chiến - đứng giữa hay thành phần thứ
ba. Chẳng mấy chốc, họ trở thành những khuôn mặt chính trị đại diện
giới trí thức trẻ khuynh tả của miền Nam lúc bấy giờ.
Ðại
diện trong đám họ, tiêu biểu có thể là mẫu người như Lý Quí Chung, vừa
là nhà báo như các người trẻ khác như Trương Lộc, Trần Trọng Thức,
Nguyễn Vạn Hồng, Nguyễn Bá Thành, vừa là nhà chính trị như một số dân
biểu vừa nêu trên.
Ông là mẫu người lý tưởng, hăng say, dấn thân nhập cuộc.
Những
điều mà ông Lý Quí Chung viết về giai đoạn ấy khá trung thực. Trung
thực khi viết về chính bản thân mình như học dở dang, chưa ra ông ra
thằng, vào đời vỏn vẹn có mảnh bằng Tú tài 1, chương trình Pháp; tay
nghề làm báo kể là số không, lăn vào chính trị như một tình cờ, một dun
dủi; đi từ trí thức khuynh tả nhảy sang đứng giữa rồi thành phần thứ ba.
Nhưng
qua những điều ông kể, đánh giá người này, người kia, đánh giá sự việc,
đánh giá một tình huống, phải nhận ông là người có tài, người có một
tấm lòng, người thẳng thắn, tạo cho mình một bản lãnh, một thế đứng
chính trị, phản ứng ăn nhịp với xu hướng chính trị, thời cuộc. Ðó là
trí thức khuynh tả, thành phần thứ ba.
Chập chững vào nghề: hứa hẹn vóc dáng một tên tuổi
Tôi
còn nhớ vào những ngày trước biến cố Phật giáo 1963, một số tờ báo vẫn
có thói quen ca tụng chế độ Ngô Ðình Diệm. Tờ Sài Gòn Mới là một trong
số những tờ đó. Nhưng khi ông Diệm, ông Nhu bị thảm sát xong, diện mạo,
cung cách, giọng điệu một số tờ báo đã khác. Họ đổi chiều, trở giọng
nhanh như chớp đến đáng khinh. Vô số những bài phóng sự mới ra lò bôi
nhọ chế độ ông Diệm. Không ai cấm họ làm như thế với điều kiện trước
đây họ đừng có khen hay nịnh bợ. Khinh họ là ở chỗ đó. Chỉ trong một
đêm, giọng điệu đang rỉ rả ca tụng thành chửi bới, bôi nhọ. Tôi cảm
thấy ngầy ngật về nhân cách của một số tờ báo thời đó.
Vì
thế, khi đọc hồi ký của Lý Quí Chung, chương Chập chững vào nghề báo,
tôi nghĩ rằng ông là nhà báo trẻ và duy nhất không nói và về hùa theo
đám đông. Bài báo viết về vụ ông Cẩn của ông có cách nhìn riêng, khá
nhân bản và can đảm. Có lẽ điều đó nói lên nhân cách của Lý Quí Chung
sau này.
Lý
Quí Chung vượt trên cái nhãn thức bình thường của các ký giả viết chạy
theo thời cuộc, viết a dua, viết chạy theo đám đông, viết bôi bác lem
nhem, nhãn thức thiển cận hẹp hòi không có trình độ, thiếu một cái nhìn
sắc bén về cá tính ông Ngô Ðình Cẩn. Lý Quí Chung biết nhận ra ở ông
Ngô Ðình Cẩn lúc ra tòa, lúc ở cái thế kẻ thua cuộc, vẫn tỏ cho thấy
một con người có bản lãnh, có cá tính, có uy lực, coi thường những kẻ
đang xử án mình và coi khinh những nhân chứng trước đây ra vào nhà ông
quỵ lụy. Từ tư thế một tội nhân, bị xử án, ông Cẩn ở tư thế một người
biết chấp nhận thua được một cách bình thản. Khó chứ không phải dễ.
Lý
Quí Chung viết: Tôi vẫn nhớ thái độ ông Cẩn trước tòa án rất ngạo mạn,
ông chẳng quan tâm gì đến diễn tiến phiên tòa. Chẳng chú ý tới các lời
buộc tội ông. Ông mặc bộ đồ bà ba lụa mầu trắng, mắt nhắm nghiền như
ngủ qua suốt các phiên xử. Nhiều lúc còn có cử chỉ tỏ vẻ khinh khi các
tướng tá đang ngồi xử mình... Và lúc bị đưa ra hành quyết, Lý Quí Chung
viết: Ông bị trói chặt vào cột hành quyết và lúc sắp sửa bị bịt mắt
bằng vải đen thì ông ta phản ứng. Ông nhất định không để bị bịt mắt,
muốn được nhìn tận mắt cuộc hành quyết mình. Nhưng người thi hành án
giải thích với ông rằng luật lệ không được phép cho họ làm khác. Người
ta vẫn bịt mắt ông và một loạt súng kết liễu mạng sống của người thứ ba
và là em út trong dòng họ Ngô từ sau cuộc đảo chính 1.11.63. Bài tường
thuật của tôi nhấn mạnh hai điểm: ông Cẩn không sợ cái chết và tỏ vẻ
khinh khi những người xử ông tại tòa. [2]
Bài
viết này làm nên vóc dáng Lý Quí Chung sau này trong nghề làm báo và
chính trị, khởi đầu một cuộc hành trình trí thức trẻ, dấn thân và nhập
cuộc. Ðó là bài báo như bước chân khổng lồ vào đời, xác định được thế
đứng, góc nhìn và vóc dáng của một nhà báo trẻ. Bài báo đó báo hiệu
tương lai một người tuổi trẻ lý tưởng và hăng say, can đảm và trung
thực.
Vào
lúc đó, ngoài Lý Quí Chung, còn có tờ Tiếng Nói Dân Tộc, số kỷ niệm
ngày 1.1.63 có ghi lại cảm tưởng như sau: Vô cùng kinh ngạc vế thái độ
dửng dưng và thật trầm tĩnh của con người được mệnh danh là Út Trầu,
lúc mà Cẩn biết bị bác đơn ân xá.
Khoảng
gần 30 năm sau, trong Nghề hay Nghiệp, hồi ký về vụ án này đăng trên tờ
Thế giới Ngày nay ở Kansas, Hoa Kỳ, năm 1992, Luật sư Võ Văn Quan viết:
Ông Cẩn im lặng nghe đọc bản án bác đơn xin ân xá. Quá cảm động, tôi
chỉ biết nói câu an ủi tầm thường: “Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn.
Trên cõi đời này sớm muộn gì rồi cũng phải ra đi.” Ông nhìn tôi điềm
tĩnh nói: “Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của
tôi. Tôi trở về cõi Chúa. Tôi không sợ chết đâu, nhưng tôi lo cho luật
sư. Luật sư đụng chạm tới họ không biết luật sư ở lại có bi họ làm khó
dễ hay không..” Tôi ứa nước mắt nói không sao đâu, ông cố vấn đừng lo
cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa”. Người lính đem
khăn vải đen bịt mặt ông. Tới lúc đó, ông không còn giữ im lặng lắc đầu
nói lớn, tôi không chịu bịt mắt đâu, tôi không sợ chết, nhưng người ta
vẫn buộc. Bị bịt mắt, ông Cẩn vẫn lên tiếng phản đối vùng vẫy cái đầu.
Một tiếng hô, một loạt súng nổ. Ðạn bắn mạnh vào làm cho thân hình
người tử tội bật ngược lên, giãy nảy rồi rũ xuống như một người máy bị
đứt dây thiều. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết bước tới cọc, lạnh
lùng bắn phát đạn ân huệ. Ðầu ông Cẩn giãy lên rồi gục xuống. Hoàng hôn
chụp xuống ảm đạm tang tóc”.
Ông
kết luận: Tối hôm xử bắn, tôi đã uống thuốc để cố gắng tìm giấc ngủ,
vẫn trằn trọc thao thức suốt đêm vì bao hình ảnh vụ án cứ dồn dập quay
cuồng trong tâm trí, và ông nhận ra tình cảm của ông đối với bị cáo đã
thay đổi: lúc đầu ác cảm phẫn nộ, nay khâm phục và thương tâm.
Con đường làm chính trị thông qua cửa ngõ nhà thờ hoặc nhà chùa
Hồi
ký không tên giúp tôi tìm lại quá khứ của những sinh hoạt chính trị sau
năm 1963. Tôi còn nhớ đến ngạc nhiên là tự mọi nơi chốn, những người
trẻ quen cũng như không quen, như một lớp sóng trào nhảy vào chính trị
rất là ngang xương, rất là “blanc bec”. Nguyễn Hữu Hiệp, dáng thư sinh
học trò, con cháu của Molière và học trò của Aristote, Platon đã dùng
cú đá song chảo đá văng những nhà chính trị lão thành tăm tiếng như bác
sĩ Hoàng Cơ Bình. Châu ở Ðà Lạt cũng vậy. Dưới tỉnh, những Bành Ngọc
Quý, Dương Văn Ba đã có lá bài “Miền Nam” hay “Liên Trường”. Những Ngô
Công Ðức, Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Văn Binh, Lý Quí Chung, Dương Minh Kính
thì đúng ra mỗi người có những lá bài “tẩy”, những lá dù che của thời
kỳ đó.
Họ
muốn lọt vào sinh hoạt chính trị, không có con đường nào khác qua cổng
chùa hay cổng nhà thờ. Một điều bắt buộc, không làm khác được. Cha Cố,
sư sãi có giá. Ðiều đó chứng tỏ một chính quyền, một chế độ non nớt. Uy
quyền quốc gia không có. Tôn giáo, thần quyền dính vào thế quyền, chia
xẻ quyền lực rất tay ngang và không bình thường. Cổng chùa, cổng nhà
thờ nay ra vào không phải là những Phật tử hay con chiên ngoan đạo nữa.
Thay vào đó là những nhà chính trị, trẻ có, già có, đi tìm một tấm giấy
thông hành chính trị. Không ai có thể ra vào Hạ viện, Thượng viện mà
thiếu một tấm giấy thông hành. Hạ viện thì đám người trẻ như tác giả Lý
Quí Chung, rất năng động, rất xôm trò. Hoặc như các dân biểu Ðinh Văn
Ðệ, Nguyễn Phúc Liên Bào, Phan Xuân Huy, Ðinh Xuân Dũng, Kiều Mộng Thu,
Trần Ngọc Châu trong vai trò dân biểu đối lập. Hoặc có những người ít
xuất hiện công khai như Dương Văn Tòng, Trương Lộc, Hoàng Ngọc Biên,
v.v... Hoặc trong bóng tối với tư cách người Cộng sản như Trương Bá Cần
(hay Trần Bá Cường), Vương Ðình Bích, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ.
Bốn người này đều có thẻ đảng và nắm tờ Công giáo và Dân tộc từ sau 75
cho đến hiện nay.
Thượng
viện thì thầm lặng hơn với đám sồn sồn. Họ bỏ nhà thương, bỏ tòa án, bỏ
quân ngũ, bỏ trường học để ra ứng cử và xếp hàng dưới hai nhãn hiệu:
Liên danh của Công giáo hay Phật giáo. Chỉ cần người đứng đầu có tên
tuổi như Trần Văn Lắm, Vũ Văn Mẫu, Dương Văn Minh v.v... gắn thêm cái
mác tôn giáo. Thế là xong. Ngay cả những liên danh quân đội của các
tướng như Trần Văn Ðôn, Tôn Thất Ðính thì cũng không thoát nổi cái dù
che của Cha cố, Sư sãi. Chín người còn lại đều có nghề nghiệp chuyên
môn, có tuổi, có tên, nhưng mà chưa có tên tuổi. Họ là những nhà chính
trị giả hiệu, thiếu tay nghề, thiếu kinh nghiệm nghị trường. Những nghị
gật.
Và
đây là lời xác nhận của ông Lý Quí Chung về điểm này: Trong khi chuẩn
bị cuộc vận động cho liên danh Dương Văn Minh với tư cách đại diện báo
chí cho liên danh này, tôi đã tiếp cận với Phật giáo Ấn Quang tìm sự
ủng hộ của lực lượng Phật giáo có hậu thuẫn quần chúng lớn nhất. Hình
như dân biểu đơn vị Huế là Trần Ngọc Giao cũng có giới thiệu tôi với
Thượng tọa Trí Quang lúc này đang ở chùa Ấn Quang
Dân
Biểu Lý Quí Chung nhận xét tiếp: Lần đầu tôi gặp “Người làm rung chuyển
nước Mỹ”, Báo Newsweek đã gọi Thượng tọa Trí Quang như thế. Khi đã tiếp
xúc thì con người ấy đã toát lên một thứ thần sắc khác thường. Ánh mắt
như sao băng, chiếu thẳng vào người đối thoại như nhìn thấu những suy
nghĩ của họ. Tôi nhớ mãi ấn tượng đầu tiên ấy khi lần đầu gặp nhà tu
hành nổi danh.
Khi
ra Huế, Dân Biểu Lý Quí Chung đưa ra một nhận xét khá đặc biệt khi gặp
Ðức Tăng Thống: Trong chùa Bảo Quốc chỉ treo một bức ảnh chân dung duy
nhất trên tường. Ðó là chân dung Thượng tọa Trí Quang. Như thế đủ thấy
ảnh hưởng của thầy Trí Quang với người lãnh đạo tinh thần cao nhất Giáo
hội Phật giáo là như thế nào.
Nay
thì quyền lực thế trần nắm trong tay các vị lãnh đạo tôn giáo, thay cho
quyền lực siêu nhiên. Hay có thể là cả hai, mà tự bản chất của các tôn
giáo, hai quyền lực đó không thể dung hợp nhau được. Hoặc có cái này
thì không có cái kia, có loại trừ, không làm một tôi hai chúa được. Ðó
cũng là lựa chọn đau xót mà mỗi người tu hành bước qua ngưỡng của tôn
giáo phải tuân thủ. Bước đầu của việc tu trì là rũ áo, bỏ đời mà đi
trong tấm lòng thanh thản, không còn nuối tiếc trần thế nữa.
Cho
nên, đừng ai nói hay. Tôn giáo mà đi đôi với thế quyền, cộng thêm tiền
bạc thì khó tránh khỏi nguy cơ của sự sa đọa. Sa đọa quyền lực. Chúa,
Phật chỉ có nước bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà đi lang thang.
Một hồi ký đọc lý thú, viết đầy đủ người và sự việc
Tôi
cũng nhận ra rằng, trong cuốn Hồi ký không tên, phần viết về những năm
hoạt động báo chí và làm dân biểu, Lý Quí Chung viết rất thong dong,
thoải mái, rạch ròi từng sự việc, từng người, phê phán thẳng thắn theo
cái kiểu “Có sao nói dzậy”. Từng nhà báo, từng tờ báo, từng nhân vật
như ông Thiệu, ông Kỳ. Nêu bật được cá tính, cái hay lẫn cái dở của họ.
Về những hoạt động chính trị của ông với tư cách một dân biểu đối lập,
về các đồng sự, về các cuộc chống đối biểu tình.
Ông
không ngại nói hết, kể hết, cho thấy vai trò của ông trong các biến
động ấy. Ðấy là những trang hồi ký đọc lý thú, ít lắm cũng có thêm
những chi tiết mà phải là người trong cuộc mới biết được. Chẳng hạn như
ở chương 25, Thời khắc Lịch sử: Ðầu hàng, ông đã tận dụng ngòi bút để
nhấn mạnh vai trò nhân chứng của mình, từng chi tiết nhỏ một. Dù là
nhân chứng một vụ việc rất là nhỏ, chẳng đáng nói. Chẳng hạn chi tiết
hướng dẫn một người lên sân thượng để treo lá cờ Giải phóng, thay lá cờ
Quốc gia.
Chi
tiết lá cờ Giải Phóng, nửa xanh nửa đỏ treo lên ở Dinh Ðộc Lập khá quan
trọng và mang nhiều ý nghĩa. Những ngày sau 30-4, Sài Gòn rợp bóng cờ
màu xanh. Phố phường, nhà nhà màu xanh, màu đỏ. Xe cộ chạy rần rật trên
đường phố phất phới màu xanh. Trẻ con cầm lá cờ đi phất phới khắp nơi.
Cũng màu xanh và đỏ. Cũng lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam. Vậy
mà, chẳng bao lâu sau, trong vài tuần lễ, không kèn không trống, những
lá cờ màu xanh và đỏ đó biến đâu mất. Vậy là, miền Nam có hai lần giải
phóng cờ: 30-4, giải phóng cờ Quốc Gia, cờ màu vàng ba sọc đỏ. Sau một
tháng, giải phóng cờ một lần nữa. Lá cờ màu xanh đỏ thay thế bằng lá cờ
đỏ sao vàng. Cùng với sự biến mất lá cờ màu xanh, cũng dần biến mất
những nhân vật đã từng nhân danh chiến đấu dưới nhãn hiệu lá cờ xanh,
đỏ đó.
Cũng
qua cuốn hồi ký, mặc dầu chỉ trong vài dòng, ông cũng lột mặt nạ một số
trí thức theo đuôi, không khỏi có những nhố nhăng chướng mắt mọi người.
Ta hãy nghe ông kể: Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài
Gòn trên chiếc xe Jeep của bộ đội. Còn tôi đi theo trên một chiếc xe
jeep khác của các nhà báo Ðức. Khi tôi
đến đài phát thanh thì hai ông Minh và Mẫu đã vào bên trong. Tôi vừa
bước vào sân thì anh Nguyễn Hữu Thái và một hai thanh niên khác đứng ở
cổng nói với tôi: “Anh về đi, khi nào có bộ phận chính trị vào sẽ liên
lạc lại.” Lúc này thật khó biết ai là ai, ai có đủ thẩm quyền
quyết định chuyện này chuyện nọ. Ai cứ bảo là Lý Quí Chung ra đòn không
thâm?
Cũng
qua cuốn hồi ký, tôi nhận ra một điều là trí thức miền Nam như những Lý
Quí Chung chủ trương chống Mỹ và chống Thiệu. Chống Thiệu thì rõ ràng
rồi, không có gì để phải nói. Chống Mỹ thì có hai mặt: chống đường lối,
chính sách của Mỹ chung chung, nhưng mặt khác lại giao du khá thân mật
với các ký giả và chính trị gia Mỹ, coi họ như những người bạn tâm
giao, nếu không nói là hãnh diện về những mối liên lạc này. Trong suốt
hồi ký, tác giả đã không quên nhắc đến người này, người kia trong sự
trân trọng và quý mến. Họ như thể nằm trong cái vốn chính trị của tác
giả như một thành quả trong những năm hoạt động chính trị của mình.
Chống Mỹ mà vẫn yêu Mỹ, tin Mỹ, mà vẫn chơi với người Mỹ... Không có
chỗ nào cho thấy trực diện chống Mỹ, nếu không nói là để cho Mỹ giật
dây.
Nó
có một cái gì đấy cho thấy việc chống Mỹ chưa đủ căn cơ, mức độ. Nhiều
lúc tự hỏi, ông đã viết được một bài báo hay một cái gì đó tương tự
trong đường lối chống Mỹ? Chống cái gì? Chống chung chung? Từ đó dẫn
đưa đến những ngờ vực.
Ông
để ra hai chương nói về những ngày cuối cùng của Tổng thống Thiệu và
cuộc “trốn chạy” của Nguyễn Văn Thiệu. Có những điều thật sự không phải
là hồi ký của chính ông kể lại hoặc do nghe được, chứng kiến. Có nhiều
đoạn, ông trích dẫn lại hồi ký của Nguyễn Cao Kỳ hoặc trích dẫn
Christian G. Appy trong The Vietnam War Rememberd From All Sides hay
của Frank Snepp trong Interval Decent (đã được dịch ra tiếng Việt), hay
của Henry Kissinger trong Ending The War, hoặc của Tiziano Terzani
trong Three Days and Three Months. Những trích dẫn nhiều như thế làm
mất cái đặc sắc trong vai trò nhân chứng của ông.
Nhưng
nói chung, nếu nhìn toàn diện những chương viết về giai đoạn trước
30.4, cuốn hồi ký của tác giả ít ra đã nêu bật được những điểm quan
trọng sau đây:
. Vai trò của trí thức trẻ miền Nam Việt Nam.
. Bộ mặt thật của sinh hoạt chính trị miền Nam dưới thời Ðệ nhị Cộng hòa.
. Vai trò chủ động không chối cãi được của người Mỹ trong những yếu tố quyết định số phận miền Nam.
. Tính cách con rối của toàn bộ sinh hoạt chính trị ấy.
2. Một nửa buồn:
Nửa phần bài viết này sẽ được trình bày về chương Sau ngày 30.4 và chương Phụ lục.
Cuộc
đời làm báo, làm chính trị của tác giả chia ra hai giai đoạn. Dứt khoát
và rõ rệt. Giai đoạn 13 năm trước 30 tháng Tư mới đúng là con người Lý
Quí Chung. Một thanh niên lý tưởng, hăng say, dám nói, dám làm, dấn
thân, nhập cuộc. Không ai chối cãi điều đó. Rất trân trọng. Nhưng gần
30 năm sau ngày 30 tháng Tư, tác giả dù cố gắng cũng không viết nổi,
vỏn vẹn chưa tới 20 chục trang. Với lời thú nhận thận trọng lúc này là
cần thiết, đó không phải là Lý Quí Chung. Ðó là ai khác. Ðúng như tác
giả viết: Nói cách nào đó, tôi có hai cuộc đời. Trước và sau năm 1975.
Chỉ không quyện vào nhau như tác giả nghĩ.
Trước
hết, hãy nói về những gì Lý Quí Chung viết về giai đoạn sau ngày 30.4.
Nói chung, đó là những lời lẽ khá tâng bốc, quá nhún nhường, quá bài
bản đến không thật, như:
Thật
là mãn nguyện khi được tham gia Hội nghị Hiệp thương Thống nhất... sự
kiện đó có một ý nghĩ lớn... có mặt trong một hội nghị như thế là một
sự thỏa mãn tinh thần cực kỳ lớn... tôi vô cùng thỏa nguyện được sống
trọn vẹn với nghề này.. và tôi không thể
tưởng tượng được ở đó tôi còn cơ hội gặp lại lần lượt tất cả những nhân
vật huyền thoại mà tôi cứ ngỡ rằng đã thuộc về lịch văn học xa xôi, chỉ
tồn tại trong sách vở như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận...
Cái nghèo, cái cực khổ của Hà Nội mà tôi chạm mặt lần đầu không hề gây
sự thất vọng cho tôi, mà trái lại là sự cảm phục. Những ngày làm báo từ
Tin Sáng 75-80 sang Tuổi Trẻ 80-90, tôi vẫn không một ngày nào thiếu
hăng hái hay mất niềm tin... đồng lương thì chỉ đủ ăn sáng, nhưng cống
hiến thì vẫn hết mình. Vợ con tôi chịu đựng cũng rất giỏi, nhung bán
mãi rồi cũng không còn gì để bán nữa... nay chỉ còn cái đàn piano, niềm
vui sau cùng của các con tôi cũng không thể giữ nổi... để lo cuộc sống
hằng ngày, chúng tôi đành phải bán nó đi. Tại tòa báo vào thời điểm đó,
tôi tuyên truyền cho các cuộc cải tạo tư sản mại bản, công thương
nghiệp tư sản, tư doanh... vậy mà chính nhà ba của ông bị đóng chốt để
cuối cùng ông cụ bị lên huyết áp và đột quỵ, cụ gặp đứa con đã giận dữ
nói: “Tao không muốn gặp mày nữa. Gia đình mày đã ra thế này, cha mày
đã ra thế này, mà mày còn viết báo cho Cộng sản. Cha mày từ mày”. Còn
các em trai của tôi thì không tin vào người anh trai của mình nữa. Chỉ
làm thinh để chuẩn bị vượt biên. Như vậy, cùng một lúc, tôi “mất” bảy
đứa em.
Không
phải là một đảng viên Cộng sản nhưng tôi tin vào những lý tưởng xã hội
tốt đẹp cho bất cứ xã hội nào muốn tiến lên công bằng xã hội và nhân
bản hơn. Tôi vẫn giữ niềm tin đó ngay cả sau khi chế độ Cộng sản ở Liên
Xô và Ðông Âu bị sụp đổ... nhìn đất nước nối liền từ Nam chí Bắc hiện
nay, đến bây giờ, tôi vẫn tưởng nằm mơ... Hà Nội bây giờ như một thiếu
nữ đẹp, duyên dáng và tràn đầy sức sống. Và
Sài Gòn mạnh mẽ hơn nhiều và tự tin hơn nhiều trong cuộc hành trình
mới, bởi sự tồn tại của thành phố này không còn nhờ vào sự “tiếp máu”
của người khác.
Ðọc
những dòng chữ trên của ông, tôi cũng tưởng mình đang nằm mơ tự hỏi có
phải đó là Lý Quí Chung hay không? Dù sao, cũng rất may, ở vào thời
điểm đó, các trí thức miền Nam gặp được một người như ông Võ Văn Kiệt.
Ông là cái dù che chắn cho trí thức miền Nam khỏi phải bị dập vùi thê
thảm. Không có ông, số phận nhiều trí thức trẻ miền Nam đã không được
như ngày nay. Họ sẽ phải đi học tập, tệ nữa là bị kiểm soát, canh chừng
hoặc tù đầy, bắt cóc, hành hạ, tra hỏi, trục xuất khỏi nhà.
Vì thế, không thể không nhắc tới tấm lòng ưu ái của ông Võ Văn Kiệt đối với trí thức miền Nam.
Về tờ Tin Sáng
Ðây
là một niềm hãnh diện của ông và một số bạn bè của ông. Le Tin Sáng est
le seul journal non communisme dans une société communiste. [3] (Tờ Tin
Sáng là tờ báo duy nhất không Cộng sản trong một xã hôi Cộng sản). Từ
đó ông hết lời tán dương: Comme la plupart de mes amis ici, J'ai vécu
l'experience des deux régimes de presse. Tu connais le mot de Ðuc,
notre directeur: auparavent, nous étions des bucherons, aujourd'hui,
des menuisiers. Le comportement est radicalement différenr. C'est dans
la construction que nous nous sommes lancés. Aujourd'hui, je me sens
beaucoup plus utile pour la société Vietnamienne, pour mon peuple, plus
lié à la vie de la nation, plus responsable, oui, c'est le mot (Sđd).
Câu
nói trên cho thấy ông phủ nhận toàn bộ gia tài làm báo, làm chính trị
dưới thời Ðệ nhất Cộng hòa của chính ông. Ông còn cho rằng trước đây
cùng lắm ông làm thợ bửa củi. Ði biểu tình, tranh đấu trước diễn đàn
Quốc hội, họp báo, tiếp xúc, diễn thuyết, phân phát truyền đơn, chống
luật báo chí, chống tham nhũng, chống đối bầu cử độc diễn, chống độc
tài, chống dân biểu gia nô, nghị gật, chống Nguyễn Văn Thiệu, chống Mỹ,
nằm trong lực lượng thứ ba đòi hỏi chấm dứt chiến tranh. Tất cả công
việc vừa nêu trên chỉ là đáng được coi là công việc bửa củi thôi sao?
Bẽ bàng thế? Có thể phủ nhận chính mình, tự hạ thành con giun, con dế?
Bây giờ làm thợ nề, thợ nề để tán tụng, để cúi đầu, để vâng phục. Thử
hỏi ông đã làm được gì trong suốt 30 năm làm thợ nề? Kể là đau xót. Có
ai bắt ông phải hạ mình nói như thế đâu?
Viết
như thế, tôi không hề có ý chê trách ông, vì một lẽ dễ hiểu, ông đang
sống trong một xã hội toàn trị, với khủng bố và đe dọa tinh thần. Ðúng
như ông vẫn nói, cái ung thư bướu là người của chế độ cũ luôn luôn vẫn
còn đó, ám ảnh và gây phiền hà cho ông. Chả lúc nào ông được yên.
Cho
đến năm, 1980, lúc mà tờ báo sắp đóng cửa theo ba nguyên tắc đề ra ở
thời kỳ đó: để cho làm, phạm sai lầm thì đóng cửa, dùng cho đến khi nào
thấy không cần thiết thì vứt kiểu vắt chanh bỏ vỏ. Ba nguyên tắc tạo
một tương quan, tin tưởng tốt vào nhau.
Rõ
ràng việc đóng cửa là dựa vào nguyên tắc thứ hai. Ðã không có quý ông
nào dám lên tiếng. Trong khi đó, tôi đọc được như sau: Cinq années se
sont passés. Le Tin Sáng de Ngô Công Ðức et de ses amis parait
toujours. Le test est il positif? (Sđd). Hỏi là trả lời. Cái test cho
thấy một thất bại ê chề của trí thức cũ làm việc dưới chế độ mới. Chả
nhẽ nói bị lừa, bị bội phản. Dù sao, 5 năm cũng là thời gian khá dài so
với tờ Ðứng Dậy của Nguyễn Ngọc Lan. Số phận nó chỉ thoi thóp chưa tới
một năm. Sau 5 năm, tất cả trí thức cũ chỉ còn là những quả chanh chắt
đã vắt vỏ. Quả chanh Ngô Công Ðức, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Tấn Mẫm (sau
Huỳnh Tấn Mẫm bị quản chế cùng với những người như Nguyễn Hộ, Tạ Bá
Tòng, vì cái tội đã tiếp xúc với báo chí ngoại quốc, hay phê bình và
đòi hỏi cải tổ nhanh guồng máy kinh tế và chính trị. Những vụ quản chế
này không được loan báo công khai và nơi quản chế cũng vậy [4]). Quả
cóc Nguyễn Hữu Thái. Quả bưởi Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín. Quả đu đủ Lý
Chánh Trung. Quả dừa Huỳnh Công Minh, Trương Ðình Hòe, Phan Khắc Từ.
Quả ổi Dương Văn Ba.
Các
ông chẳng còn gì để vắt nữa. Rồi cuối cùng phải nhìn nhận như Ngô Công
Ðức thôi: Nous avons surmontés les difficultés, mais non sang certains
dégats. Quelque-uns, parmi nous, sont partis à mi chemin, d'autres ont
vacillé. Và đây cũng là yếu tố góp thành vào sự đóng cửa tờ Tin Sáng,
vì có nhiều người trong đám trí thức thành phần thứ ba thất vọng, chao
đảo hay bỏ ra đi.
Nhưng
vì lý do gì nó phải ngừng bản và chuyển một số bộ phận sang tờ Tuổi
Trẻ? Ông đã cố giấu kín. Ông đã viết một cách úp mở như sau: Với các
anh em trong Tin Sáng cũng có nhiều quan điểm, thái độ khác nhau đối
với hướng đi và cách quản lý tờ báo. Tại sao ông không dám nói thẳng ra
là có sự bất đồng quan điểm về hướng đi tờ báo kể từ khi có biến cố
Ðông Âu cũng nhu sự sụp đổ bức tường Bá Linh?
Về lá thư Lettre aux amis d'occident
Trong
lá thư này, có hai điểm gửi cho giới trí thức Âu châu mà tôi không đồng
ý, đó là việc học tập cải tạo và vấn đề thuyền nhân.
. Về các trại học tập:
Các
ông phủ nhận đó không phải là nhà tù, không phải trại tập trung thì nó
là gì? Là trung tâm cải tạo? Người đi tù cải tạo không phải người tù
chính trị, cũng không phải kẻ bị khổ sai (Forcats). Ðó chỉ là những lý
lẽ tiểu xảo rẻ tiền, chơi chữ. Thực tế họ là những người tù khổ sai,
không có ngày về. Nhiều người đã chết vì bệnh tật, đói ăn ở đó. Các ông
biết rất rõ. Không nên nhắm mắt bênh vực chế độ để bằng cách cúi mặt
nói láo giùm chế độ.
. Về người di tản:
Các
ông cũng không nên đổ cho chế độ cũ, đổ cho sự tuyên truyền của Mỹ, đổ
cho chính sách người Hoa của Trung Quốc. En fin, comme il a été dit
plus haut, ce sont les dirigeants de Pékin qui ont provoqué l'exode
massif des résidents Chinois pour pouvoir nous accuser ensuite de
'terroriser et de chasser les Hoa', justifie ainsi leur polique
inamicale (cessation de L!aide économique) puis ouvertement agressive à
l'égard du Viet Nam (Sđd).
Ðây
là một điều nói dối đến trơ trẽn. Tất cả những người Việt Nam vượt biển
(chánh thức và bán chánh thức) đều biết rõ là phải đóng tiền cho chính
quyền địa phương để được phép rời Việt Nam.
Về 13 trang Phụ lục
Về
chương Phụ lục, thật ra phải cám ơn talawas. Ðối với tôi, đây là chương
quan trọng nhất. Tôi dành phần còn lại của bài để nói về chương này và
để thấy rằng có nhiều điều Lý Quí Chung đã không dám nói thật, nói hết,
nói đủ.
Phụ
lục là 13 trang bị cắt ra khỏi bản thảo. Chẳng khác khối ung thư của Lý
Quí Chung được Ðảng Cộng sản cắt giùm. Nó nói lên nhiều điều lắm. Ta
muốn biết sự thật thì phải tìm đọc từng dòng của những điều bị cắt bỏ,
những điều non-dits. Ðọc 13 trang này, ta mới hiểu thấu được chế độ và
thương xót cho những người như Lý Quí Chung.
. Trước hết, phần lời giới thiệu của nhà xuất đã bị sửa, bị cắt kể như toàn bộ, trong đó có đoạn khá ý nghĩa sau đây:
Ngày
toàn thắng của năm 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử: thần
tốc-táo bạo-bất ngờ-chắc thắng, qua 55 ngày đêm chiến đấu (từ 9.3 đến
30.4.1975), quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân
đội ngụy, đập tan bộ máy chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ... Là hồi
ký cá nhân, không phải một biên niên sử, tất nhiên, nên không tránh
khỏi cách nhìn, cách phân tích chủ quan...
Phần
mở đầu cuốn sách cho thấy họ vẫn huênh hoang đến nhàm chán, không biết
ngượng. Vẫn giọng điệu mạ lỵ miền Nam Việt Nam. Rồi cũng bài bản chê
nhẹ tác giả không khỏi cách nhìn chủ quan. Cũng vì phần giới thiệu quá
huênh hoang trống rỗng, họ đã viết lại cho chừng mực hơn.
Bản
lời giới thiệu mới bớt huênh hoang, nhưng vẫn cái bệnh phải dạy đời một
tý: Hồi ký là một góc nhìn... đánh giá mang tính chủ quan cũng là điều
có thế chấp nhận. Xét cho cùng cũng là việc mà người đọc nên “rộng rãi”
khi đọc.
. Phần lời giới thiệu của Trần Bạch Ðằng bị cắt bỏ vì nói sai:
Cách mạng Việt Nam đa dạng. Góp
phần vào bức tranh đa dạng ấy những đường nét riêng... Làm gì có đa
dạng được, chỉ có một đường lối cách mạng thôi, vì thế, cũng cắt kiểm
duyệt phần nói về các hồi ký của Dương Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận.
. Chương 14:
Ðã
bị cắt khá nhiều, khá dài về việc trích dẫn hồi ký của Hồ Ngọc Nhuận và
bà Ngô Bá Thành. Vấn đề tìm hiểu xem các nhân vật đó có còn có trong
mắt đảng hay không?
. Chương 17:
Lý
Quí Chung nhắc tới thành phần thứ ba, hay lực lượng thứ ba. Thế là phạm
giới, phạm quy rồi. Ðối với nhà nước Cộng sản, chỉ có lực lượng của
phong trào đô thị là lực lượng nòng cốt trong sự sụp đổ của nền Ðệ nhị
Cộng hòa. Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng mắc phải sai lầm này khi đề
cao và đánh giá lực lượng thứ ba trong vai trò dứt điểm miền Nam. Ông
Nguyễn Khoa Ðiềm đã kiểm duyệt và cắt bỏ những lời tuyên bố của cựu Thủ
tướng Võ Văn Kiệt. Ðề cao vai trò của thành phần thứ ba là đặt lại vai
trò của Mặt trận Giải phóng miền Nam trong công cuộc chấm dứt chiến
tranh ngày 30.4.
. Chương 19:
Lý
Quí Chung lại vướng mắc vào cái bướu ung thư thành phần thứ ba - mà
đảng muốn cắt bỏ, khi viết: Từ 1973, đâu đâu cũng thấy những cá nhân tự
xưng mình là thành phần thứ ba. Với Hiệp định Paris, tình hình miền Nam
mở ra nhiều khả năng khác nhau. Khi ấy, tôi nghĩ, lạc quan nhất lúc này
là giải pháp một chính phủ hòa giải, hòa hợp gồm ba thành phần. Nhưng không ai mường tượng cái chính phủ vận hành thế nào... còn thành phần thứ ba thì không biết sẽ lựa chọn như thế nào
Ông vẫn còn ngây thơ quá, chưa nắm được ý đồ của đảng muốn gì.
Thành
phần thứ ba là một quả chanh đã vắt vỏ, đã vắt kiệt. Riêng các ông
trong tờ Tin Sáng thì được vắt thêm 5 năm nữa. Ðã quá đủ, quá nhiều.
Ðóng cửa tờ Tin Sáng là phải. Ðã đến giờ rồi.
. Chương Sau ngày 30.4.1975:
Cái
hớ hênh của một Lý Quí Chung sau 30 năm sống dưới chế độ mới vẫn chưa
đủ. Thận trọng, gạn lọc, ngó trước dòm sau mới viết mà vẫn có kẽ hở.
Ông vẫn muốn nhắc đến ngày Ðại hội Hiệp thương Thống nhất. Ðây cũng là
điều Ðảng không muốn nói tới nữa. Có hội nghị hay không thì Việt Nam
cũng đã thống nhất rồi. Muốn thống nhất thì phải xóa tan những chiêu
bài trước đó đã đặt ra như Mặt trận Giải phóng miền Nam, v.v... Thật là
không có gì là khó hiểu.
Ðảng
cũng kiểm duyệt những tình cảm sau giải phóng trong gia đình ông như:
Những chuyện trong gia đình tôi đã biến cha tôi từ một người hồ hởi đón
nhận chào cách mạng, biến thành một người ác cảm với Cộng sản.
Một đoạn văn như thế thì cắt là phải rồi.
Còn kêu ca nỗi gì nữa.
. Phần Gia đình thân yêu:
Trong
phần này lẽ ra không cần đọc, vì không có gì đụng chạm đến chính trị.
Nhưng dù thế, nó cũng bị cắt đi ngót nghét một trang. Trong đó có một
câu vài chữ không đáng gì nhưng nếu suy ra thì viết một cuốn sách cũng
không đủ: Các em tôi đều thành đạt tại Mỹ, Canada. Thế là cả đoạn văn
sau đành cắt hết, đục bỏ hết cái chữ thành đạt. Nói thành đạt là nói
ngược lại Nhà nước Việt Nam thất bại. Cẩn thận lắm mới được. Viết thật
cẩn thận.
Ngòi
bút của Lý Quí Chung có lệch cũng chỉ vì 13 trang cắt bỏ này. Ðiều mà
Lý Quí Chung không dám nói, điều mà Lý Quí Chung bị cắt trong 13 trang
một cách không ngờ trở thành lời tố cáo chế độ ngoài cả ý muốn của
người viết cuốn hồi ký. Cuốn Hồi ký không tên, do vậy trở thành một
chúc thư gửi lại cho đời. Tôi xin được mạn phép đổi lại tên cuốn Hồi ký
không tên: Nhật ký của im lặng vì im lặng cũng là một cách nói.
(C) 2005 talawas
[1] Trích Hồi ký không tên, Chương 9.
[2] Trích: nguyễn Văn Trung, Vẽ đường cho hươu chạy.
[3] Trích: Alain Ruscio, Vivre au Viet Nam, nxb Notre Temps, tr. 175.
[4] Trích: Chân Tín, Nói cho con người (1975-2001), Thư nhà Australia.
| LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diển Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan diểm của nhật báo Người Việt và Nguoi-Viet Online. |