Ai trong chúng ta, những kẻ lưu vong, xa nhà lại không yêu quê hương?
Ai không có những kỷ niệm đẹp về thời thơ ấu để nhớ, để thương? Những
người thành thị chắc nhớ đến những khu phố ngóc ngách, những buổi tối
lên đèn, tiếng xe xích lô máy gầm rú nửa đêm về sáng, tiếng "xực tắc"
lẻ loi, lời rao hàng nghe như tiếng khóc của người bán hàng rong đêm...
Người thôn quê nhớ đến giọt sương trải trên vườn bàng bạc, con giếng
đầy ánh trăng, giọng ru em trong trẻo, và những câu hò lả lướt trên
sông...
Còn
tôi, một kẻ si tình, lãng mạn, yêu quê ngào nghẹn. Cứ nhớ đến quê
hương, nước mắt lại rưng rưng và trái tim quặn thắt. Có lẽ, tại Mẹ tôi
đã cho tôi ngắm cảnh đẹp quê hương từ những ngày còn thơ ấu.
Hồi
đó, từ khi tôi mới lên 5 tuổi, Mẹ tôi luôn cho tôi đi theo Người trong
những chuyến đi xa, lênh đênh qua nhiều vùng trên đất Bắc có rất nhiều
huyền thoại. Rời Hà Nội đến Phủ Lý, qua Nam Định, tới Hà Đông, Hà Nam,
vào Hải Dương, đến Kiến An, rồi Bùi Chu, Hải Phòng... và nhiều địa danh
tôi không thể nhớ hết.
Chỉ biết rằng những hình ảnh núi đồi
chập chùng sương khói, mầu đậm chen với mầu sương lam, những mảng vàng
rực rỡ tràn qua các vùng trắng xóa, những làn sóng bạc nhấp nhô trên
các tảng đá kỳ dị đen thẫm... đã khắc ghi những hình ảnh tuyệt vời vào
trí óc non nớt của tôi làm tôi mê mẩn suốt đời. Nhất là vào một buổi
chiều thu, đứng trước cửa sổ một căn lầu miền trung du nào đó, thấy một
mảnh "Đồi Thông Hai Mộ" với những thân cây mờ mờ ẩn hiện xa xa, trí óc
thơ ngây của tôi như tê dại. Mảnh đồi xanh xám có hai ngôi mộ song
song, chứa đựng một câu chuyện lãng mạn về một người tráng sĩ đã trúng
tên, lảo đảo giục ngựa chạy về với người con gái đang chờ đón, rồi gục
chết. Dì tôi, người chủ của căn lầu sương khói ấy, kể cho tôi hay,
người thiếu nữ ấy, sau khi vuốt mắt cho nguời yêu thì rút mũi tên oan
nghiệt kia mà đâm vào trái tim mình...
Nghe xong câu chuyện,
tâm hồn tôi như bồng bềnh theo mây, như một làn gió nhẹ bay đến đứng
trước hai ngôi mộ, và lặng lẽ cúi đầu... Tôi vẫn còn nhớ như in, Dì cho
tôi đọc cuốn thơ nói về "Đồi thông hai mộ" có trang sách dài và hẹp vẽ
hình người tráng sĩ cưỡi ngựa giữa một vùng mờ mờ nhân ảnh và trang bên
kia có người thiếu nữ tóc thả xuôi theo thân mình, ngồi nghiêng vai
nhìn xuống chàng tráng sĩ đang gục đầu trên đùi. Mũi tên hờ hững trên
lưng. Có lẽ, từ độ ấy, giòng máu lãng mạn và anh hùng của người tráng
sĩ kia đã từ từ thấm qua trái tim non nớt của tôi để sau này, mãi mãi,
tôi vẫn như dập dình trên vó ngựa.
Tôi cũng không thể nào quên
được những ánh đèn bão chao đi chao lại khi mẹ tôi giục tôi bước nhanh
xuống thuyền, buổi sáng chớm Đông nào đó. Tiếng chân lội trong nước bì
bõm. Tiếng người gọi nhau khe khẽ.
-Đâu? Đưa tay đây! Tôi nắm cho!
-Đây, tôi đây này!
-Cẩn thận đấy, sắn quần lên chưa? Nuớc đục lắm đấy!
Rồi
tiếng miếng ván gác từ bờ sông tới thuyền kẽo kẹt. Và mui thuyền đan
bằng tre hiện ra trước mắt. Bên trong là tấm chiếu hoa chập chờn sáng
dưới sự đu đưa của cây đèn bão khác được treo tòong teng trong mui
thuyền. Tôi ngồi dựa đầu vào lòng Mẹ tôi, lắng nghe tiếng chèo khua
nước lõng bõng đâu đây.
Qua một đêm với giấc ngủ bập bềnh,
buổi sáng, mặt trời hiện lên rực rỡ. Những tia nắng vàng óng ánh tràn
ngập chung quanh tôi. Được dìu lên ngồi trên nóc mui thuyền, tôi ngắm
mê mải những cảnh vật trên bờ liên tiếp thay đổi. Các mái nhà nhỏ xíu
xa xa. Bãi cát sát bờ sông cũng vàng rực, chan hòa trên các khóm cây,
bụi cỏ. Bất chợt tôi thấy dưới chân một dẫy núi xa xa, một đàn ngựa non
đang đùa giỡn tung tăng. Bỗng đâu, một chú ngựa non đứng thẳng trên hai
chân sau, cất tiếng hí vang dài trong không gian vắng lặng. Tiếng hí
của chú vang dội trong óc tôi như tiếng kèn đồng diễn hành ngày nào
trên phố Hà Nội, nhưng độc đáo hơn, nhọn sắc hơn, xuyên thẳng vào tim
tôi làm tôi chết lặng. Tôi say sưa ngắm bức tranh thiên nhiên đồng quê
ấy đến nỗi người phu thuyền tôi lay tôi vài lần mới tỉnh.
-Ơ! Cái thằng bé này! Làm gì mà như mất hồn vậy? Mẹ đang gọi kìa!
Tôi bẽn lẽn đưa tay cho anh phu thuyền dìu xuống khỏi mui, nhưng mắt vẫn ngoái nhìn đàn ngựa tung vó xa xa.
Rời
thuyền, tôi theo Mẹ đi xe kéo trong tỉnh lị nhỏ, đến nhà một ông cậu
nào đó, leo lên gác, buớc qua tấm bình phong khảm xà cừ để thấy hai
nguời đàn ông nằm bên khay đèn thuốc phiện. Khói thuốc vờn quanh một
nguời phụ nữ trắng ngồi tiêm thuốc. Trên vách, một bức tranh tiên nữ
Trung Hoa cũng đang lả luớt với những giải luạ uốn luợn và bộ xiêm áo
xổ tung. Ngay đầu nằm cuả hai tiên ông, ba bốn chú tắc kè mập mầu xám
trắng, đang say thuốc phiện, há mồm ngây dại hít từng luồng khói thuốc
do hai ông tiên nhả ra. Ông cậu cuả tôi, thấy tôi mê mẩn ngắm mấy chú
tắc kè, chỉ tay vào chúng, hể hả:
-Này, thích chưa? Thích thì cậu cho một con.
Rồi
ông ngồi dậy, với tay lấy chiếc điếu thuốc lào cũng chạm trổ bằng xà
cừ, nhét một nắm thuốc lào vào, châm lửa, rít một hơi say sưa. Đoạn ông
chu miệng thổi ra một làn khói dài cho bay mù mịt khắp căn phòng. Thở
xong, ông mới nhìn tôi cuời:
-Này, nhưng cậu nói cho cháu biết,
mấy con tắc kè đó hả, có các vàng, chúng nó cũng không chịu bỏ đi.
Chúng nghiện còn hơn cậu nữa!
Ông cuời ha hả, thích thú một hồi
rồi mới nhìn sang Mẹ tôi lúc đó, kiên nhẫn ngồi tiêm một miếng trầu cho
vào miệng, nhai chậm rãi:
-Chị có hút không? Thuốc lào Nam Định đó. Không bằng thuốc lào Vĩnh Bảo cuả chị, nhưng cũng ngon tuyệt.
Mẹ
tôi chỉ ậm ừ cho qua. Hai mẹ con ở đó chừng một buổi, ăn một bữa cơm
gạo thơm với giò luạ, dưa cải, và thịt đông rồi lại ra đi vào sáng sớm.
Khi bình minh chưa lên, Mẹ tôi dắt tay tôi đi về phía chợ. Cả ngôi chợ
cũng còn đang ngủ. Chỉ có một gánh bánh cuốn nóng đầu chợ. Từ xa, tôi
đã thấy gánh bánh cuốn nổi bật lên trong đêm vì ánh đèn treo đung đưa
trên đầu quang gánh. Nguời phụ nữ bán hàng chít khăn mỏ quạ đon đả mời
chúng tôi ngồi xuống trên hai chiếc ghế con con. Bà thoăn thoắt bóc
từng lát bánh cuốn ra đĩa, cắt xoen xoét, rồi thả mấy lát gìo luạ lên
trên, ruới nuớc mắm vào.
Chao ôi! Chắc trên đời này không có
món gì ngon bằng đĩa bánh cuốn nóng hổi đó, buổi sáng lành lạnh, suơng
mờ, ánh đèn lung linh truớc một không gian còn đen thẫm, khuôn mặt
nguời phụ nữ sáng bừng lên với nụ cuời tuơi nở, hai mẹ con yên lặng
thuởng thức huơng vị thơm nồng cuả nuớc mắm, xuýt xoa với ớt cay, ngọt
miệng với mầu trắng tinh nõn nà như luạ cuả từng lát bánh cuốn mỏng...
Tôi chia tay với gánh bánh cuốn nóng sáng hôm đó như chia tay một tình
nhân nhỏ bé như tôi, một cậu bé còn mắt tròn như hai viên bi thuỷ tinh
xanh biếc.
Những kỷ niệm chập chùng trong tôi laị đưa tôi về
lần đi "ca nô", một loại phà cũ kỹ, trông như một cái hộp, không có
giuờng, không ngăn, chạy ọc ạch, thở phì phò như nguời sắp chết, lẩn
quẩn ven sông. Từ trên bờ xuống "ca nô", hành khách phải buớc đi trên
một tấm ván nhỏ, rung động duới từng buớc chân, đã bao lần hất hành
khách văng xuống sông, khi có hai ba nguời cùng mang đồ nặng xuống một
luợt. Mẹ con tôi vội vã kiếm đuợc một chỗ ngồi dưạ vào vách tầu xong là
Bà mở túi lấy ra một gói cơm nắm nhuyễn như bột, vài lát giò luạ, vài
con tôm rang đỏ để ăn sáng.
Hai mẹ con im lặng ăn trong khi
khách đi thuyền thì ồn ào tìm chỗ lăn ra ngủ ngay trên sàn tầu. Họ nằm
giáo đầu đuôi như cá hộp, chân nguời nọ đạp vào đầu nguời kia. Chỉ một
lúc sau khi tầu rú lên một tràng còi ghê rợn, và xành xạch tách bến, có
nguời đã ngáy khò khò. Ba bốn nguời bỏ bài ra đánh, cãi lộn um xùm.
Ăn
xong, Mẹ tôi lấy ra một cuốn truyện, đưa cho tôi đọc. Hồi ấy, tuy mới
học Tiểu học đuợc hơn một năm, tôi đã có khả năng đọc truyện làu làu.
Mẹ tôi thích lắm, đi đâu cũng mang truyện theo và bảo tôi đọc cho Bà
nghe. Những cuốn "Đôi Bạn", "Đoạn Tuyệt", "Nửa chừng xuân", "Hồn buớm
mơ tiên", "Gánh hàng hoa"... cuả Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam...
trong Tự Lực Văn Đoàn, tôi đọc gần hết. Đọc trên tầu thuỷ, đọc trên
thuyền đinh, đọc cạnh võng nơi Bà nằm thiu thiu, đọc trên giuờng ngủ
truớc khi hai mẹ con nhắm mắt... Tôi vừa đọc vừa nhập hồn vào cốt
truyện. Đoạn giận dữ, tôi cao giọng lên. Đoạn tình tự, tôi nhỏ giọng
xuống. Có lẽ vì đọc những câu truyện lãng mạn cổ điển kiểu xưa ấy từ
khi trí khôn tôi mới mở, cho nên tâm hồn tôi, sau này cũng lãng mạn,
cũng dở dở dang dang. Nhưng trên hết, tôi đã yêu quê huơng tôi từ dạo
ấy. Tôi yêu những nhân vật cùng khổ, quanh năm suốt tháng lặn lội, long
đong, chỉ kiếm đủ ăn mà không cần đủ mặc. Yêu anh thợ hồ, yêu chị bán
hàng. Yêu những con nguời can đảm, dứt bỏ ái tình để theo sự nghiệp
giang hồ. Yêu nhân vật Dũng, vai đeo đàn, tay xách túi, vạch lau lách
buớc xuống thuyền, để lại sau lưng một cặp mắt thăm thẳm. Và thuơng đứt
ruột khi nghe chị Lực thều thào: "Thằng Bò, Cái Nhớn, Cái Bé...Thôi,
anh phải sống..." rồi chị lẳng lặng buông tay bám vào vai anh, để chìm
duới làn nuớc lạnh lùng trôi xuôi...
Nuớc mắt tôi chan hoà,
dàn duạ mỗi khi có con nguời bất hạnh gặp chuyện đau thuơng. Máu tôi
sôi sục lên khi thấy nguời bị ức hiếp. Tôi căm ghét những bà Phán, Thầy
Thông, Thầy Ký, Tri Huyện, Tri Phủ... những con mọt dân, những đưá, mà
theo tôi, không "đáng giống nguời"... Cho nên, khi lên gần 10 tuổi, có
lần mẹ tôi gửi tôi ở nhà một bà Phán để Bà đi buôn xa, tôi ghét cay
ghét đắng con bé Liên, cũng nhàng nhàng tuổi tôi, con bà chủ nhà cho
tôi ở nhờ. Mặc dù, bà Phán đối với tôi tốt như con ruột, một điều "con
ơi, ra đây ăn bánh giò đi!", hai điều "Cậu út cuả tôi đâu rồi?"... và
con bé Liên, xinh đẹp, mũm mĩm, trắng nõn, thơm mùi con nhà giầu, lúc
nào cũng quấn lấy tôi, nhõng nhẽo, tôi cứ lờ đi, khinh khỉnh. Để tránh
đuợc cưng chiều từ mẹ đến con, tôi cứ cắm đầu vào đọc sách, tủ sách
khổng lồ cuả ông Phán, không biết bao nhiêu là sách. Đến khi bà Phán
gợi ý muốn nhận tôi làm con nuôi, tôi dẫy ra, chống cự như điên.
-Này,
cậu út nhé, cậu mà làm con tôi thì tha hồ muốn gì đuợc nấy nhé! Kẹo,
bánh này! Quần áo này... Cậu lớn lên, tôi mua cho cậu cả chiếc xe hơi
nữa! Tội gì theo mẹ đi buôn bán cực khổ như thế!
Những lời chào
mời hấp dẫn thế, tôi lờ tuốt. Chỉ vì trong đầu tôi cứ hình dung ra
những nguời mang tên "Phán" đều độc ác, đểu giả, lừa gạt ái tình như mụ
Phán Phom trong "Số Đỏ" cuả Vũ Trọng Phụng cả. Những tay truởng giả già
thì một lũ giống như ông già mất nết, hết răng trong "chị Dậu", đã bú
sữa nguời rồi lại còn đòi làm bậy với chị nữa làm chị phải bỏ chạy ra
đuờng trong một đêm tối trời như mực.
Cho nên, khi cái con Liên cứ dứ dứ cái kẹo Tây truớc mặt tôi, dụ dỗ, tôi phát bẳn.
-Đằng í ăn kẹo không?
Tôi dấm dẳng:
-Chả í với éo gì cả!
Con Liên chu mỏ lên:
-Thế, đằng í muốn tớ gọi bằng anh à?
-Anh gì, anh đóng đanh lỗ đít!
Con nhỏ xụ mặt xuống, hậm hực phủi tay, rồi ngoe nguẩy bỏ đi.
Việc xin con nuôi vì thế mà bất thành. Mẹ tôi thì chỉ cuời nhẹ nhàng:
-Con có muốn làm con nuôi bà Phán không?
Tôi
giận dữ, luờm mẹ tôi một cái dài dễ sợ. Mẹ tôi không biết rằng, ngoài
tình mẹ con ra, tôi còn tình quê huơng chan chưá. Bà cũng không nhớ
rằng, để thêm vào các cuốn truyện sách tôi đã đọc, chính Bà đã làm tôi
mê quê huơng hơn khi Bà vẫn đọc thơ cho tôi nghe, những bài Giáo Huấn
Ca, thơ vịnh các Thánh, và một số bài thơ "cách mạng" nói về một tay
tri huyện theo Tây bị "cách mạng" giết, hoặc kêu gọi cải cách dân
sinh... Lâu lâu, bà cũng đọc ít Kiều, hay Chinh Oán ngâm khúc, hoặc
Chinh Phụ Ngâm, những đoạn bốc đầy hào khí.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thuớc guơm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngưạ
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao...
Tất
cả những lời thơ ấy, cốt truyện ấy cùng bao nhiêu hình ảnh tôi gặp trên
đuờng phiêu lưu đã gieo vào đầu tôi những ấn tuợng quê huơng khó quên.
Để đến khi lớn lên, lại vì hoàn cảnh mà tôi bỏ nhà đi từ năm 17 tuổi,
giang hồ trôi nổi trên những con tỉnh lộ Hậu Giang, Tiền Giang, nhìn
lục bình trôi trên sông Sa Đéc, ngắm Long Xuyên qua Bến Bắc đục lờ,
ngồi bên bến Cần Thơ nhìn chiều chạng vạng xuống, nằm trong những khách
sạn rẻ tiền nghe những cô điếm gấu ó, và nhất là khi đi qua những chiếc
cầu khỉ chênh vênh, tôi lại thuơng đất nuớc hai miền Nam Bắc tha thiết.
Để đến một ngày, tôi ngồi trên chiếc Mobilette cuả thằng bạn thân đến
trình diện tại Sân Cộng Hoà, tình nguyện đi lính, rồi cũng tình nguyện
chọn đơn vị là Cà Mâu hay Bến Hải, nhưng rất tiếc, giấc mơ đuợc đứng ở
điạ đầu đất nuớc không thành.
Cuộc sống lính tráng tôi không
lênh đênh như ngày xưa còn trẻ. Rồi mất nuớc. Tù ngục. Vuợt biên. Càng
ngày, quê huơng càng hiện rõ lên những mất mát, đau thuơng. Mẹ Việt Nam
cũng như Mẹ tôi, điêu đứng, lênh đênh. Nên tim tôi, cho đến cuối cuộc
đời, vẫn tràn đầy tình quê huơng ngào nghẹn.
Chu Tất Tiến