Tại
Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản gây ra sự phân tầng xã hội đầy ý nghĩa và
xung khắc giai cấp đang gia tăng. Liệu sự kiện ấy có đẩy xứ sở ấy tới
một chế độ dân chủ kiểu phương Tây, ít ra trong một tương lai gần? Câu
trả lời của tôi là không. Lý do độc nhất và quan trọng là, sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản và sinh hoạt chính trị có tính giai cấp tại
Trung Quốc trông không có vẻ tạo ra một sức ép xã hội thân dân chủ mãnh
liệt hoặc hình thành một kiểu mẫu liên minh giai cấp ủng hộ dân chủ
hóa.
Nhiều sinh viên môn chuyển tiếp dân chủ đã phân loại chúng theo hai
mô hình rộng rãi. Cái thứ nhất tôi sẽ gọi là mô hình cấu trúc, nhấn
mạnh tầm quan trọng của các điều kiện kinh tế xã hội rộng rãi, làm
thuận lợi cho sự dân chủ hóa, hoặc ít nhất làm chuyển đổi hẳn một chủ
nghĩa toàn trị đã phát triển đầy đủ. Cái được liệt kê thứ hai là kiểu
mẫu chuyển tiếp trên căn bản “thỏa ước” hoặc “thương lượng”, đặt trọng
tâm vào những chọn lựa có tính chiến lược và những tương tác của giới
tinh hoa chính trị trong việc gây ra “sự đoạn tuyệt với toàn trị” và
“sự mở màn dân chủ.” Kiểu mẫu thứ hai này không loại trừ các sức ép có
tính cấu trúc nhằm thay đổi để có dân chủ, và đang được ưa chuộng nhất
trong giới nghiên cứu về các cuộc chuyển tiếp theo “đợt sóng thứ ba” kể
từ năm 1974. Thế nhưng kiểu mẫu này dường như khó có thể áp dụng tại
Trung Quốc. Trong hầu hết các cuộc chuyển tiếp do thương lượng thì ở đó
đã có sẵn truyền thống xã hội dân sự và đối lập chính trị có tổ chức
khiến có thể làm cho giới tinh hoa (các lãnh tụ đương nhiệm hoặc các
lãnh tụ đối lập) chơi trò mặc cả. Nhưng điểm khởi hành của Trung Quốc
là từ một chế độ toàn trị, do đó, nếu có xảy ra thì không xảy ra trong
một bối cảnh như vậy. Thế cho nên để nắm bắt những quĩ đạo khả hữu của
sự chuyển tiếp tại Trung Quốc, chúng ta phải quay lại kiểu mẫu thứ
nhất, cái có tính cấu trúc.
Kiểu mẫu ấy đi vào nhiều biến thể mà ở đây chúng ta chưa cần dừng
lại để liệt kê đầy đủ. Chỉ cần nói rằng cái ý nghĩa quan trọng nhất
trong việc áp dụng nó tại Trung Quốc, theo quan điểm của tôi, là cái mà
tôi gọi là kiểu mẫu cổ điển có tính cấu trúc (classical structural model).
Ðược rút tỉa chủ yếu từ kinh nghiệm lịch sử của châu Âu, biến thể này
có thể rọi ánh sáng lên các câu hỏi quyết định về tương lai của Trung
Quốc: Chính xác thì cái gì sẽ là đầu tàu cho sự dân chủ hóa tại một xứ
sở vốn không có lịch sử, truyền thống hoặc văn hóa dân chủ? Mấy chục
năm giải phóng kinh tế và những thay đổi có tính hệ quả trong cấu trúc
của xã hội Trung Quốc vừa qua đã khiến kinh nghiệm châu AÂu trở thành
thích đáng hơn bao giờ hết.
Kết quả cuối cùng thì rõ ràng: đời sống chính trị của Trung Quốc đang diễn ra trong một bối cảnh chính trị mới mẻ đối với Trung Quốc nhưng cũng quen thuộc đối với một số không ít các trường hợp lịch sử trước đó,
và do đó, cần phải tiên đoán một cách công bằng và tích cực, ít nhất về
những nét đại cương với điều kiện là những vấn đề thiết yếu của cái
kiểu mẫu cấu trúc cổ điển đó được duyệt xét một cách trí tuệ dưới ánh
sáng của tình huống tạo nên trường hợp Trung Quốc — và quả thật, với
hết thảy các trường hợp “mới đây” — tách biệt hẳn các trường hợp “lịch
sử” trước kia.
Thế thì cái gì phân chia các nhà dân chủ “mới đây” và các nhà dân
chủ “lịch sử”? Cho tới khoảng nửa thế kỷ trước, phong trào hướng tới
dân chủ là một quá trình tăng trưởng lâu dài mà có thể truy tầm nguồn
gốc của nó nơi truyền thống của chủ nghĩa đa nguyên chính trị. Quá
trình hướng tới dân chủ tự do xảy ra chống lại một bối cảnh chính trị
rộng lớn trong đó rõ ràng là mọi bộ phận cấu thành dân chủ, thí dụ sự
phân quyền, cai trị theo hiến pháp, quyền tối thượng và độc lập của
quốc hội, đã được định chế dần dần. Dân chủ trở nên đầy đủ hơn khi
quyền bỏ phiếu được mở rộng hơn bao giờ hết cho các tầng lớp nhân dân
trên qui mô lớn hơn.
Trong hầu hết các trường hợp đương đại — gồm Trung Quốc — các chế
độ trước đó đều là chế độ chuyên quyền, thiếu một cái gì đó hơn là cái
vẻ bên ngoài của các cơ chế dân chủ tối thiểu, và gần như loại khỏi
chính quyền mọi giai cấp xã hội. Tuy thế, cả trong trường hợp đó, dân
chủ — bao gồm phổ thông đầu phiếu — được đề ra cho đúng với nguyên tắc
dù bị coi rẽ trong thực hành. Thế thì sự dân chủ hóa chân chính — nếu
nó xảy ra — sẽ xảy ra theo cái mà Ruth Brins Collier gọi là “một chương
hồi cải cách độc nhất trong cuốn truyện dài thay đổi chế độ sâu rộng”,
trong đó hết thảy các nhóm xã hội đều có quyền bầu cử và ứng cử. [1]
Từ cái đó, phát sinh những ứng dụng nào? Phần vì các chế độ toàn
trị đương đại không thể chứng minh bằng nền tảng ý thức hệ nên chúng bị
ám ảnh bởi vấn đề chính thống. Tại Trung Quốc nơi ý thức hệ Mác-xít
không còn bám riết con tim và khối óc và nơi mà nền kinh tế đang càng
ngày càng hội nhập cộng đồng quốc tế trong đó tự do và dân chủ chiếm ưu
thế, nền tảng đạo đức và ý thức hệ của sự cai trị xuất phát từ Ðảng
Cộng sản Trung Quốc (ÐCSTQ) bị xói mòn đáng kể. Tuy thế, đối với người
Trung Quốc, ngoại trừ sự dan díu đầy lãng mạn phù phiếm và ngắn ngủi
với chế độ đại nghị vào lúc mới bắt đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa toàn trị
bao giờ cũng là cách thế “bình thường” trong đời sống chính trị của họ.
Do đó, trong bối cảnh Trung Quốc, chủ nghĩa toàn trị không cần được
chứng minh bằng các thuật ngữ thuần túy chính trị. “Tính chính thống”
của nó có thể được giải thích thỏa đáng theo Max Weber “chính quyền của
‘muôn thuở hôm qua’...của những tập tục được làm cho có vẻ hợp pháp qua
sự công nhận từ đời nảo đời nao không mường tượng nổi và sự định hướng
làm thành tập quán tuân thủ.” [2]
Các chế độ toàn trị khác có thể phải dựa, tới một cấp độ biến thiên nào
đó, vào sự hợp tác và giúp đỡ của những người hoạt động trong khu vực
tư nhân để sống còn. Tại Trung Quốc, quan hệ đó thì đảo ngược, bất chấp
tầm quan trọng kinh tế và ảnh hưởng chính trị của khu vực tư đang gia
tăng.
Mặc dù các nhóm học giả và nhà nghiên cứu phương Tây đều đồng ý với
nhau về sự nới rộng các tự do cá nhân và chủ nghĩa đa nguyên kinh tế xã
hội tại Trung Quốc, khả năng khống chế xã hội Trung Quốc của Ðảng và
nhà nước cộng sản không bị xói mòn đáng kể. Cho tới nay, chế độ của
ÐCSTQ nới lỏng sự kiểm soát toàn xã hội hoặc buông bỏ phần nào cái sức
mạnh có tính định chế của nó không phải do bởi sức ép ở trong nước hoặc
quốc tế nhưng nói chung do bởi nghị trình của đảng và nhà nước, một
nghị trình có phần nào — nhưng chỉ phần nào thôi — bị chế ngự bởi các
yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang bắt đầu nảy nở.
Làm thế nào công cuộc dân chủ hóa có thể phát sinh dưới một nhà
nước toàn trị và gần như tối thượng như thế? Ðộng lực cơ bản hoặc sức
mạnh thúc đẩy dân chủ hóa sẽ phát xuất từ đâu? Và làm thế nào nó có đủ
sức mạnh? Vì một số lý do, sức ép từ hải ngoại có vẻ như không đóng vai
trò quan trọng trong việc chuyển dịch Trung Quốc tới dân chủ. Ngược
lại, dân chủ hóa đòi hỏi sức ép cực độ từ bên trong, một sức ép mà chỉ
các nhóm xã hội có sức mạnh mới có thể đảm đương nổi. Nhưng liệu có
phát sinh được sức ép đó không? Ðặc biệt nó tùy thuộc vào vấn đề chủ
chốt và sau cùng mà kiểu mẫu cấu trúc cổ điển trình bày sức mạnh giải
thích được của nó.
Phân tầng xã hội và những xung khắc giai cấp
Tại cốt lõi của kiểu mẫu này là quá trình phát triển tư bản chủ
nghĩa. Tư bản chủ nghĩa đưa tới sự phân chia và cân bằng hỗ tương các
sức mạnh kinh tế và chính trị. Nó cũng tạo ra sự phân tầng xã hội và sự
đa dạng hóa các quyền lợi giai cấp, chuyển thể nhà nước thành đấu
trường ở đó những xung khắc quyền lợi được giải quyết bằng đấu tranh.
Vì những lý do này và những lý do nọ, chủ nghĩa tư bản có lô-gic thân
dân chủ và chẳng có lý do đặc biệt nào để tin rằng Trung Quốc không bị
nó thẩm thấu. Những cải cách mang tính thị trường suốt mấy thập niên
vừa qua đã làm phát sinh những sức mạnh kinh tế độc lập đối với sự kiểm
soát của nhà nước và xói mòn các trụ cột kinh tế xã hội của quyền bá
chủ cộng sản chủ nghĩa. So với nhà nước tư bản, nhà nước Trung Quốc vẫn
mạnh hơn rất nhiều nhưng nó không thể hoàn toàn lãnh đạm với xã hội, và
quả thật, ngày nay nó cần tới sự giúp đỡ của xã hội hơn bao giờ hết để
cai trị có hiệu quả. Khi xã hội Trung Quốc tiếp tục bị phân biệt và
phân tầng thì sinh hoạt chính trị giai cấp trở thành một vấn đề mà
ÐCSTQ phải đếm xỉa tới.
Dưới thời Mao, không có giai cấp xã hội hiểu theo nghĩa kinh tế.
Ngoại trừ các “kẻ thù của giai cấp”, hầu hết người dân Trung Quốc hoặc
là “công nhân” lao động trong các công ty xí nghiệp do nhà nước làm chủ
hoặc là “nông dân” canh tác trong các “công xã nhân dân”. Trong các
thập niên sau-Mao, có vẻ như một phần ba nông dân bỏ việc cày cấy để
tìm những việc làm phi nông nghiệp. [3]
Còn nữa, giai cấp lao động mà đẳng cấp của chúng từng phình lên ngày
nay vỡ thành tầng lớp có khả năng ngoi lên thành giới cổ trắng vững
vàng hoặc tầng lớp bị sa sút thành các nhóm nghèo khổ, thậm chí “hạ
cấp” (underclass – dưới-giai-cấp).
Ngày nay, trong các thành phố lớn của Trung Quốc, nói chung người
ta có thể nhận thấy có phẩm trật bốn giai cấp. Ở trên chóp đỉnh là tầng
lớp trưởng giả thượng hạng và ít ỏi, gồm các doanh gia thành công nhất.
Kế đó tới giai cấp trung lưu gồm các doanh gia nhỏ hơn, các quản trị
viên và các công nhân cổ trắng làm việc cho công ty nước ngoài hay công
ty tư doanh lớn, và các chuyên gia. Hai giai cấp phát đạt này chiếm có
lẽ không hơn 13% dân số đô thị, biến họ thành 5% tổng dân số cả nước. [4]
Ðứng bên dưới hai giai cấp phồn vinh ấy là giai cấp lao động gồm đa
số nhân dân Trung Quốc. Nằm dưới đáy xã hội là giai cấp “hạ cấp” với
lợi tức thấp hơn mức chỉ đủ sống để tồn tại. Trong những năm vừa qua,
tình trạng đông đảo công nhân công ty quốc doanh không công ăn việc làm
đã mở rộng giai cấp “hạ cấp” này tới một kích cỡ có ý nghĩa quan trọng
về mặt chính trị, có lẽ đang đạt tới con số 50 triệu cư dân thành phố
trên toàn lãnh thổ. [5]
Tại Trung Quốc, hoạt động chính trị giai cấp bị khích động bởi sự
kết hợp của sự phân tầng xã hội đang sâu sắc, sự mất tinh thần đang gia
tăng vì thất bại của chế độ trong việc xóa đói giảm nghèo và sự tức
giận ngày càng cao đối với tham nhũng và những chênh lệch sâu rộng liên
quan tới phát triển kinh tế do nhà nước lãnh đạo. Năm 1998, Ngân hàng
Thế giới — dùng một phương pháp không tính đến lợi tức phi pháp của
viên chức nhà nước — đã ước lượng chỉ số Gini của Trung Quốc với con số
đáng lo ngại là 40,3 (từ số 0 biểu hiệu cho tình trạng hoàn toàn bình
đẳng lợi tức tới số 100 biểu hiệu cho hoàn toàn bất bình đẳng [6]
. Chỉ số ấy đặt Trung Quốc ngang tầm chất lượng với các nước như
Bolivia (42.0, 1990), Phi Luật Tân (46.2, 1997) và Peru (46.2, 1996).
Bản báo cáo chính thức tiết lộ rằng mặc dù đã thực hiện nhiều nỗ lực
xóa đói giảm nghèo ở đô thị, vẫn còn 30 triệu thị dân kiếm chỉ vừa đủ
sống [7]
Ðối với nhiều người, sự chênh lệch lợi tức ngày càng lớn giữa người
Trung Quốc dường như dính líu nhiều tới các gian trá và tham nhũng
chính trị hơn là tới những nỗ lực lương thiện của thị trường tự do.
Ðiển hình là các nhà tư bản tạo dựng tài sản bằng thông đồng với viên
chức thư lại bất lương hoặc nắm lợi thế trong tình trạng thị trường hỗn
độn để khỏi bị trừng phạt vì những thủ đoạn vô đạo và phi pháp. Khi các
công ty quốc doanh chuyển biến thành các thực thể tư doanh, chia cổ
phần, thí dụ nhiều giám đốc do nhà nước bổ nhiệm có thể dùng địa vị của
mình để làm “tay trong” và thành người giàu có trong khi đó số lượng
đông đảo công nhân “thừa” hoặc “không sinh lợi” của các xí nghiệp quốc
doanh cũ bỗng thấy mình có mặt trên đường phố.
Tình trạng thiếu các kênh được định chế hóa để nói lên quyền lợi
của giai cấp hoặc thiếu đấu trường chính trị hợp pháp để cạnh tranh
giai cấp khiến người ta không có khả năng đánh giá chính xác chiều sâu
của những phân chẻ giai cấp trong xã hội. Nhưng một báo cáo mới đây của
Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc — trong đó có phần dựa trên những
nghiên cứu được xúc tiến tại một số thành phố kỹ nghệ “tiêu biểu” — đã
cung cấp vài dữ kiện xác minh tình trạng leo thang của chiến tranh giai
cấp. Theo bản báo cáo ấy, chỉ có 10,6% người được nghiên cứu thấy rằng
không có “xung khắc quyền lợi” [xã hội hoặc giai cấp] trong khi đó
89,4% nghĩ rằng đang có “các xung khắc” giữa một số hoặc tất cả các
giai tầng hoặc giai cấp xã hội. Các nhóm xã hội có ý thức “đấu tranh
giai cấp” mạnh mẽ nhất là các doanh gia tư nhân (100%) và các công nhân
bị sa thải (90,5%). Tại hai thành phố Thiên Tân và Chân Ninh, tỉ lệ
phần trăm các công nhân kỹ nghệ được thăm dò than phiền về lợi tức “bất
bình đẳng” tương ứng với mỗi nơi là 81% và 89%. [8]
Có bằng chứng ngày càng nhiều là sự đối kháng giai cấp không còn chỉ
nằm trên giấy tờ nhưng đã phát sinh những yêu cầu đặc biệt trên căn bản
giai cấp đặt ra cho nhà nước. Tại thành phố Hạ Phì, khoảng 85% công
nhân kỹ nghệ, dù đang có việc làm hoặc thất nghiệp, nói rằng họ muốn
chính phủ đánh thuế người giàu nặng hơn và tăng trợ cấp xã hội cho
người nghèo; ngược lại các doanh gia tư nhân thì phản đối cả hai ý
tưởng đó với tỉ lệ 3 chống 1. Tại thành phố Hán Xuyên, 84.4% người lao
động nông nghiệp khẩn khoản yêu cầu có những biện pháp tái phân phối có
hiệu quả để điều hướng sự bất bình đẳng lợi tức. [9]
Sinh hoạt chính trị và các giai cấp mới
Như lịch sử cho thấy, phát triển tư bản chủ nghĩa có thể sinh ra
những nhóm xã hội thúc đẩy cho dân chủ. Dân chủ cũng có thể phát sinh
như là phó sản của cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội khi không một
giai cấp đơn độc nào có thể giành được quyền lực, do đó tất cả các giai
cấp đều đồng ý về những nguyên tắc cạnh tranh. Liệu Trung Quốc hiện có
một giai cấp hoặc nhiều giai cấp thân dân chủ không? Liệu có thể tiến
tới một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) để thúc đẩy dân chủ?
