Napoléon
có lời nhận xét nổi tiếng rằng khi Trung Quốc thức giấc, thế giới sẽ
run sợ. Dĩ nhiên Trung Quốc không bao giờ thật sự thiếp ngủ. Trên thế
giới, có những nước có thể bị tả một cách tương đối là như đang ngủ.
Trung Quốc hầu như không là một trong những nước ấy.
Suốt thế kỷ vừa qua, Trung Quốc lâm vào tình trạng hỗn loạn không
kém bất cứ xứ sở nào. Nó bị tả tơi vì những cuộc nội chiến và các cuộc
xâm chiếm thuộc địa. Tiếp theo cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai,
cuộc Cách mạng Cộng sản của Trung Quốc đã buông cương cho các chính
sách có tính ý thức hệ với sức mạnh lớn lao nhằm lập đi lập lại trật tự
cuộc sống riêng tư lẫn công cộng và thường dẫn tới kết quả tai họa. Từ
đầu tới cuối chương trình kinh tế được gọi là Bước đại nhảy vọt trong
hai năm 1959 và 1960, một giai đoạn trong đó Trung Quốc như thể người
đang ngủ đối với thế giới bên ngoài, năm chục triệu người răm rắp tuân
theo các chính sách của chính quyền, rời bỏ hẳn nông trang để di chuyển
vào một tương lai kỹ nghệ. Sự phá vỡ ấy góp phần gây nên một nạn đói
lớn lao nhất do con người tạo ra, với tổng số người chết đói trên 30
triệu.
Cách mạng kỹ nghệ của Trung Quốc
Ngày nay, chắc chẳng ai có ý kiến sai lầm rằng Trung Quốc là nước
đang ngủ. Trung Quốc hiện trông có vẻ rất khác, khác tận gốc, so với nó
trước đây, khi bị cai trị bởi những kẻ duy ý thức hệ cộng sản nghiêm
ngặt nhưng quá khứ đó cũng mang lại kết quả phần nào cho sinh lực hiện
tại của xứ sở. Suốt hai thập niên vừa qua, nền kinh tế Trung Quốc là
một trong những phép lạ trên thế giới. Các con số thì có chút mơ hồ
nhưng theo báo cáo của các cơ quan quốc tế thì mức tăng trưởng của
Trung Quốc bình quân là 9% trong suốt thời kỳ 20 năm. Một mức tăng
trưởng đủ nhanh để có thể đưa lợi tức trung bình tại Trung Quốc lên gấp
4 lần và tạo ra giai cấp trung lưu có thể chiếm tới một phần tư tổng số
dân một tỉ người.
Ngày nay, dân chúng Trung Quốc chuyển dịch hơn bao giờ hết với 300
triệu nông dân và cư dân sống tại các làng quê đang kỳ vọng thế hệ sắp
tới của họ sẽ chuyển lên sống ở các thành phố lớn. Lần này kết quả của
di chuyển sẽ không phải là nạn đói. Các nông trang của Trung Quốc vẫn
sản xuất tốt và cư dân mới của các thành phố gởi tiền về cho thân nhân
nơi quê cũ. Từ lúc bắt đầu các cải cách có tính thị trường và người dân
được phép lao động bên ngoài các kỹ nghệ bị nhà nước kiểm soát, người
Trung Quốc mở ra 125 triệu cơ sở làm ăn. Tổng số hiện hành là 85 triệu.
So với nước Mỹ, nơi người dân sống trong nền kinh tế thị trường từ hơn
ba thế kỷ nay với 26 triệu cơ sở làm ăn hoặc tính theo đầu người thì có
tỉ lệ xấp xỉ với Trung Quốc.
Trung Quốc mở cửa
Sự tiến bộ đầy kinh ngạc của Trung Quốc không chỉ do vấn đề mở cửa
mà còn do vấn đề chuyển mọi cơ chế hướng tới kinh tế thị trường, và
trên hết, nối kết với hệ thống thương mại thế giới.
Sự thịnh vượng mới của Trung Quốc chịu một ơn nghĩa nào đó đối với
sự thất bại của các chính sách xã hội thuở trước. Các nhà sản xuất trên
thế giới càng ngày càng chọn Trung Quốc làm nơi cư trú của họ và những
khách mua hàng trên thế giới cần nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc trị
giá hàng trăm tỉ Mỹ kim mỗi năm, đều nhận thấy mình có lợi thế trong
tình trạng nghèo khổ tràn lan khiến người lao động lương rẻ phải vào
làm trong các xí nghiệp mới lập để sản xuất những hàng hóa có tổn phí
thấp nhất thế giới. Mỉa mai thay, thành công của Trung Quốc trong suốt
20 năm qua lại mắc món nợ cay đắng đối với sự cai trị hà khắc của những
kẻ theo Mao-ít, những kẻ đã tạo ra các tiền đề cho một lực lượng sản
xuất có kỷ luật, phí tổn thấp, để ngày nay phục vụ các nhà tư bản của
Trung Quốc và của thế giới.
Vì cách mà Trung Quốc hiện đang sắp đặt các sinh lực của nó, nó là
một xứ sở tiêu biểu cho phần còn lại của thế giới với những cơ hội lớn
lao nhất cùng những hiểm họa cũng lớn lao không kém. Tính từ sự trỗi
dậy của Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ trong cuộc Cách mạng Kỹ nghệ vào thế kỷ
19, không một xứ sở nào thách thức phần thế giới còn lại một cách lẹ
làng và đầy sức mạnh trên nhiều mặt trận như Trung Quốc
Thách thức của Trung Quốc
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc thì phức tạp. Hoa Kỳ cần cân
nhắc từ mọi góc độ bất cứ hành động nào có tác động lên những quan hệ
giữa hai nước. Trung Quốc, như thế giới dần dần nhận ra, có thể cướp
mất bất cứ công việc hãng xưởng nào của gần như bất cứ xứ sở nào trong
bất cứ ngành kỹ nghệ nào. Năm 2005, Trung Quốc cho thấy nền tài chánh
đang gia tăng của nó khiến nó có thể hành xử trên khắp thế giới. Ngày
nào cũng như ngày nấy, Trung Quốc có tới 2 tỉ công khố phiếu của Hoa
Kỳ. Tháng Năm vừa qua, Lenovo, công ty khổng lồ chế tạo máy điện toán
do nhà nước Trung Quốc làm chủ, đã thỏa thuận xong việc thương lượng để
sở hữu phân xưởng sản xuất máy điện toán cá nhân của IBM, và như thế,
biến Lonovo thành công ty chế tạo máy điện toán cá nhân lớn thứ ba trên
thế giới. Sang tới tháng Sáu, một trong những công ty dầu hỏa lớn của
Trung Quốc gần như do chính quyền làm chủ, CNOCC [Công ty khai thác dầu
hỏa viễn duyên Trung Quốc] đánh một quả ngoạn mục dù cuối cùng không
đạt kết quả: nó đưa ra giá 18,5 tỉ Mỹ kim để mua UNOCAL, một công ti
dầu lửa khổng lồ của Mỹ.
Liệu những đề xuất đó có thể không làm cả thế giới rúng động? Trung
Quốc đã thành khách mua hàng hóa kỹ nghệ và tài nguyên thiên nhiên, với
tính háo thắng và được chào đón hầu như khắp thế giới. Quả thật, hãy để
sang một bên Hoa Kỳ trong bức tranh thương mại của Trung Quốc thì thấy
Trung Quốc đang bị thâm hụt mậu dịch lớn lao với các nước khác trên thế
giới khi nó mua những gì cần thiết để xây dựng hạ tầng cơ sở kỹ nghệ và
đô thị. Nhưng việc hiến giá để mua UNOCL gây rúng động toàn bộ chính
quyền Hoa Kỳ, và Quốc hội Mỹ phải vội vã chận đứng bằng quyền lập pháp
để cuối cùng chấm dứt cuộc thương lượng.
Thành tố Nhân dân tệ
Vào tháng Bảy năm 2005, Trung Quốc chiếm lĩnh hàng đầu các bản tin
trên báo chí thế giới khi chính phủ của nó điều chỉnh cách mà nó định
giá đồng Nhân dân tệ. Trung Quốc vẫn thường bị công kích về việc giữ cố
định hối suất tiền tệ của mình quá thấp so với đồng Mỹ kim. Ðề xuất mới
này là một cử chỉ có phần nào hướng tới điều mà các viên chức tài chánh
thế giới cổ vũ từ lâu.
Ðiều chỉnh tiền tệ của Trung Quốc lên chưa tới 3% chỉ là một thay
đổi nhỏ nhưng nó là tin lớn tại Hoa Kỳ và châu Âu, nơi chế độ tiền tệ
của Trung Quốc gây lạm phát cho trị giá của đồng Mỹ kim và đồng Euro
khiến các nhà sản xuất tại Âu Mỹ khó cạnh tranh với các công ty Trung
Quốc. Biện pháp tiền tệ ấy chứng tỏ rằng Trung Quốc, từng có thời bị
xem là một nước có chính sách ngoại giao vụng về và các chính sách kinh
tế vừa ra lệnh vừa kiểm soát, ngày nay có đủ khả năng tinh tế cả ngoại
giao lẫn tài chánh. Với chỉ một cú lao xuống đột ngột, Trung Quốc trông
như thể có thiện ý để cho các nhà phê bình quốc tế thường chỉ trích nó
— thí dụ Ngân khố Hoa Kỳ — thấy rằng nó có thể nhân nhượng tới một mức
nào đó trước nhu cầu của các đối tác thương mại, trong khi nó đồng thời
cũng đang thận trọng phục vụ cho các nhu cầu của chính nó.
Bằng việc nâng trị giá Nhân dân tệ, Trung Quốc tự ban cho nó có
thêm sức mua trên các thị trường tài nguyên thế giới. Trong lãnh vực
năng lượng, trị giá thấp của tiền tệ Trung Quốc đặt nó ở thế bất lợi
trong thị trường năng lượng thế giới. Sự kiện này hầu như không phục vụ
các mục tiêu của một nước đang bị trói tay vì điện lực và xăng dầu cho
xe hơi xe tải. Trung Quốc thiếu điện kinh niên. Nhà nước thường bắt các
công ty hoặc các thành phố để đèn lờ mờ nhằm giúp các hạ tầng cơ sở
điện lực bắt kịp nhu cầu. Số lượng ô-tô của Trung Quốc đang tăng cực
nhanh. Tới năm 2025, ước lượng Trung Quốc sẽ dùng khoảng 14 triệu thùng
dầu mỗi ngày — gấp đôi con số tiêu thụ hiện nay. Việc nâng tiền tệ
Trung Quốc lên cao hơn tỉ giá thấp một cách giả tạo, giúp cho người
tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc mua thêm điện và góp phần giữ cho
lạm phát xuống thấp.
Việc đánh giá lại tiền tệ ấy cũng là tin lớn cho các nước châu Phi,
châu Mỹ La-tinh, và châu Á, những nơi đang cung cấp cho Trung Quốc
nguyên liệu thô và được hưởng lợi khi khách hàng Trung Quốc có thêm sức
mua. Thế nhưng họ phải trả giá cho sự thịnh vượng của mình. Khi Trung
Quốc thiết lập được các cơ sở sản xuất của nó thì nó cũng lấy mất công
việc sản xuất có phí tổn rẻ hơn của các nước đang phát triển và các
nước phi kỹ nghệ hóa trong khi các nước ấy đã và đang phấn đấu suốt
nhiều thập niên qua để đa dạng hóa nền kinh tế của mình. Thí dụ,
Indonesia nhận thấy rằng công nghệ làm giày của nó từng có thời phát
đạt nay hoàn toàn mất vào tay Trung Quốc.
Vô địch trong các chế độ bất trị
Ảnh hưởng ngày càng tăng trên thế giới cả hai mặt chính trị lẫn
kinh tế làm phát sinh những vấn nạn khó khăn cho các nước khác. Ngay cả
Hoa Kỳ cũng là nước không chắc tìm được một chiến lược quốc gia về
phương sách đối phó với ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng của Trung
Quốc vốn thường làm cho Hoa Kỳ bực mình vì bị tổn thương ảnh hưởng.
Trung Quốc đang quyết chí lập quan hệ bền vững với với các chế độ
mà Hoa Kỳ cùng các cường quốc khác lâu nay muốn cô lập. Các chế độ tàn
bạo ở Myanmar (Miến Ðiện trước đây), Sudan, Zimbabwe đều hưởng lợi nhờ
sự ủng hộ của Bắc Kinh và các lợi ích kinh doanh của Trung Quốc. Nhưng
về lâu về dài, những quan hệ ấy có thể chứng tỏ cho thế giới thấy là
chúng tiêu cực. Là nhà vô địch trong số các chế độ bất trị, Trung Quốc
có thể đóng vai trò mà các nước khác không thể đóng. Thí dụ, nó là nước
chủ nhà cho các cuộc đàm phán sáu quốc gia hồi tháng Chín đưa tới kết
quả Bắc Hàn hứa từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân.
Nhân quyền
Tuy thế, suốt thời gian vừa qua, ý nguyện của Trung Quốc trong việc
làm dịu bớt các chế độ ít thơm tho của thế giới có thể dùng để đánh giá
thấp thành tích của ÐCSTQ trong việc đi theo con đường riêng của nó về
nhân quyền. Từ lâu, Trung Quốc không muốn chấp nhận toàn bộ các tiêu
chuẩn quốc tế về nhân quyền - một lãnh vực mà các siêu cường khác có
thể tuyên bố là họ đang giữ vị trí cao hơn. Dân chủ, tự do ngôn luận,
tự do tôn giáo và sự cai trị của luật pháp, may mắn lắm mới còn là
những mục tiêu xa xăm tại Trung Quốc. Thay vào đó, chính quyền hùng hổ
tấn công nhằm dập tắt các cuộc phản kháng, trong khi tìm cách nhấn mạnh
các tiến bộ kinh tế và sự ổn định xã hội của nhân dân như một tổng thể.
Trong năm 2005, theo tổ chức Quan sát Nhân quyền (Human Rights
Watch), Trung Quốc có hành động mạnh mẽ chống lại các nhóm thiểu số tôn
giáo, cấm hành đạo, xuất bản sách báo và tập quán y phục của thiểu số
theo đạo Hồi Uighur ở miền tây tỉnh Tân Cương. Phật tử Tây Tạng tiếp
tục chịu những qui định nghiêm ngặt, cắt giảm những ngày lễ tôn giáo
của công chúng và cấm nhiều nghi thức truyền thống. Hồi tháng Bảy, Bắc
Kinh tuyên bố sẽ chỉ định vị Ðạt Lai Lạt Ma sắp tới. Tổ chức Quan sát
Nhân quyền cũng tường trình rằng một số nhóm Tin lành và Pháp Luân
công, một tổ chức tâm linh có nhiều tín đồ bị bắt giam mà không được
xét xử công bằng, bị tống vào các trại lao cải hoặc bị giao cho các
viện tâm thần. Vào đầu năm 2005, Bộ Ngoại giao Mỹ cho công bố bản báo
cáo năm 2004 của Bộ về nhân quyền tại Trung Quốc. Bản báo cáo ấy ghi
nhận rằng “chính quyền duy trì những nghiêm cấm chặt chẽ về tự do ngôn
luận và tự do báo chí, và đợt bắt giam vào cuối năm đó là dấu hiệu cho
thấy một chiến dịch mới nhắm vào các nhà văn nổi tiếng và các nhà bình
luận chính trị.”
Những bất định
Với sức mạnh liên tục của mình, Trung Quốc dàn trải sự bất định
trên cả hai lãnh vực chính trị lẫn kinh tế. Ðang có những nghi ngờ rộng
rãi rằng không biết sự tăng trưởng của Trung Quốc có kéo dài không và
không biết môi trường kinh doanh của nó có đáng tin cậy không?
Một số quan tâm tập trung quanh tâm trạng của người dân Trung Quốc,
những kẻ dĩ nhiên phải chung chia sự bất định đó hơn ai hết, và sẽ là
những kẻ đầu tiên chịu đau khổ nếu trật tự xã hội và kinh tế bị sụp đổ.
Mặc dù di chuyển và gởi tiền về cho gia đình, hàng trăm triệu người dân
Trung Quốc nói chung bị gạt ra ngoài phép lạ kinh tế, và tệ hơn nữa,
cảm thấy mình bị nó trừng phạt. Theo các thống kê của Liên hiệp quốc,
số người nghèo nhất chiếm 20% trong tổng số 1,3 tỉ dân và chỉ chiếm
4,7% tổng số lợi tức, trong khi những người những người giàu nhất cũng
chiếm 20% tổng dân số lại chiếm số lợi tức trên một nửa (> 50%).
Tại Trung Quốc, những cuộc phản kháng vẫn tiếp tục gia tăng, thường
xuyên hơn và nhiều người tham gia hơn. Vào tháng Bảy năm 2005, Chu Dũng
Cương, Bộ trưởng Công an của Trung Quốc, được tường trình qua hãng
Reuters rằng, có 74.000 “sự cố tập thể” (biểu tình và nổi loạn) xảy ra
trong năm 2004, tăng so với 58.000 vụ năm 2003 và 10.000 vụ năm 1995.
Những sự cố ấy chủ yếu bị giới hạn tại địa phương; ÐCSTQ vẫn thừa sức
mạnh cưỡng bách và động viên cải thiện, giữ không cho những người bất
đồng chính kiến vượt quá ranh giới địa phương để liên kết nhau và lớn
mạnh thành phong trào.
Ðảng lập được thành tích về sự tăng trưởng kinh tế lạ thường, thế
nhưng sau những biện pháp hứa hẹn và trình diễn mà chỉ có ý nghĩa kéo
lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc khỏi vùng đất mơ mộng của
nó, kinh tế Trung Quốc nửa đầu năm 2005 lại tăng trưởng tới hơn 9,4% so
với nửa đầu của năm 2004. Những đảo lộn xã hội và kinh tế thường là kết
quả của những nhân tố mà thế giới ít biết tới, và thật là điên rồ khi
tiên đoán có phần nào chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không chịu một sự
đảo lộn nghiêm trọng vào một thời điểm sớm sủa nào đó. Kinh tế của xứ
sở này có trên một tỉ “biến số” với ý nguyện tự do ngày càng tăng, và
gần như hết thảy mọi người đều thấy cuộc đời mình bị phá vỡ một cách có
ý nghĩa vì sự thay đổi.
Quan hệ với các nước khác
Ngoại trừ những gì không biết ở bên trong Trung Quốc, một số bất
định về tương lai Trung Quốc có xuất xứ từ sự bất định về cách mà các
nước khác có thể hành động đối với Trung Quốc, đặc biệt Hoa Kỳ. Thí dụ,
trên mặt trận kinh tế, năm 2005 Quốc hội Hoa Kỳ đã tranh luận kịch liệt
về thuế xuất nhập khẩu và những nghiêm cấm trên hàng hóa của Trung
Quốc, ngăn không cho các công ty Trung Quốc thâm nhập vào các công ti
sáp nhập của Hoa Kỳ và chơi trò mua lại công ty, đồng thời thảo luận về
sự đáp trả mối đe dọa quân sự xuất phát từ Trung Quốc trong tương lai.
Cũng thế, Nhật Bản hiện đối mặt với sự bất định ngày càng tăng
trong quan hệ của nó với Trung Quốc. Năm 2005, người Trung Quốc bùng
phát bạo động nhắm vào những lợi ích của Nhật Bản tại Trung Quốc và duy
trì những trao đổi ngoại giao căng thẳng do việc Nhật Bản không chịu
xin lỗi về những tàn ác mà họ gây ra tại Trung Quốc trong thế kỷ vừa
qua. Cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đều tiếp cận vấn đề với sự thôi thúc
mãnh liệt của tinh thần dân tộc chủ nghĩa, và sự thù nghịch của đôi bên
dường như ngày càng tăng, không tránh khỏi.
Một đốm có thể coi như sáng là sự cải thiện quan hệ của Trung Quốc
với Ðài Loan, dù quan hệ này chẳng phải không có vấn đề lớn. Năm 2005,
cả hai xứ sở tiếp tục cùng nhau khiêu vũ một cách tinh tế mà cho đến
nay, giữ cho hòn đảo ấy được độc lập trên một qui mô lớn. Về mặt tiêu
cực, Trung Quốc vào tháng Ba vừa qua, đã thông qua đạo luật cho phép
dùng vũ lực chống lại Ðài Loan nếu vùng đất đó chính thức tuyên bố độc
lập đối với lục địa. Nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy cả Trung Quốc
lẫn Ðài Loan đều có thể đang muốn cân nhắc những chuẩn bị mang tính cấu
trúc để đem cả hai tới gần nhau hơn. Bằng một đề xuất cảm động nhưng
nặng tính tượng trưng, Trung Quốc tuyên bố vào tháng Năm rằng cho phép
du khách lục địa được viếng thăm Ðài Loan.
Thức giấc nhìn thách đố
Trong hầu hết các cách mà Trung Quốc thách thức Hoa Kỳ và thế giới,
các chiến lược làm thế nào để bám trụ cạnh tranh với Trung Quốc và làm
thế nào để phồn vinh khi những phát triển của nước mình sẽ thành công
hơn nữa nếu không tùy thuộc vào việc Trung Quốc đang cố ý gây ảnh hưởng
lên các lợi ích của thế giới. Ðúng hơn, những nước cạnh tranh với Trung
Quốc phải tìm ra giải pháp cho riêng mình. Thế giới, và có lẽ đặc biệt
Hoa Kỳ, làm hết sức để tránh lăng mạ xứ sở đó. Ðằng sau những gì có
tính kinh tế mà thế giới đang sợ hãi Trung Quốc thì có điều gì đó
ngưỡng mộ. Sự điều hành nền kinh tế mạnh mẽ của xứ sở ấy đã đem hàng
trăm triệu người dân ra khỏi vực sâu đói nghèo hun hút. Nó đã bắt đầu
tạo ra một giai cấp trung lưu rộng lớn nhất. Và nó lúc này là nơi tọa
lạc của một số cơ sở sản xuất tốt nhất, so với bất cứ nơi nào.
Một số người phản đối cái nhìn ấy và vạch ra rằng Trung Quốc vẫn là
một nước cộng sản bị điều hành bởi giới tinh hoa chỉ chăm lo cho quyền
lực của mình hơn là chăm lo cho người dân Trung Quốc. Ðiều ấy chẳng cần
phải chối cãi. Tuy nhiên, chú mục vào tính tiêu cực thì rất ít để ý tới
sự tiến bộ gây kinh ngạc của Trung Quốc và không đưa ra được chiến lược
tốt nhất để ứng xử với nó. Bằng việc xem Trung Quốc như quỉ dữ thì phần
còn lại của thế giới sẽ ít hưởng lợi. Chúng ta hẳn sẽ tiến hành tốt hơn
trong việc nghiên cứu, và có thể miễn cưỡng ngưỡng mộ những sức mạnh
đang càng ngày càng tăng của xứ sở ấy - và dĩ nhiên, nhân dân năng động
của nó. Nói cách khác, bằng nhiều cách không chỉ Trung Quốc cần nhận
ra, mà phần còn lại của chúng ta cũng cần nhận ra.
Có thể đọc thêm: