Tư doanh chỉ xuất hiện trong tư thế du kích và sẵn sàng cuốn trọn cơ
sở của mình trong manh chiếu để bỏ chạy. Mãi đến gần đây...
Trong
bài tổng kết thứ ba về tình hình kinh tế Việt Nam, kỳ này Diễn đàn Kinh
tế đài RFA sẽ trình bày về phát triển tư doanh qua phần trao đổi cùng
kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Thanh Quan thực hiện sau đây.
Hỏi:
Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong loạt bài tổng kết về kinh tế Việt Nam
và nêu ra một số viễn ảnh cho năm 2006 đang khởi đầu, kỳ này, chúng ta
xin nói về một lãnh vực mới nổi là tư doanh của Việt Nam. Trước hết,
xin ông cho biết một số những nét chính của khu vực này.
- Tư
doanh tại Việt Nam là một khu vực cũ mà lại rất mới. Cũ vì thời nào
cũng có, nhưng mới vì sau 1975, trong nông nghiệp, người ta phải đi vào
hợp tác hóa, trong công thương nghiệp thì bị cải tạo. Tư doanh chỉ xuất
hiện trong tư thế du kích và sẵn sàng cuốn trọn cơ sở của mình trong
manh chiếu để bỏ chạy. Mãi đến gần đây thành phần kinh tế này mới được
phép xuất hiện, rồi hiện hữu, sau khi lãnh đạo Việt Nam chấm dứt việc
"cải tạo" để nói đến "đổi mới."
Hỏi: Ông nói là lãnh đạo Việt
Nam bắt đầu nói đến đổi mới, nhưng họ thực sự có tiến hành một số thay
đổi khiến tư doanh ngày nay đã có một vị trí khả quan hơn trong nền
kinh tế chứ?
- Thưa vâng, nhưng từ nói đến làm luôn luôn có
khoảng cách, và thực tế thì tư doanh mới chỉ xác định được tiềm năng
của mình từ đợt cải cách năm 2000 trở về sau. Trước đấy, tư doanh bành
trướng đến đâu thì nhà nước lùi đến đó và vừa lùi vừa làm luật để lập
ra quy chế mới. Một thí dụ nổi bật trong năm qua là việc nhà nước tìm
cách đúc kết lại hệ thống luật lệ phân tán vào bộ Luật Doanh nghiệp
chung cho tư doanh, quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. "Dân chạy trước nhà nước theo sau" vẫn là quy luật xã hội phổ
biến. Nếu nhìn về quá khứ thì tư doanh nay dễ thở hơn xưa, nhưng nhìn
ra ngoài thì Việt Nam vẫn chậm lụt, vì vậy kém sức cạnh tranh. Trong
viễn ảnh hội nhập với kinh tế thế giới thì đấy là mối lo.
Hỏi: Dù sao, tư doanh Việt Nam có góp phần đáng kể cho đà tăng trưởng kinh tế trong những năm qua phải không?
-
Đáng kể vô cùng, vì cùng một ngạch số đầu tư, doanh nghiệp tư nhân thu
hút được nhiều việc làm hơn và có tỷ lệ đóng góp cao hơn doanh nghiệp
nhà nước cho hoạt động xuất khẩu. Tư doanh hiện đóng góp tới một phần
ba sản lượng công nghiệp của Việt Nam và thu hút hơn 20% lực lượng lao
động. Không có tư doanh, mỗi năm kinh tế Việt Nam không thể nào tạo
thêm một triệu rưởi việc làm mới, và thất nghiệp và khủng hoảng đã bùng
nổ từ lâu.
Điều đáng buồn là thành phần kinh tế ấy vẫn bị chặn
đà phát triển và nếu Việt Nam không kịp cải cách thì sau khi được gia
nhập tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm tới thì sẽ gặp nhiều khó
khăn vì tư doanh phải chạy đua với cái cối đá giàng vào chân. Có nối
sợi dây cho dài hơn một chút mà gọi đó là cải cách thì cũng chưa giải
quyết được vấn đề.
Hỏi: Bây giờ ta mới đi vào phần chính của đề
tài, theo ông nhận xét thì đâu là những trở ngại đang chặn đà phát
triển của tư doanh Việt Nam?
- Tôi xin cứ đi từ nguyên tắc vào
tới thực tế. Doanh nghiệp tại Việt nam cần những gì để thành công? Tôi
nhìn ra bốn yếu tố chính là đất đai, tín dụng, nhân công và kỹ thuật
hay công nghệ về tổ chức, sản xuất và kinh doanh.
Doanh nghiệp
của nhà nước không bị ách tắc về đất đai vì nguyên lý quái gở là "đất
đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý"
được ghi trong Hiến pháp. Nhà nước quản lý theo kiểu cho phép doanh
nghiệp nhà nước rộng quyền sử dụng, buôn bán và trục lợi. Các doanh
nghiệp còn lại, của tư doanh Việt Nam và nước ngoài thì không. Đấy là
một trở ngại và một nguyên ủy của tham nhũng. Vấn đề này sẽ gây hậu quả
đáng ngại vì tiến trình kỹ nghệ hóa và đô thị hóa tất yếu sẽ thay đổi
mục tiêu sử dụng đất, từ nông nghiệp qua công nghiệp và dịch vụ. Mỗi
lần chuyển đổi mục tiêu là một ách tắc và cơ hội tham nhũng, những gì
đang xảy ra tại Trung Quốc cho thấy trước những gì sẽ xảy ra tại Việt
Nam.
Hỏi: Đó là về chuyện đất đai. Thưa ông, còn về yếu tố sản xuất kế tiếp là tín dụng thì sao?
-
Chúng ta cũng có một lệch lạc tương tự. Đó là bốn ngân hàng quốc doanh
cung cấp đến hơn 70% khối lượng tín dụng cho nền kinh tế thì lại tập
trung dồn cho doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nước ngoài thì có
nguồn vốn châm vào từ bên ngoài nên không bị ách tắc ấy, còn lại tư
doanh vẫn xếp hàng vay vốn, hoặc huy động vốn từ gia đình hoặc thân
nhân ở nước ngoài. Vì vậy, ta thiếu doanh nghiệp tư nhân loại trung và
hiếm có doanh nghiệp loại lớn.
Hỏi: Nhưng dù sao chính quyền tại
Việt Nam cũng có chương trình tín dụng theo diện chính sách để giúp đỡ
người dân, chương trình ấy không có kết quả gì sao?
- Thưa có
chứ. Do khuyến cáo của quốc tế để xóa đói giảm nghèo, Việt Nam có một
số chương trình tín dụng nhắm vào mục tiêu xã hội, chủ yếu là đối tượng
ở nông thôn và các tiểu doanh chứ không giải phóng tín dụng cho tư
doanh có khả năng dùng tư bản làm đòn bẩy.
Và hai ách tắc là đất
và tiền lại kèm nhau vì một lý do cụ thể. Khả năng thẩm xét rủi ro tín
dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn quá thô sơ, cơ quan cho vay
không lượng định được tiềm năng sinh lời nên cứ "nắm người có tóc", là
chỉ cho vay khi doanh nghiệp có tài sản cầm thế. Doanh nghiệp nhà nước
có đất đai để vượt cửa ải đó, chứ tư doanh thì không, nên nước lại chảy
về chỗ trũng dù nhiều doanh nghiệp nhà nước thực ra ít có triển vọng
sinh lời cao nếu không được nhà nước bảo vệ.
Hỏi: Bây giờ, nói đến yếu tố thứ ba là nhân công. Tư doanh Việt Nam tìm nhân công ở đâu?
-
Chúng ta đi vào ách tắc chung của cả xã hội là Việt Nam thiếu nhân công
có tay nghề và có khi lại thừa viên chức thanh tra, kiểm soát và tay cò
chạy việc bôi dầu cho bộ máy trơn tru. Trong lực lượng lao động thừa về
lượng và kém về phẩm thì tư doanh phải cạnh tranh rất gay với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước. Nếu nhìn xa
hơn viễn ảnh một năm thì đấy là ách tắc lớn khả dĩ cản trở sức cạnh
tranh của Việt Nam với nước ngoài. Ta đụng vào vấn đề của giáo dục và
đào tạo mà giới hữu trách trong nước nói là đang bị khủng hoảng.
Nhân
đây, xin nói là nhiều người đã tự mê hoặc là Việt Nam có tỷ lệ biết đọc
biết viết đến hơn 90% dân số nên cũng có mức dân trí được khen là cao
so với mức sống. Đấy là một huyền thoại để ve vuốt tự ái dân tộc. Biết
đọc biết viết rồi còn phải biết việc và biết phê phán nhà nước nữa.
Khủng hoảng trong hệ thống giáo dục hiện nay là một cản trở cho phát
triển.
Hỏi: Sau cùng, còn một yếu tố sản xuất khác là công nghệ hay kỹ thuật, tư doanh Việt Nam có bị ách tắc với yếu tố ấy hay không?
-
Trong kinh tế hay kinh doanh, yếu tố kỹ thuật ấy là xuất xứ của năng
suất. Nói chung, Việt Nam mở cửa trễ lại thiếu tự do nên có trình độ kỹ
thuật về tổ chức, sản xuất và kinh doanh thấp. Khi không biết thì mình
phải học. Ngoài giáo dục và đào tạo thì còn giải pháp chuyển giao công
nghệ từ nước ngoài. Nói chung, cho đến nay "học lóm" hay bắt chước nước
ngoài vẫn là quy luật phổ biến vì hệ giáo dục và đào tạo quá kém cỏi.
Doanh
nghiệp nước ngoài có năng suất cao nhất và từ đấy có thể là trung tâm
phổ biến kiến năng - tức là sự kiến thức và năng lực - cho doanh nghiệp
trong nước. Cho đến nay, tư doanh tiếp nhận được nhiều hơn quốc doanh
vì có tự do biến báo áp dụng cao hơn doanh nghiệp nhà nước. Nhưng, vì
chiến lược phát triển các khu chế xuất hay khu công nghiệp nên chuyển
giao kỹ thuật thường thu hẹp về nội dung và về địa dư trong các khu vực
ấy thôi. Một sự bù đắp cho đến nay chưa thẩm định được số lượng là
chuyển giao kỹ thuật từ người Việt ở nước ngoài về cho thân nhân đang
mở ra kinh doanh trong nước, chưa kể tới tiền bạc hàng năm gửi về.
Hỏi:
Bây giờ, sau khi chẩn bệnh rồi, ta đi qua giai đoạn kê toa bốc thuốc.
Ông nghĩ sao về những giải pháp Việt Nam cần áp dụng và sớm áp dụng?
-
Đầu tiên là từ cái đầu, ở trên cùng. Đó là hoàn toàn thay đổi tư duy và
thành thật giải phóng tư doanh. Việt Nam có tiến hay không là nhờ một
khối lượng tư doanh đông đảo và có khả năng lẫn ý thức của một thành
phần trung lưu, thành phần xưa kia bị kết tội là tư sản. Họ sẽ tiếp
nhận nguồn lực lao động từ nông thôn và hiện đại hóa Việt Nam trong thế
cạnh tranh có thắng lợi với bên ngoài. Đừng sợ tư doanh sẽ đe dọa độc
quyền chính trị của chính quyền.
Sau đó, ta mới đi vào loại giải
pháp chuyên môn mà thế giới đã giúp Việt Nam thi hành từ cả chục năm
nay rồi. Cứ theo quy trình của bốn yếu tố vừa nói thì phải cải cách chế
độ điền địa để việc chuyển hóa mục tiêu sử dụng đất đai được tiến hành
quy mô và đồng bộ trên cả nước. Từ đấy, phải quan niệm lại vai trò của
đất đai và quyền tư hữu. Nếu không thì chỉ có đảng viên thừa đất làm
nông trang hưởng nhàn, mà tư doanh không có đất phát triển tiềm lực.
Hỏi: Sau đó, cải tổ hệ thống tài chính ngân hàng để khai thông ác tắc về tín dụng phải không?
-
Thưa cùng với việc cải cách đó còn cần nâng cao khả năng thẩm định hồ
sơ cho vay và mở ra thị trường huy động vốn cho tư nhân. Nghĩa là phải
cải tổ cả hệ thống luật lệ liên hệ đến quyền sử dụng đất, luật lệ về
thị trường đất đai và tín dụng, thị trường tư bản. Nhìn rộng ra thì
phải nâng cấp hạ tầng cơ sở yểm trợ kinh doanh, như luật lệ về quyền tư
hữu, quyền thông tin, hoặc hệ thống vận chuyển và viễn thông - kể cả
giá điện thoại quá cao và chế độ kiểm soát Internet nữa. Tới nay, người
ta mới chỉ nghĩ đến việc yểm trợ và bảo vệ doanh nghiệp nhà nước mà
thôi.
Hỏi: Và sau cùng, ta nói đến lực lượng lao động và năng suất của lao động?
-
Ta không quên sự chuyển dịch dân số từ nông thôn về thành thị, từ nông
nghiệp qua công nghiệp và dịch vụ. Trong vài năm tới, Việt Nam phải đón
đầu vấn đề ấy và nâng cao khả năng sản xuất của một dân số rất trẻ và
năng động. Chất lượng của lao động vì vậy là vấn đề của cả xã hội. Và
trong kinh doanh, có lời có lỗ, ta mới chỉ thấy hệ thống an sinh và trợ
cấp trong khu vực nhà nước, tư doanh vẫn chưa có. Khi thất nghiệp, làm
sao sống còn và làm sao học được nghề khác để kịp thời quay trở lại thị
trường lao động sẽ thay đổi rất nhanh sau này? Đấy cũng là một vấn đề.