Ðể trả lời hai câu hỏi đó, chúng ta cần khảo sát ba vấn đề liên hệ: 1)
bản chất của cuộc đua tranh giữa các giai cấp; 2) mối quan hệ giữa mỗi
giai cấp và nhà nước; và 3) các giai cấp khác nhau thẩm định thế nào về
những hiệu quả bắt nguồn từ các sản phẩm dân chủ như chủ nghĩa đa
nguyên chính trị, chủ nghĩa đa đảng, các cuộc bầu cử tự do, và sự cai
trị của đa số.
Không giống hầu hết các giai cấp tương tự ở những nơi khác, các
giai cấp giàu có mới phất của Trung Quốc có vẻ không ủng hộ dân chủ.
Một là, sự bất ổn kinh tế và sự tuân phục chính trị bao giờ cũng là vận
may của họ; cho dù có giai cấp loại này không là thành tố phụ và trực
tiếp của các quan chức chính trị nhũng lạm đi nữa, họ vẫn phải lệ thuộc
sâu xa vào các tài nguyên đang bị nhà nước độc chiếm. Ðiều độc đáo là
chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc vẫn ở trong tầm kiểm soát của ÐCSTQ và
những người Trung Quốc thuộc giai cấp trung lưu làm ăn phát đạt là nhờ
thị trường thiếu sự quản lý hoàn toàn chủ động của nhà nước nên họ có
nhu cầu biến sự phát đạt kinh tế của mình thành phát đạt chính trị.
Còn nữa, tình trạng xung khắc giai cấp đang tăng cường độ và sự sợ
hãi của vô số người nghèo đang dồn người giàu từ tư thế thụ động chấp
nhận chủ nghĩa toàn trị tới tư thế tích cực ủng hộ nó. Ðối với Trung
Quốc, mặc dù một động lực như thế hầu như không là độc nhất, những tình
huống đặc biệt có khuynh hướng khích động và làm tồn tại mãi mãi sự đối
đầu giai cấp của Trung Quốc theo chiều hướng đưa tới sự hòa giải có
tính dân chủ giữa các giai cấp — mà không dính dáng gì tới sự hình
thành một liên minh của nhiều giai cấp và thân dân chủ — thì rất không
chắc sẽ xảy ra.
Trường hợp Trung Quốc phù hợp với kiểu mẫu đấu tranh giai cấp cổ
điển của số ít người giàu chống lại số đông người nghèo. Tuy thế, tại
Trung Quốc, sự tập trung cao độ tài sản làm người giàu có sức mạnh vượt
trội trong cuộc đấu tranh ấy cho dù sự ít ỏi về số lượng khiến họ cảm
thấy mình yếu và dễ bị thương tổn khi đối mặt với khối đa số người
nghèo. Trong các cuộc phỏng vấn của tôi với những người Trung Quốc phát
đạt, họ phô bày mối thiện cảm đáng kể khi dân chủ được coi ngang với sự
cai trị của luật pháp. Khi dân chủ được định nghĩa chủ yếu như là sự
cai trị của đa số, mối thiện cảm ấy trở thành nghi ngại. Và khi mô tả
thêm nữa về sự cai trị của đa số, như một trò chơi đơn giản bằng các
con số trong đó con số lớn nhất sẽ lập chính sách thì hầu hết họ không
thể chấp nhận. [10]
Khoảng thời gian ngay trước cuộc dân chủ hóa tại Ðài Loan và Nam
Hàn, sự truyền bá sâu rộng về các phúc lợi của tăng trưởng kinh tế đã
làm tăng thêm các giai cấp trung lưu một cách có ý nghĩa và làm giảm
giai cấp lao động truyền thống và giai cấp “hạ cấp”. Cấu trúc giai cấp
mới này thuận lợi cho dân chủ vì: 1) làm dịu sự đối kháng giai cấp cùng
khuynh hướng đi theo chủ nghĩa cực đoan chính trị của nó; 2) làm cho
giai trung lưu đông đảo ngày nay có thể hình dung rằng, trong hoàn cảnh
dân chủ, nó là kẻ có khả năng chiến thắng hoàn toàn.
Chẳng bao lâu, cuộc phát triển tư bản tại Trung Quốc không phát
sinh những kết quả giống như thế. Có nhiều khả năng thế hệ hiện nay của
những người Trung Quốc giàu có hơn sẽ tiếp tục nhìn những mạo hiểm dân
chủ hóa là quá nặng cho phúc lợi của họ. Ai cũng biết rằng đại đa số
người Trung Quốc thiếu học đều ít có hy vọng làm cho mình trở thành
giai cấp trung lưu và rằng người giàu sẽ tiếp tục trông vào nhà nước
toàn trị để bảo vệ tài sản của mình. Lại càng cần phải tạo sự bảo vệ
của nhà nước hơn nữa khi tình trạng phân cực kinh tế xã hội ngày càng
tồi tệ khiến người nghèo có quan điểm chính trị cực đoan, do đó làm cho
người giàu hoảng sợ thêm lên. [11]
Trong lúc các giai cấp giàu có chống lưng cho sự ổn định của chế độ
toàn trị, các giai cấp thấp hơn dường như đang đi tới đối lập với chế
độ. Nhưng họ không kêu gào dân chủ mà chỉ biểu lộ xu hướng cách mạng
bằng hình thức các cuộc biểu tình hoặc nổi loạn trên đường phố mà mới
đây đã trở thành bạo động hơn và có tổ chức hơn. Sự đột phá có tính
cách mạng ấy tới lượt nó gây lo lắng cho người giàu có và kéo họ vào
với nhau để chống lại sự trao quyền cho quần chúng, và kết chặt một
liên minh giữa người giàu có và chế độ để “ủng hộ sự ổn định”.
Tại Trung Quốc, sự cực đoan hóa của người nghèo có thể có những cội
rễ sâu xa hơn sự nghèo nàn vật chất. Những chênh lệch lợi tức khó biện
minh hơn ở Trung Quốc nơi có truyền thống mạnh mẽ về chủ nghĩa bình
đẳng. Nếu tình trạng thù nghịch của người giàu và người nghèo vẫn còn
là vấn đề giữa các giai cấp xã hội thì không nhất thiết nó sẽ leo thang
thành bạo động hay cách mạng như từng được xác nhận qua kinh nghiệm của
một số xã hội tư bản, nơi vai trò chủ yếu của nhà nước (điển hình là
nhà nước toàn trị) là làm trung gian hòa giải giữa các giai cấp đang
đấu tranh nhau. Nhưng mọi sự đó sẽ thay đổi nếu chế độ đó bắt đầu trở
thành nguyên ủy của đau khổ và bất bình của quần chúng. Tại Trung Quốc,
nỗi đắng cay vì lỗ hổng lợi tức đang nung nấu cảm xúc chống chế độ vì:
1) các quan chức thất bại trong việc hạn chế nạn tham nhũng, nguồn cội
của rất nhiều lợi tức phi pháp; và 2) chế độ đã làm quá ít trong công
tác xóa đói giảm nghèo. Trong bối cảnh Trung Quốc, sự thất bại thứ hai
ấy đặc biệt gây tổn thương cho tính chính thống của chế độ. Với truyền
thống phi dân chủ, với các phương thế không được luật pháp công nhận để
người nghèo tổ chức và nói lên những bất bình của họ và với một lịch sử
đế chế trong đó các triều đại bị lật đổ bởi cách mạng, thì chỉ ngạc
nhiên chút ít việc Trung Quốc đang chứng kiến một số hành động cực đoan
do bởi hàng triệu người bất mãn.
Những chọn lựa của chế độ
Các lãnh tụ của ÐCSTQ nắm chìa khóa tương lai chính trị Trung Quốc.
Nếu họ tiếp tục từ chối giải phóng hóa và cải cách dân chủ thì đại bộ
phận nhân dân sẽ vượt qua cơn sợ và tiếp theo đó hoặc sẽ lâm vào tình
trạng vô chính phủ hoặc sự cai trị của ÐCSTQ sẽ kết liễu. Cả hai nỗi sợ
ấy hiện được chứng minh. Các lãnh tụ nhận ra đang có nguy cơ vì lỗ hổng
lợi tức ngày càng rộng nhưng họ thiếu năng lực để đưa ra giải pháp lâu
dài. Chế độ không thể chấm dứt tình trạng ung thối của hầu hết các kỹ
nghệ quốc doanh cũng như không có các cơ chế đủ hiệu năng để chế ngự
tác phong luồn lách hoặc trộm cướp của cán bộ địa phương. Các công ty
quốc doanh thua lỗ đang bòn rút hết ngân sách nhà nước. Một hệ thống
thuế má mới làm lợi cho địa phương thì chính trung ương phải trả giá,
gây trở ngại thêm cho Bắc Kinh trong việc lập mạng lưới an sinh xã hội
cho cả nước. Trong những tình huống như thế, nếu nhà nước muốn làm chậm
lại hoặc chấm dứt tình trạng gia tăng mạnh mẽ sự bất bình đẳng lợi tức,
nó sẽ phải chuyển chi phí xóa đói giảm nghèo qua cho người giàu, do đó,
nó đứng về một phe trong cuộc xung khắc giai cấp.
Vì ÐCSTQ tự tuyên bố mình là giai cấp lao động nên việc “cướp của
người giàu chia cho người nghèo” — triệt phú trợ bần — là một chọn lựa
hợp lô-gic. Nhưng không nhiều thì ít, giới lãnh đạo dường như bác bỏ
giải pháp đó, không chỉ vì giai cấp giàu có mới phất “hối lộ” lãnh đạo
Đảng hoặc nói cách khác, đạt được ảnh hưởng chính trị trực tiếp mà còn
vì nền kinh tế tư nhân và các giai cấp điều hành nền kinh đó đã trở
thành niềm hy vọng độc nhất cho sự tăng trưởng liên tục. Trung Quốc
hiện nay sở hữu hơn một nửa GDP từ các công ty quốc doanh. Năm 1998,
kinh tế tư nhân trả 46% tổng số tiền thuế cả nước [12]
. Trong các năm vừa qua, vốn tư nhân được kết toán là 35% tổng số đầu
tư nhưng đóng góp tới 60% vào sự tăng trưởng GDP của Trung Quốc [13]
. Người ta ước lượng tới năm 2004, kinh tế tư nhân sẽ lên tới 60% nền
kinh tế quốc gia và thuê mướn 75% lực lượng lao động của Trung Quốc. [14]
Với việc giai cấp kinh doanh không muốn chuyển giao thêm của cải
của nó, nhà nước đảng trị sẽ không có khả năng phân phối thêm lợi tức
cho người nghèo trước khi khổ nạn gia tăng. Ðể duy trì thành tích tốt
của toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc và nâng cao tính cạnh tranh bén nhạy
của nó — điều kiện tiên quyết cho sự sống sót của chế độ — nhà nước
đảng trị phải đứng chung hàng ngũ với tư bản và theo đuổi chính sách
khuếch tán lợi ích đầu tư [15]
, hoặc cách khác, cố gắng làm thế nào để cân bằng quyền lợi của các
giai cấp đối kháng nhau. Về điểm này, dường như chủ nghĩa thựïc dụng
kinh tế tuyệt đối đang thúc ép chế độ của ÐCSTQ lấy các giai cấp giàu
có làm căn bản ủng hộ của nó, và chọn ổn định hơn là cải cách thêm nữa.
Quyền lực trung ương chống quyền lực địa phương
Ðể sang một bên những lợi ích chung chia giữa nhà nước đảng trị và
các giai cấp giàu có mới phất, người ta chưa có thể kết luận sớm sủa
rằng cả hai đang xây dựng một liên minh bền chặt. Một phần vì các căng thẳng nội bộ
của nhà nước cộng sản đảng trị giữa trung ương và các bộ phận địa
phương khác nhau. Vì trên thực tế, giới cầm quyền địa phương của ÐCSTQ
từ lâu đã đứng chung hàng ngũ với người giàu: thí dụ, trong các tranh
chấp lao động, đặc thù của chính quyền địa phương là đứng về phía tư
bản. Trong thế cộng sinh gần như chẳng cần che đậy giữa cán bộ địa
phương và doanh nghiệp tư nhân thì phía thứ hai này cung cấp phần lớn
thu nhập của chính quyền bằng việc trả thuế và thuê nhân công; thường
xuyên tham gia, một cách quyết định, vào công cuộc phát triển kinh tế
xã hội địa phương mà thành bại của nó là một trong những tiêu chuẩn chủ
yếu cho sự thăng quan tiến chức của cán bộ. Tới lượt mình, cán bộ đánh
thuế nhẹ hơn, cung cấp hợp đồng và cho vay mượn tiền của chính quyền,
để thông thường nhận lại không chỉ sự đề bạt chức vụ mà còn những cổ
phần thật sự lấy từ lợi nhuận kinh doanh.
Về phần nhà nước trung ương thì dây liên kết với giới tư bản giàu
có phải được duy trì dù có cảm thấy gớm ghiếc tới mấy đi nữa. Có những
dấu hiệu gợi cho thấy cấp lãnh đạo chóp bu vẫn không quyết định chính
xác rằng dây liên kết ấy nên thân cận tới đâu và công khai như thế nào.
Bên trong hàng ngũ thượng đỉnh của ÐCSTQ vẫn hiện hữu nhóm “khuynh tả”
(chống chủ nghĩa tư bản) mà tiếng nói của họ không thể bị hoàn toàn bỏ
lơ. Ðể tránh những gì làm cho người nghèo xa lánh thêm, các lãnh tụ
hiện nay quyết định lưu giữ sự cam kết chính thức của ÐCSTQ với xã hội
chủ nghĩa cùng tư thế “đảng của giai cấp lao động”, và thêm ngân khoản
xóa đói giảm nghèo dù sự gia tăng ấy không đủ để thu hẹp hoặc thậm chí
giữ yên lỗ hổng lợi tức đang rộng thêm.
Sự thiếu năng lực tài chánh và chính trị của ÐCSTQ trong việc giảm
thiểu tình trạng phân cực kinh tế xã hội đang trở thành một trong những
lý do chủ yếu khiến cuộc phát triển tư bản tại Trung Quốc không nhất
thiết dẫn tới dân chủ hóa (ít nhất qua mọi mặt diễn tiến trong một
tương lai gần). Khi nghèo đói và bất bình đẳng lợi tức tiếp tục càng
ngày càng thêm tồi tệ, biến chính quyền thành mục tiêu sôi sục phẫn nộ
của quần chúng thì đang lờ mờ hiện ra tình thế cách mạng. Tình thế đó
gây kinh hoàng giới lãnh đạo ÐCSTQ cũng như các giai cấp giàu có, và
làm khuynh hướng chống dân chủ của họ thêm kiên định. Vì chế độ đảng
trị của ÐCSTQ không chịu tái điều hướng ngân sách, rút bớt chi phí dành
cho các dự án quân sự cùng các dự án khác, nên nó chỉ có thể tái phân
phối lợi tức bằng cách “rút tỉa của người giàu”. Nhưng chế độ không dám
đi quá xa theo chiều hướng ấy vì e rằng việc đó có thể làm xẹp các động
lực tăng trưởng kinh tế liên tục của Trung Quốc. Cũng có thể vì người
giàu, đặc biệt ở cấp địa phương, đang sở đắc những ảnh hưởng quan trọng
lên chính sách. Càng triển khai cuộc cải cách theo định hướng tư bản
chủ nghĩa thì người giàu càng có thêm của cải, có ảnh hưởng hơn và
quyền lực hơn. Nhà nước dĩ nhiên cũng có lợi vì thu nhập gia tăng khiến
nhà nước có thêm tiền do bởi tăng thêm tiền thuế. Nhưng đồng thời nhà
nước lại càng phải dựa thêm nữa vào người giàu khiến nó lại càng ít có
vẻ sẽ có một sự tái phân phối nào đó do nó chi trả. Hậu quả là, Trung
Quốc có thể bị mắc kẹt trong vòng lẩn quẩn của trấn áp chính trị và
thôi thúc cách mạng củng cố lẫn nhau trong tình trạng xung khắc giai
cấp ngày càng sâu sắc tới độ ngăn không cho xảy ra một cuộc khai mở
chính trị êm thắm.
An Chen (Trần An, 陳安) - tiến sĩ Ðại học Yale, phó
giáo sư môn khoa học chính trị, Ðại học Quốc gia Singapore, từng là
thành viên nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Ông là tác
giả cuốn Restructuring Political Power in China: Alliances and Opposition, 1978-1998 (1999)– Tái cấu trúc quyền lực chính trị tại Trung Quốc: Các liên minh và đối lập, 1978- 1998.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas