Paris by Warsaw hay là Thuý Nga làm cách mạng - Phần kết
Theo Dan Chim Viet - Thanh Thanh Hải - 20-01-2006
Tôi thề tôi chẳng yêu ai…
Như bạn đọc nhận xét, hiểu biết của tôi về nền ca nhạc Việt Nam không
nhiều. Xa quê hương đã lâu (do lựa chọn), mỗi lần về thăm thì cũng chỉ
tối đa hai tháng, tôi không hề biết gì về những xu hướng âm nhạc hay ca
nhạc mới trong nước. Một chút vấn vương với nhạc vàng miền nam còn sót
lại từ lúc tuổi thơ và nhạc “cách mạng”, nhạc đỏ thì đã ăn sâu vào máu!
Năm cuối trung học bạn bè tôi đã biết yêu, mà chẳng hiểu tại sao những
bài nhạc tình được gọi là nhạc vàng lại là những bài ưa thích của tình
yêu tuổi học trò trong trắng? Bởi vì không có gì lãng mạn hơn? “Nay trên công trường ta đã mến yêu nhau” đến bây giờ chúng tôi vẫn còn hát karaoke khi có dịp. Nhưng chắc chắn lúc đó “tôi thề tôi chẳng yêu ai, vì người ta cứ phụ tôi hoài…”
hấp dẫn hơn, có hương vị quả táo cấm. Đó là bài nhạc vàng (hay nhạc
sến, hay là một cái tên gì nữa) cuối cùng mà tôi nghe ở Việt Nam. Sang
tới Ba Lan không phải ngay lập tức chúng tôi yêu thích nhạc Ba Lan,
nhạc Tây. Tôi còn nhớ tại các căn phòng khu kí túc xá của trường Tổng
Hợp Lodz đều có đài sinh viên, nhưng chúng tôi không thể nào nghe nổi
nhạc rock của Ba Lan. Nhưng rồi các bài hát Ba Lan đã dần thấm vào tôi
không biết kể từ khi nào… các bài hát minh họa và thể hiện các cung bậc
tình cảm, những nghiệm trải của tôi trên mảnh đất này. Có những bài
cũng buồn thảm lắm, như miêu tả những mối tình trắc trở (của tôi) mà
mỗi lần nghe tôi lại ngậm ngùi, liên tưởng…

Tách xa môi trường Việt Nam rất nhiều năm, tiếng hát “anh tiền tuyến, em hậu phương” (nhạc hải ngoại) hay…

…“anh ở đầu sông em cuối sông” (nhạc nội) đối với tôi đều gần gũi, thân thương (hoặc xa xôi, đáng ghét) như nhau!
Dưới bảo trên không nghe hay là những bất lực của các nhà tổ chức
Tôi trở lại với ca nhạc Việt Nam chục năm trước đây, khi đoàn ca nhạc
Việt Nam hải ngoại (trong đó có Khánh Ly) lần đầu tiên sang biểu diễn
tại Ba Lan. Nói “trở lại” vì có lúc đã đi xa, nhưng có lẽ đại đa số
đồng hương của tôi tại Ba Lan không hề có vấn đề này. Họ dành cho các
nghệ sỹ hải ngoại những tình cảm nồng nhiệt nhất mà có lẽ bản thân các
nghệ sỹ cũng không ngờ. Thế mới biết nhạc vàng, nhạc cấm, nhạc VNCH chỉ
là nhưng phân chia ngăn cấm do những người cộng sản chiến thắng tạo ra.
Âm nhạc Việt Nam không hề có biên giới!
Tuy vậy có một điều mà nhiều Việt Kiều ở Mỹ không hiểu và không chấp
nhận. Các bài hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi cuộc chiến
tranh thần thánh cũng đều thân thương và hấp dẫn đối với họ (đối với
chúng tôi). Chí ít ra là vì nó đã gắn liền với một phần cuộc đời (nhiều
khi là phần tươi đẹp nhất: tuổi thơ, tuổi trẻ) của họ (của chúng tôi)…
Thần tượng và biểu tượng của cả hai phía đều cần phải loại bỏ dần dần…
Một công việc còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại (tại cả hai phía) mà
những người đi tiên phong phải gánh chịu nhiều hậu quả nhất… phản bội,
phản động và vô liêm sỷ. Lịch sử trong tương lai sẽ minh oan, sẽ biện
hộ hoặc kết tội họ nhẹ nhàng hơn…
Không thể nói buổi hoà nhạc của trung tâm Thuý Nga mùa Noel 2005 tại
Warsaw thành công mỹ mãn như những công chức văn hoá Việt Nam XHCN
thường tổng kết. Một buổi hoà nhạc, một buổi vui chơi nhẹ nhàng mà ngay
cả thành phần tham dự khiêm tốn của đoàn cũng được khán giả cảm thông.
Vì lý do tài chính thôi mà…
Đa số khán giả hài lòng ra về mặc dù cảm thấy chưa đủ đã,
còn thiếu một cái gì. Niềm bâng khuâng và băn khoăn đôi chút đó có thể
là hậu quả của những lời nhắc khéo léo của các nghệ sỹ lần đầu tiên thể
hiện trên sân khấu? Ở đây cũng không thể không nói đến những hạn chế mà
không nhất thiết chỉ phụ thuộc vào những người đăng cai tổ chức. Vì quá
tôn trọng chân lý của thị trường tự do “khách hàng là thượng đế” ban tổ
chức phải hoãn giờ khai mạc đến cả tiếng rưỡi đồng hồ. Một thông lệ mà
đến lúc không thể dung thứ? Nếu những gì trên sân khấu xảy ra, mà người
viết những dòng này đã cố tình phóng đại, tô đen thuộc về nền văn hoá
lớn (và còn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng của những người thực
hiện), thuộc văn hoá dân tộc mà người ngoại quốc không thể coi thường,
khinh rẻ một cách đơn giản thì những gì xảy ra trên khán đài lại thuộc
về văn hoá nhỏ, văn hoá cụ thể, mà người Ba Lan chứng kiến có quyền
khiển trách và chê bai. (Nhập gia tùy tục). Không biết có phải vì đã
chứng kiến nhiều lần cái văn hoá nhỏ hay không mà người Ba Lan phụ
trách ánh sáng (ngồi giữa khán đài) coi thường ra mặt. Khi Trường Vũ
đang say đắm ca về “em nghèo anh cũng chẳng cao sang”, hay khi Như
Quỳnh thân mật tiếp cận khán giả thì người phụ trách ánh sáng cố tình
quên đi sự có mặt của họ trên cõi đời này. Khi khán giả hết kiên nhẫn,
nhìn về phía các nguồn ánh sáng như nhắc nhở thì anh ta lại nhìn lên
những đèn pha gắn trên trần tỏ ý tìm kiếm những người trực tiếp đứng
sau những đèn pha (tỏ vẻ như có những người như thế dùng tay điều
khiển) đã bỏ đi đâu? Đây không phải là lần đầu tiên chuyện này xảy ra.
Hy vọng các ban tổ chức trong tương lai sẽ giải quyết êm thấm yếu tố kỹ
thuật gần như duy nhất liên quan đến sân khấu và chất lượng biểu diễn.
Chẳng hạn bồi dưỡng thêm tiền cho người đạo diễn ánh sáng làm công ăn
lương này của Đại Sảnh Đường Cung Văn Hoá…


Tuấn Anh khẳng định các cháu bé sống ở Ba Lan được chăm sóc hết sức chu
đáo và tỏ ý khâm phục các ông bố bà mẹ. Không những thế, trong buổi
biểu diễn hôm nay các cháu còn được tự do tuyệt đối để thưởng thức. Hai
ảnh trên: Như Quỳnh và các cháu bé nhà trẻ trung ương
Nhưng tiền có thể mua được văn hoá? Những nhà tổ chức đã thuê sẵn mấy
cô gái trẻ Ba Lan để dọn rác rưởi, thức ăn, đồ uống do khán giả bỏ lại
trên ghế, trên khán đài y chang như sau những lần bóng đá cộng đồng tại
sân vận động!
Diễn văn bế mạc dông dài
Thương trường cho ca nhạc nói riêng và cho báo chí, văn học tiếng Việt
tại hải ngoại là một thương trường không đầy đủ, nếu không nói là không
bình thường. Riêng thương trường này ở Mỹ lại có một đặc thù riêng. Ví
dụ minh hoạ có thể là việc các đoàn văn hoá nghệ thuật Việt Nam sang
biểu diễn tại Pháp không bị tẩy chay (gay gắt) như tại Hoa Kỳ. Bạn đọc
sẽ có ngay câu trả lời; không sai, nhưng ở đây cần thêm ngay một ý là
văn hoá nghệ thuật có những lúc chỉ quan tâm và thực hành vai trò văn
hoá nghệ thuật của mình. Chí ít ra thì cái ảnh hưởng chính trị được
giảm thiểu một cách tối đa. Nói thế không có nghĩa là người viết những
dòng này bênh vực những Duyên Dáng Việt Nam,
ngược lại thì đúng hơn. Để đạt được mục đích tuyên truyền và dụ dỗ
những Việt Kiều giàu có, những nhà chức trách Việt Nam đã bỏ ra một số
tiền khổng lồ để gửi các đoàn nghệ thuật đến những nơi mà người ta
không cần đến nó! Bà con Việt Nam đang sống ở Ba Lan, ở Đông Âu, mà có
thể nói là họ chưa phải là Việt Kiều, chứ đừng nói là Việt Kiều giàu
có, đang đói văn hoá nghệ thuật hoặc chỉ một không khí Việt Nam thuần
tuý, thì lại không được hưởng. Bởi đơn giản họ không phải là mục đích
tuyên truyền của giới chức trách, người ta không cần kêu gọi họ về nước
đầu tư. Người ta không cần đến họ! Một buổi biểu diễn như vậy tại Ba
Lan chắc chắn sẽ lỗ to, nếu xét và mặt tài chính. Nhưng còn một điều
cũng rất chắc chắn. Tôi dám chắc rằng một buổi biểu diễn như vậy tại Ba
Lan sẽ thành công mỹ mãn. Ông Trần Ngọc Thành của Tập Hợp Dân Chủ Đa
Nguyên, hay cô Tôn Vân Anh đang mon men đến với Việt Tân sẽ chẳng bao
giờ tổ chức biểu tình và tẩy chay những Duyên Dáng Việt Nam này. Làm thế nào để có giấy mời hoặc có vé vào cửa là nỗi lo trong tương lai!
Văn học, nghệ thuật chịu sự chi phối và ảnh hưởng của thương trường.
Điều đó không cần tranh cãi. Khi chưa có thương trường thì các trung
tâm nghệ thuật Việt Nam ở Mỹ (mà vào các thời điểm đó dùng từ trung tâm
là hơi bị lạm dụng) có thể thuần tuý chỉ phục vụ cho nhu cầu của những
người di tản Việt Nam. Cùng với sự xuất hiện – và sau đó – sự phát
triển của thương trường các trung tâm này phát triển theo và bị thương
trường (thị trường) chi phối, ảnh hưởng. Không thể phê phán bất cứ một
trung tâm nào về vấn đề này. Ngược lại, văn học nghệ thuật nói chung và
các trung tâm văn hoá nghệ thuật nói riêng, có thể ảnh hưởng đến thương
trường, có thể chi phối và tác động đến nó. Có những trung tâm, có
những luồng hay trường phái văn hoá nghệ thuật không đủ mạnh để ảnh
hưởng đến thương trường, nhưng lại né tránh tối đa những ảnh hưởng của
thương trường. Những trung tâm như thế, những luồng và những trường
phái văn hoá nghệ thuật như vậy luôn có một nỗi lo âu chung, canh cánh bên lòng:-
Làm thế nào để có nguồn tài chính để tồn tại, để hoạt động và phát
triển? Và điều đó không phụ thuộc vào việc các trung tâm đó, các luồng
văn hoá nghệ thuật đó ở trong xã hội dân chủ, thị trường tự do tại Mỹ,
hay còn nằm trong xã hội thiếu dân chủ, thị trường còn định hướng như
tại Việt Nam hiện nay. Việc không có, hoặc có rất ít những trung tâm
Việt Nam như vậy tại hải ngoại là cái cần bàn đến, là cái đáng nghiên
cứu cho những ai thật sự quan tâm đến nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam
hải ngoại. Âu đây cũng là những bước nghiên cứu thí điểm, thử nghiệm
trước khi có được một nền văn hoá nghệ thuật thực thụ tại nước Việt Nam
dân chủ, tự do.
Văn hoá, nghệ thuật chịu sự chi phối và ảnh hưởng của chính trị. Điều
đó không cần phải tranh cãi, nhất là một khi nền văn hoá, nghệ thuật đó
nằm trong các thể chế chính trị độc đoán, bị các thể chế này lũng đoạn.
Nhưng ngược lại nền văn hoá nghệ thuật đủ mạnh, đủ tầm cỡ cũng có ảnh
hưởng đến chính trị hoặc chí ít ra đủ sức để làm giảm thiểu các ảnh
hưởng chi phối của chính trị. Rất tiếc nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam
trong quá khứ, ở hải ngoại hay trong nước, không phải là nền văn học
nghệ thuật như vậy. Một Đặng Thái Sơn, nổi tiếng từ những năm 80 không
làm đủ mạnh để thay đổi bản chất của nền âm nhạc Việt Nam! Văn hoá,
nghệ thuật Ba Lan là một nền văn hoá nghệ thuật lớn, đủ mạnh, đủ tầm
cỡ. (Nền ở đây được hiểu như những tính chất tổng thể tạo nên văn hoá,
nghệ thuật và cả những người thực hiện, sáng tạo văn hoá nghệ thuật
đó). Suốt gần nửa thế kỷ nằm trong độc tài cộng sản, Ba Lan luôn có
những văn nghệ sỹ vượt thoát những eo hẹp của nền văn hoá nghệ thuật bị
kiểm duyệt để đến và sánh vai với văn hoá nghệ thuật thế giới. Những
người Ba Lan di dân, sống tại hải ngoại trong những tháng năm đó cùng
tạo dựng và cùng đóng góp những vai trò đáng kể cho nền văn hoá, nghệ
thuật Ba Lan, không có tính từ XHCN. Trong suốt bao năm đó các ca sỹ Ba
Lan cũng thường xuyên ra nước ngoài phục vụ kiều dân Ba Lan tại Pháp,
tại Mỹ, tại Úc,… nhiều khi cũng chỉ tại các phòng trà, quán ăn nhỏ chứ
đâu được như các văn nghệ sỹ Việt Nam, ngay tại đại sảnh đường cung văn
hoá! Những thu nhập từ các cuộc biểu diễn này là những thu nhập kếch xù
so với những thu nhập tại quốc nội, tạo điều kiện cho họ có nhiều điều
kiện thực thi sự nghiệp văn hoá nghệ thuật không lệ thuộc khi quay về
nước. Hơn nữa, trong các đợt đi biểu diễn như vậy, thường họ không bị
tẩy chay, mặc dù chính quyền độc tài Ba Lan đương thời vẫn ra điều kiện
và lợi dụng họ vào nhiều mục đích khác nhau. Chẳng hạn, một trong những
điều kiện cho phép đi biểu diễn ở nước ngoài được thực hành đối với rất
nhiều ca sỹ là họ phải tham gia biểu diễn ở – thành thật xin lỗi – các duyên dáng Ba Lan
trong nước như Liên Hoan các bài hát Liên Xô (Festiwal Piosenki
Radzieckiej) tại Zielona Gora, hay Liên Hoan Ca Khúc về (của) người
lính (Festiwal Piosenki Zołnierzskiej) tại Kołobrzeg. Họ, các ca sỹ và
khán thính giả Ba Lan hiểu được khi nào cần thoả hiệp, khi nào cần lựa
chọn các giải pháp dung hoà. Người Việt Nam hải ngoại (trong đó chắc
chắn có người viết những dòng này) không biết dung hoà, thoả hiệp, đúng
lúc, đúng nơi?
Thương trường cho ca nhạc (và cho văn hoá nghệ thuật nói chung) tại
Việt Nam là một thương trương đầy đủ, thương trường bình thường với
nghĩa là nó đủ lớn và đang phát triển. Thương trường này có nhiều ưu
điểm nổi bật mà thương trường hải ngoại không thể có. Văn hoá, nghệ
thuật trong nước tiếp cận với văn hoá, nghệ thuật thế giới mà vẫn (sẽ)
là văn hoá nghệ thuật Việt Nam. (Trong khi đó những sự cố gắng tiếp cận
và hội nhập của văn hoá, nghệ thuật hải ngoại có thể dẫn đến sự hoà
nhập hoàn toàn vào hệ thống tuần hoàn hữu cơ của nghệ thuật văn hoá bản
xứ). Nhược điểm lớn nhất của thương trường văn hoá nghệ thuật trong
nước là chưa có tự do sáng tác (và sáng tạo). Hay nói chính xác hơn, sự
tự do trong sáng tác còn bị hạn chế nhiều, dưới nhiều phương diện khác
nhau. Việc cấm kị các sản phẩm văn hoá nghệ thuật hải ngoại hay tìm
cách hạn chế ảnh hưởng của văn hoá nghệ thuật ngoài luồng, hạn chế giao
lưu văn hoá nghệ thuật trong ngoài nước là một ví dụ. Đó cũng chính là
một sai lầm, một tội ác đối với nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam của
những nhà chức trách đương quyền. Nhưng các văn nghệ sỹ hải ngoại không
thể ngồi ỳ đợi chờ và ca thán. Họ phải tích cực và chủ động thâm nhập
tấn công và tiếp cận nền văn hoá, nghệ thuật hiện tại của Việt Nam. Họ
không thể về Việt Nam về mặt thể xác ư? đó là tội của những người cộng
sản, vượt qua khả năng của những văn nghệ sỹ, của chúng ta. Nhưng ít
ra, nếu những văn nghệ sỹ trong nước được giao lưu với văn nghệ sỹ hải
ngoại, với Việt Kiều ở Mỹ, ở Úc, ở Canada thì đó cũng đã là sự giao lưu
hai chiều, sẽ có tác dụng cho nền văn hoá, nghệ thuật Việt Nam, cho xã
hội Việt Nam, tuy ở tốc độ và mức độ hạn chế. Những điều nói trên không
những là những việc cần làm, mà càng ngày nó càng trở thành xu hướng.
Xu hướng đó là không thể tránh khỏi, nếu như chúng ta bi quan mà nhận
định rằng chế độ độc tài tại Việt Nam sẽ còn tồn tại 10, 20 năm nữa!
Khi đó văn học, nghệ thuật Việt Nam hải ngoại phải vượt qua chính mình,
làm chỗ dựa cho văn học nghệ thuật Việt Nam nói chung, làm cầu nối và
yếu tố thúc đẩy tiến trình dân chủ, cải tổ chính trị Việt Nam. Chúng ta
đã sẵn sàng, chấp nhận và thực hiện?
Ciao Ciao, Italiano. Hà Nội ơi, hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn
Hạ màn
In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè: