Ðảng
Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) có thể kéo dài thêm bao lâu? Liệu Trung
Quốc có thể sụp đổ thành phân liệt hoặc thậm chí nội chiến? Ðó là những
câu hỏi thách thức không dễ trả lời, và suốt mấy năm vừa qua, tôi đã
nhiều lần bị đặt cả hai câu đó, tại Trung Quốc cũng như tại hải ngoại.
Trong khi thật khó tiên liệu tương lai của Trung Quốc một cách chính
xác thì một sự dự đoán tạm thời nào đó về những thay đổi có tính cấu
trúc là điều khả dĩ.
Trung Quốc là nước độc đảng trong đó quyền lợi của chính quyền và
của ÐCSTQ không thể tách rời nhau. Suốt những năm vừa qua, câu trả lời
độc nhất mà Ðảng có trong cuộc truy lùng nhằm duy trì trật tự dân sự
là, “nhổ tận gốc trốc tận rễ mọi nhân tố có tiềm năng gây bất ổn”. Ðảng
đã và đang cần cù hoạt động để tạo một hiện thực trong đó không lực
lượng có tổ chức nào có khả năng thay thế sự cai trị của cộng sản. Theo
quan điểm của ÐCSTQ, cái chết của Ðảng chỉ mang một ý nghĩa độc nhất,
đó là cái chết của chính Trung Quốc.
Hai hệ quả tưởng như hợp lô-gic là, chúng ta phải chịu đựng sự kiện
ÐCSTQ sử dụng “cải cách” như một kỹ xảo để ngăn chặn bất ổn và sụp đổ,
và chúng ta phải chấp nhận công thức “nền kinh tế thị trường cộng với
nền cai trị toàn trị” của ÐCSTQ.
Sự xây dựng kịch bản ấy thuận lợi cực kỳ cho mục tiêu của Ðảng là
ổn định tư thế của nó trong cộng đồng quốc tế, đổi lại, cộng đồng ấy
chấp nhận và thực hiện một chính sách nhân nhượng vô nguyên tắc đối với
Trung Quốc. ÐCSTQ rất hài lòng vì những lời kêu gọi Trung Quốc cải
thiện thành tích nhân quyền và hoạt động để ngày càng dân chủ hơn đang
từ từ yếu dần, hơn bao giờ hết. Từ năm 2000, cộng đồng quốc tế có phản
ứng lập lờ đối với sự kém cỏi và chông chênh của Giang Trạch Dân vì họ
hy vọng rằng sự chuyển giao quyền lực cho các lãnh tụ Ðảng thuộc thế hệ
sắp tới sẽ nuôi lớn các nhân tố “lành mạnh” ở bên trong ÐCSTQ và đẩy
mạnh sự ổn định.
Lối tiếp cận ấy quá đặt trọng tâm trên sức mạnh độc quyền của Ðảng,
không để ý tới các thành tố tạo nên sự ổn định thật sự. Các thành tố ấy
bao gồm những giới hạn việc bóc lột môi trường và sinh thái cũng như sự
lập thành các giá trị luân lý đạo đức, có thể dùng làm những điểm chuẩn
cho xã hội như một tổng thể. Nếu hệ sinh thái thực vật và môi trường
trong đó chúng hiện hữu, là nền tảng vật lý cho sự sống còn của một
quốc gia và nhân dân của nó thì đạo đức và những bài giảng về đạo đức
cũng làm điều tương tự trên cấp độ tinh thần. Xã hội nào cũng cần một
“sinh thái đạo đức” lành mạnh để giữ vững nó theo những cách không
chính thức nhưng có thật, không bị nắm bắt bởi tiêu điểm rất đơn thuần
trong luật pháp thành văn và các định chế chính thức.
Một môi trường đang khủng hoảng
Trung Quốc ngày nay bị đe dọa ghê gớm bởi sự ô nhiễm trầm trọng,
thậm chí đe dọa tới mạng sống con người. Từ ngày Ðảng cầm quyền, môi
trường của Trung Quốc bị tước đoạt bừa bãi; dù những cuộc cải cách kinh
tế có thành tựu được gì đi nữa, rõ ràng chúng đã làm tăng tốc độ bóc
lột ấy. Sử dụng tràn lan phân bón hóa học làm đất canh tác ngày càng
bớt màu mỡ trong khi độ nhiễm mặn và thoái hóa đất đai nói chung làm
giảm chất lượng của đất tại các khu vực rộng lớn của đất nước. Ngày
nay, hoang mạc phủ 38% tổng thể đất đai của Trung Quốc, như là hậu quả
của việc sử dụng đất một cách hư hoại, và hiệu suất của đất canh tác đã
căng hết mức giới hạn của nó, đưa tới một tình trạng tồi tệ tiềm ẩn tai
họa. Tài nguyên quặng mỏ giàu có của Trung Quốc bị tiêu phí ở mức cao
chưa từng thấy (trung bình cao gấp bốn lần tính bình quân theo đầu
người mà người ta thấy tại các nước đã phát triển kiểu mẫu), trong khi
đầu ra sản phẩm thật sự thì còm cỏi so với đầu vào do quặng mỏ cung
cấp— một dấu hiệu phung phí lớn lao không thể chối cãi. Nếu chúng ta
lấy khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) “xanh” [1]
để tính những phí tổn sinh thái và môi trường kết hợp với thái độ theo
đuổi phát triển kinh tế của Trung Quốc thì con số bình quân trong suốt
23 năm vừa qua (1980-2002) có giá trị tiêu cực.
Nhìn theo viễn ảnh đạo đức cũng thế, Trung Quốc đang ở trong tình
trạng nghèo đạo đức. Công chức viên chức lương thiện là biệt lệ, tham
nhũng là luật lệ. Tại những lãnh vực quan hệ tới kinh tế, có thể đo
lường sự suy sụp ấy bằng sự kiện chỉ 60% các hợp đồng ở Trung Quốc được
tôn trọng và sự thiếu tín nhiệm khác thường đã và đang leo thang trong
hoạt động kinh tế nói chung.
Có thể truy nguyên nguồn gốc của tình trạng suy thoái luân lý đạo
đức ấy nơi bản chân chính quyền. Dù nó chế biến những bản thống kê bịa
đặt hoặc chế tạo ra hàng đống “báo cáo tin tức” vẽ vời, nhà nước Trung
Quốc một khi cố ý loan truyền thông tin sai lạc thì không một ai có thể
sánh nổi với nó. Các viên chức chính quyền trở thành các nhà chuyên
nghiệp “phát biểu chính thức”: được dạy dỗ để có thái độ nhã nhặn, ăn
nói êm ái đúng với đòi hỏi của một cơ quan công cộng, họ sử dụng các kỹ
năng ấy nhân danh sự cổ động tinh ma cho những điều dối trá. Trước khi
bị kết án vì những cáo buộc tham nhũng và tắc trách, các quan chức cao
cấp, thí dụ Xương Khả Gia, cựu phó chủ tịch quốc hội, và Trần Hy Ðồng,
thị trưởng Bắc Kinh, người nào cũng là tác giả một bộ tuyển tập các bài
diễn văn bàn về “chính quyền trong sạch”. Những bài thuyết giảng ca
ngợi tính liêm khiết công cộng và cá nhân ấy không cho thấy dấu vết
chênh lệch nào giữa lời nói ngoan đạo của họ với thói quen của họ như
nhận hối lộ, nuôi tình nhân, lui tới với kỹ nữ, áp bức thường dân, và
nói chung, bất chấp pháp luật lẫn công luận. Với những kiểu mẫu từng
đóng vai trò chủ chốt như thế, liệu người ta có ngạc nhiên chút nào về
tác phong tội phạm đang gia tăng một cách báo động?
Ở bất cứ xử sở nào, đạo đức xã hội và ý nghĩa luân lý khái quát đều
quan trọng hơn luật pháp thành văn khi nó đạt tới mức làm xã hội gắn bó
với nhau trên căn bản hằng ngày. Ðạo đức xã hội cung cấp cho người dân
những tiêu chuẩn căn bản về đúng và sai, điều chỉnh hạnh kiểm của họ.
Tuy nhiên, ở Trung Quốc ngày nay, các ý tưởng về đúng và sai bị mờ
khuất trong hỗn độn và hoang mang. Thí dụ, đối với các nhà kinh tế hãnh
tiến, chuyện thời thượng của họ là thừa nhận tham nhũng và bao che nó.
Kết quả là càng ngày càng trở thành trường hợp kỳ cục tới độ chỉ có sức
mạnh thô bạo của ÐCSTQ mới có thể làm cho xã hội Trung Quốc gắn bó với
nhau.
Trong các năm vừa qua, nhà nước đảng trị củng cố những phương tiện
muôn hình muôn vẻ của nó trong công tác kiểm soát xã hội tới độ phải sử
dụng bạo lực chính trị và đầy rẫy công an mật. Các sức mạnh ấy bóp
nghẹt từ trong trứng nước bất cứ nhóm nào có tiềm năng phát triển thành
một thực thể có tổ chức, và bằng cách đó, đảng bảo đảm rằng nhân dân
Trung Quốc vẫn tiếp tục bị cầm cố trong cảnh huống thường trực cách ly
nhau — giống những hạt cát nằm trên tờ giấy — và không cách gì triển
khai được sự đề kháng có tổ chức. Ðồng thời, chính quyền chấp nhận và
thực hiện những phương pháp chẳng vẻ vang để kiểm soát tác phong của
quan chức như các chiến dịch “chống tham nhũng”, ít liên quan tới việc
diệt trừ tham nhũng mà chỉ tạo vừa đủ một số trường hợp điển hình để
nhắc nhở các viên chức rằng nếu họ muốn sống sót thì cách tốt vẫn là
làm chiếc răng cưa hữu dụng trong bộ máy khổng lồ của nhà nước đảng
trị, đừng nói gì tới chuyện phất lên giàu có.
Những ứng dụng mới của ý thức hệ
Nhưng điều quan trọng hơn cả là chính quyền thực hiện đúng lúc một
sách lược ý thức hệ mới; việc nhà nước tập trung kiểm soát đời sống
công cộng và tạo được sự liên minh giữa giới tinh hoa kinh tế và trí
thức. Thi hành chiến lược ý thức mới ấy và củng cố công tác kiểm soát
lãnh vực công cộng, chính quyền Giang Trạch Dân khắc nghiệt hơn và hữu
hiệu hơn nhiều so với chính quyền Ðặng Tiểu Bình. Chính quyền thực hiện
trọn vẹn ý đồ của Giang Trạch Dân nhằm “nhổ tận gốc trốc tận rễ mọi
nhân tố có tiềm năng gây bất ổn”, và không một tổ chức nào thật sự là
quần chúng độc lập hoặc phi chính phủ có khả năng xuất hiện trong môi
trường trấn áp như thế. Trong khi đó, xét theo vài cấp độ tinh tế, so
với sự trấn áp chính trị thẳng thừng kiểu bạo lực chuyên chính vốn là
đặïc thù của kỷ nguyên họ Mao, thì lối tiếp cận của họ Giang âm ỉ hơn
nhưng hữu hiệu hơn vì nó tính toán làm sao để thực hiện luồn lách bên
dưới tầm quan sát bén nhạy của quốc tế đang theo dõi và sẵn sàng lên
án.
Chiến lược càng cua của ÐCSTQ là bêu xấu và lăng mạ nền dân chủ
phương Tây, đồng thời thực hiệt tốt công tác ép thật chặt sự kiểm soát
của Ðảng lên khắp đời sống công cộng ở Trung Quốc. Trong các trường
tiểu, trung và đại học sự gia tăng cường độ giảng dạy ý thức hệ nhồi
nhét vào đầu óc của tuổi trẻ Trung Quốc vô số điều dối trá và huyền
hoặc chính trị. Sự việc ấy có thể góp phần giải thích tại sao trong khi
vẫn ngưỡng mộ Hoa Kỳ mà vì những nguồn tin không chính thức, nhiều
thanh thiếu niên Trung Quốc vẫn chứa chấp dai dẳng trong lòng những cảm
xúc thù nghịch phát sinh một cách ý thức hệ đối với Hoa Kỳ và những gì
nó tiêu biểu.
Nhà nước đảng trị hành xử gần như độc quyền hầu hết các phương tiện
truyền thông và xử lý chúng cao tay ấn hơn so với cách xử lý trong thời
thô lỗ của chủ tịch Mao. Các ký giả bị liên tục nhắc nhở, bằng những
lối nói dứt khoát, rằng ai đang trả lương cho họ. Ngay bản thân các
phóng viên cũng thừa nhận họ là “cái loa của Ðảng,” như thế kết quả của
thực tế đó là trong giới tinh hoa trí thức, những phần tử nào còn ấp ủ
lương tâm thì không có phương tiện đáng tin cậy nào để có thể trình bày
trung thực ý kiến của mình. Từ năm 1999, chính phủ dùng các chuyên gia
điện toán từng được huấn luyện cấp đại học để làm “công an Internet”.
Nó cũng đề ra các qui định để thuần hóa “con ngựa hoang” Mạng lưới Toàn
cầu (World Wide Web).
Từ sau vụ Thiên An Môn, giới trí thức đối mặt một môi trường mới
đầy hoang mang. Suốt thập niên 1990, nhà nước đảng trị thực tế đã tìm
cách mua chuộc giới trí thức với các danh dự hàn lâm, đẳng cấp và lương
bổng để đưa họ vào hàng ngũ những kẻ ủng hộ nguyên trạng (status-quo).
Ngược lại, một số ít trí thức không để bị mua chuộc thì bị đánh đổ:
không người nào có thể xuất bản công trình nghiên cứu quan trọng về bất
cứ đề tài nào theo con đường chính thức, và các nhà nghiên cứu khó tính
ấy có thể dễ nhận ra là mình bị sa thải, dù lúc nào cũng với lý do mà
trên danh nghĩa là “không liên quan gì tới chính trị”.
Ngày nay, các trí thức có ảnh hưởng là đối tượng giám sát và xoi
mói của công an mật, và thông thường, việc cưỡng bách di dân ra nước
ngoài là thuộc phần các chiến dịch sách nhiễu tổng quát do Ðảng đề ra.
Việc áp dụng sách lược cương nhu này — “cương” vì nó cấu thành trấn áp,
“nhu” vì nó không đi tới mức bỏ tù thật sự hoặc tra tấn thể xác — đã có
hiệu quả làm trung hòa giới trí thức ưu tú như một lực lượng phê bình
độc lập của Trung Quốc. Ngày nay, hầu hết các học giả Trung Quốc đều
muốn thích ứng các nghiên cứu của mình để xoa dịu chế độ, giữ thái độ
thờ ơ hoặc chiếu lệ đối với các vấn đề xã hội và chính trị nhạy cảm.
Cho tới thập niên 1990 vừa qua, chính phủ Trung Quốc vẫn bướng bỉnh
đeo bám khái niệm rằng nó đại diện giai cấp lao động — thậm chí khi các
viên chức đã lập những quan hệ riêng tư thân mật và có lợi nhuận với
giới tinh hoa kinh tế mới phất. Giữa họ, giới tinh hoa kinh tế và các
thủ trưởng của nhà nước đảng trị, lúc này kiểm soát 85% tổng số tài sản
của Trung Quốc và lập thành lớp siêu phú gia (super-rich) của Trung
Quốc. Dưới ánh sáng của hiện thực đó, nhà nước-ÐCSTQ chỉ còn giải pháp
duy nhất là đưa ra sự điều chỉnh có tính chiến lược giữa các giai cấp
trung thành với nó, và như thế khẩu hiệu “Tam Ðại biểu - Ba Ðại diện”
của Giang Trạch Dân được tung ra; nó cho hai giới tinh hoa kinh tế và
chính trị một không gian rộng rãi hơn để liên kết và bành trướng. Lời
kêu gọi của họ Giang “cho phép các nhà từ bản tư nhân gia nhập Ðảng”,
chỉ là mưu chước tưởng thưởng cho giới tinh hoa kinh tế một cột trụ
trong hệ thống và một tiếng nói chính trị hợp pháp.
Rõ ràng ảo tưởng nghiêm trọng nhất mà giới trí thức Trung Quốc đã
giữ suốt thập niên 1980 là giai cấp trung lưu sung mãn sẽ đòi hỏi quyền
dân chủ. Thập niên kế đó dập tắt vĩnh viễn “giấc mộng ngày” đó. Các
chiến thuật chính trị của Ðảng bao gồm việc cho phép giới tinh hoa kinh
tế cùng với các nhóm trí thức thích đáng và dễ bảo được đòi quyền ở
trong hệ thống và chia sẻ một số quyền lực của Ðảng — nhưng còn cách
rất xa sự tạo ra một sinh hoạt chính trị dân chủ mới mẻ.
Ðể đối phó với những lo âu và rối loạn trong hàng ngũ người nghèo
và người bị tước đoạt, chính phủ phải dựa vào việc trấn áp bằng bạo lực
càng ngày càng tăng. Dập tắt những cuộc phản kháng ở qui mô nhỏ đã trở
thành công tác thông lệ của các viên chức địa phương, những kẻ lúc này
giàu kinh nghiệm đối phó với các sự cố như thế. Nói chung, họ thiên về
lối tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy”: các “quần chúng phản kháng”
(thường là nông dân hoặc công nhân thất nghiệp) nhận “củ cà rốt” nhỏ,
có thể đáng giá một hai tháng trợ cấp đời sống với điều kiện thôi xuống
đường. Ngược lai, những kẻ “lãnh đạo phản kháng” thì lãnh “cây gậy”.
Gần như không có ngoại lệ, chính quyền nghiêm khắc trừng trị bất cứ “kẻ
gây rối loạn an ninh trật tự công cộng” nào — công nhân, nông dân hoặc
ngược lại — bất cứ ai mà nó có thể đặt cánh tay “không chút dịu dàng”
lên trên. Ở mức tối thiểu, Ðảng ra sức bẻ gãy tinh thần của họ và lấy
đi nhân cách của họ, nhưng sẽ không ngần ngại giết họ nếu thấy cần
thiết. Thông thường, việc ấy đủ để làm những kẻ có tiềm năng lãnh đạo
run sợ, không dám trở thành con dê tế thần khi những kẻ sát nhân cả
nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thường ra dấu hiệu rằng đã đến lúc chính
quyền hết còn chịu đựng nổi cuộc phản kháng tập thể.
Vẫn còn có những cuộc phản kháng yếu ớt — ngay cả nổi loạn — để đáp
trả các liên minh đầy uy lực và có tính khống chế ngày càng tăng được
thành lập giữa các giới tinh hoa của đất nước. Nhưng giới chức cầm
quyền đã có kinh nghiệm, không để chúng lan rộng và việc đè nén sự bất
ổn khiến cho đôi khi, phải phong tỏa hoàn toàn một thành phố hay một
khu vực. Do đó, những cuộc phản kháng chỉ có tính địa phương và rời
rạc; từ sau vụ Thiên An Môn, không có vụ nào đạt tới mức đặt vấn đề
thay đổi trong nghị trình xã hội như một tổng thể. Trong chừng mực quan
tâm của nhà nước đảng trị, các khái niệm nhiều khía cạnh và rộng lớn
của “nhân quyền” có thể bị giảm thiểu một cách an toàn thành quyền sinh
sống mà thôi. Cách diễn đạt chật hẹp ấy về quyền con người đã hạ nhân
dân Trung Quốc xuống đẳng cấp loài vật ăn máng, nhưng bao lâu họ còn dễ
bảo thì bấy lâu nhà nước đảng trị còn bất cần.
Những chọn lựa cho tương lai
Nói chung, cộng đồng quốc tế chọn quan điểm lạc quan và hão huyền
về tương lai của Trung Quốc. Quan điểm này chú mục vào hai kỳ vọng mà
cả hai vừa sai lầm vừa đồng cảm chẳng kém gì nhau. Kỳ vọng thứ nhất là
việc cho phép Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ
khích lệ dân chủ hóa. Kỳ vọng thứ hai là những tiến bộ kỹ thuật sẽ phá
vỡ các “bức tường lửa” mà Trung Quốc đang áp đặt và sẽ cởi mở xã hội
Trung Quốc, không còn kiểm duyệt tin tức và thông tin. Về kỳ vọng thứ
nhất, tôi chỉ có thể vạch ra rằng WTO là một tổ chức điều chỉnh kinh tế
quốc tế nên chúng ta không thể kỳ vọng hoặc hy vọng rằng nó sẽ làm biến
đổi hệ thống chính trị của một nước. Còn về kỳ vọng thứ hai thì Bắc
Kinh hiện nay đang làm tiêu hao nó bằng dự án trị giá nhiều tỉ đô la
“Lá chắn Vàng – Golden Shield” mà mục đích là dùng kỹ thuật máy điện
toán để mở ra và siết chặt gọng kìm của nhà nước lên trên xã hội. Các
công ty đa quốc gia, các tín hiệu đô-la nhảy múa trước mắt họ, đang háo
hức dự phần vào màn kịch cá biệt này. Nhưng bản thân giới tinh hoa của
Trung Quốc thấy tương lai như thế nào? Xã hội Trung Quốc hiện nay giống
một hỏa diệm sơn sắp tới hồi phun lửa. Hầu như mọi người Trung Quốc đều
cảm giác sức nóng của ngọn lửa trong lòng đất nhưng có lẽ không ai cảm
giác cho bằng giới tinh hoa của Trung Quốc, những kẻ hiểu ngầm với nhau
rằng chọn lựa tốt nhất của họ là duy trì nguyên trạng bằng trấn áp
chính trị và hoạt động tình báo quốc nội. Trong thực tế, điều ấy có
nghĩa là phải dùng sức mạnh đàn áp tập thể tất cả những ai “phá rối
trật tự xã hội” ngay khi họ bộc phát. Suốt hơn thập niên qua, từ sau vụ
Thiên An Môn, tuyến phòng ngự số một của nhà nước đảng là chống lại sự
rối loạn phát xuất từ bên dưới.
Bên trong liên minh của các giới tinh hoa, giới thư lại cảm nhận về
sự khủng hoảng ấy nhạy bén hơn giới trí thức. Vào đầu thập niên 1990,
tẩu tán tư bản lên qui mô lớn khi các đạo quân quan chức chuyển tài sản
phi nghĩa mới kiếm được của họ tới các ngân hàng ở bên ngoài Trung
Quốc, thường là tới các nước họ đang có thân nhân sống nhàn hạ. Trong
khi đó, các nước châu Âu cùng Hoa Kỳ, Canada, Australia ra sức thu hút
sinh viên Trung Quốc ra hải ngoại để góp phần phát triển kinh tế nội
địa của mình. Các trường cao đẳng và đại học tại những nước đó nhận
thấy giới sinh viên Trung Quốc có nhu cầu cực lớn được đi du học: qua
một số thẩm định, Trung Quốc bỏ ra mỗi năm hơn 4 tỉ Mỹ kim tài trợ cho
việc du học trong đó ưu tiên số một dành cho thanh niên. Ðây là dấu
hiệu cho thấy giới tinh hoa đang kỳ vọng họ sẽ kiểm soát được tương
lai: qua những sắp xếp mà họ dàn dựng cho con cái, họ đang bỏ phiếu
bằng ngoại tệ mạnh.
Như tôi đã cố gắng trình bày, thật sai lầm khi nghĩ rằng có một
nhóm quyền lực nào đó bên trong hàng ngũ thượng đỉnh của Ðảng Cộng sản
sắp gỡ cho Trung Quốc thoát ra các khủng hoảng đang vây bủa nó. Các nhà
phân tích vốn tranh cãi việc ÐCSTQ có thể xói mòn tương lai của đất
nước thì đang chấp nhận và thực hiện điều mà tôi gọi là lý thuyết “lính
chữa cháy.” Họ giả định rằng chế độ của ÐCSTQ giống với lính chữa cháy
rừng nhiều hiệu năng, được trang bị bằng những thiết bị mới nhất, không
khác gì một “hệ thống phòng ngừa hỏa hoạn”, gồm sự kiểm soát triệt để
truyền thông và công luận, đàn áp chính trị cao độ, các đội ngũ công an
chống nổi loạn và toàn bộ guồng máy an ninh quốc gia hiến thân hết
mình, chống đỡ cho trật tự hiện nay để mọi sự đâu vào đó. Nhưng tại
Trung Quốc, nguy cơ hỏa hoạn không đơn giản xảy ra một cách ngẫu nhiên
tại các khu vực có củi khô, mà đó là những ngọn lửa ngầm, đang cháy âm
ỉ ngay bên dưới bề mặt, ở bất cứ nơi nào và vào bất cứ lúc nào, một khi
đã phun lên thì diễn ra rất ác liệt, vượt ngoài tầm kiểm soát. Thậm chí
các thiết bị chữa cháy kỹ thuật tiên tiến nhất cũng có những giới hạn
của chúng khi đương đầu với các nguy cơ như thế.
Ngày ấy sẽ tới khi ÐCSTQ không còn đè nén nổi những ngọn lửa đó.
Một khi nền cai trị lâu năm của ÐCSTQ bị thiêu rụi trong đám cháy lớn
đó thì sự tăng trưởng về dân số chưa từng có tại Trung Quốc, sự phá
hoại bừa bãi môi trường và sinh thái, và sự sụp đổ gần như toàn bộ nền
luân lý xã hội, mới chỉ là một trong các nhân tố làm cho công tác tái
thiết đã lớn lao lại còn khó khăn hơn.
Hà Thanh-liên ( – Qinglian He), cựu biên tập viên lâu năm của Thiên Tân Pháp luật Nhật báo
tại Trung Quốc, hiện là khách nghiên cứu của phân khoa chính trị, kinh
tế và triết Trường Cao đẳng Staten Island thuộc Ðại học Thành phố New
York. Bà là tác giả trên ba cuốn sách viết bằng Hoa ngữ, trong đó có
cuốn bán rất chạy, nhan đề Pitfalls of China (Những cạm bẫy của Trung Quốc), ấn bản cập nhật hóa từ bản đã được xuất bản ở Nhật Bản năm 2002.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas