Tại
thủ đô Pháp có một đại lộ mang tên Avenue de Villiers ở Quận 17, một
con đường cũng như hàng trăm hàng ngàn con đường khác tại Paris tráng
lệ mà có thể hầu hết người Việt sinh sống tại đây không ai biết tới vì
nó không nổi tiếng như những Đại lộ Elysée, Đại lộ Opéra, v.v…, ngoại
trừ một số ít đồng bào đã cư ngụ tại Pháp trước năm 1975, nhất là những
cựu sinh viên đã du học vào những thập niên 50 đến 70.
Con đường
Villiers được những Việt Kiều nói trên biết tới bởi nó có nhiều liên hệ
đến người Việt quốc gia chúng ta: tại đó đã tọa lạc một ngôi nhà đã
từng đóng góp không nhỏ trong tiến trình hình thành Quốc gia Việt Nam.
Không, ngôi nhà này không phải là nơi trú ngụ của một nhân vật lịch sử
nào như căn hộ tại hẻm Compoint cũng ở Quận 17 Paris mà bộ phận tuyên
truyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam không ngớt nhắc nhở trong suốt mấy
chục năm qua vì nó đã từng là nơi cư ngụ của Cụ Hồ trong thập niên 20
của thế kỷ vừa qua khi còn đang hoạt động tại hải ngoại.
Ngôi
nhà 45 Villiers không phải đã từng được cụ Ngô trú ngụ và cũng không
phải là chỗ ở của Cựu Hoàng Bảo Đại, nhưng ngôi nhà đó đã trong nhiều
năm là nơi hội họp của nhiều nhân vật quốc gia để bàn thảo kế hoạch
trước khi đi đến các cuộc thương thuyết để đòi Pháp trao lại chủ quyền
cho Việt Nam trước khi trở thành Cơ quan Đại diện Ngoại giao của trước
hết là Quốc gia Việt Nam rồi sau đó của Việt Nam Cộng Hòa cho tới ngày
30-04-1975 là ngày miền Nam bị người «Anh em» phía bên kia chiếu cố
(nói theo ngôn ngữ của nhân vật «Người Hùng» năm xưa, nhân vật đã từng
là niềm hy vọng của một số người trong đó có cả kẻ viết bài này, nhưng
than ôi! thời đó đã xa …)
Nguồn gốc ngôi nhà 45:
Các
độc giả có mặt tại Pháp cùng thời với tác giả bài này, khoảng đầu thập
niên 50, chắc không thể không biết tới địa chỉ 45 Đại lộ Villiers quận
17, (métro Malesherbes) trụ sở của Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại
Pháp. Thực ra Tòa Đại sứ có 2 địa chỉ trên cùng một con đường, số nhà
89 là nơi làm việc của phòng Lãnh sự, phòng Xã hội, ban Y tế và phòng
Tùy viên Quân lực. Còn ngôi nhà số 45 quy tụ tất cả những bộ phận còn
lại của sứ quán kể cả văn phòng của Đại sứ. Các du học sinh phần lớn có
liên hệ đến nhà số 45 hơn vì tại đây có Ban Văn hóa, cơ quan phụ trách
về học bổng, chuyển ngân của các du học sinh hoặc lo việc giới thiệu
cho các sinh viên vào trường này, trường kia … Về ngôi nhà này có một
sự kiện đáng được lưu ý: theo các bậc đàn anh ở Tòa Đại sứ kể lại thì
vào khoảng những năm 1948-49 nó đã được ông Hoàng Văn Cơ mua. Ông Cơ là
một nhân vật đã được báo chí thời đó đề cập đến nhiều trong vụ án gọi
là «Affaire des Fuites».
Ông Cơ lúc đó là đại diện của Thủ
tướng Nguyễn Văn Xuân tại Paris và văn phòng của ông đặt tại số 45
Villiers. Cùng làm việc với ông còn có Giáo sư V. hồi đó sang Pháp để
chuẩn bị thi Thạc sĩ Luật khoa.
Một bữa kia, theo giáo sư V.
kể lại tự nhiên thấy ban phản gián D.S.T. của Pháp đột nhập văn phòng
của các ông lục lọi kiểm soát giấy tờ rồi mời cả ông Cơ lẫn giáo sư V.
về nha Phản Gián để điều tra trong mấy tiếng đồng hồ làm cho giáo sư V.
rất đỗi ngạc nhiên vì ông không hiểu rõ lý do gì Pháp đã hành động như
vậy.
Sau này theo những tài liệu báo chí đã đưa ra thời nguyên
do là vì bản phúc trình của Đại Tướng Revers lúc đó là Tổng tham mưu
trưởng quân đội Pháp bị tiết lộ ra ngoài. Tướng Revers được phái sang
Đông Dương quan sát tình hình tháng 05-1949 và khi về nước đã làm một
bản phúc trình lên chính phủ Pháp chỉ trích nặng nề sách lược của nhà
cầm quyền Pháp trong cuộc chiến chống Việt Minh cũng như về «giải pháp
Bảo Đại» mà theo ông đáng lẽ muốn chiến tranh chấm dứt thì phải điều
đình với Việt Minh chứ không phải với Bảo Đại (1).
Có lẽ vì
những nhận xét trên của Tướng Revers đi ngược lại với đường lối của
chính phủ Pháp lúc đó đang chủ trương dùng lá bài Bảo Đại nên vụ này
mới được dàn cảnh để hạ bệ ông. Một Việt kiều đi trên một xe buýt ẩu đả
với một thương binh Pháp tham chiến ở Đông Dương về và trong vụ lộn xộn
này cảnh sát đã bắt được trong cái cặp của người Việt kia bản phúc
trình Revers cùng một quyển sổ có địa chỉ của một số nhân vật dính líu
đến vụ này.
Kết cuộc là sau đó cả Tướng Revers lẫn Tướng Mast
Giám đốc Học viện Cao Đẳng Quốc Phòng, người đang lăm le chức vụ Cao Ủy
Pháp tại Đông Dương đều bị thân bại danh liệt. Tướng Revers bị cách
chức ngày 07-12-1949 (2).
Từ văn phòng Đức Quốc Trưởng tới Tòa Đại sứ, qua Cao Ủy phủ.
Khi
Ông Bảo Đại từ Hồng Kông tới Pháp vào đầu năm 1948 để chuẩn bị thương
thuyết với Pháp về vấn đề độc lập và thống nhất của Việt Nam, bên cạnh
ông có một số cộng sự viên như các bác sĩ Nguyễn Mạnh Đôn, Hoàng thân
Bửu Lộc, giáo sư Nguyễn Quốc Định và Luật sư Nguyễn Đắc Khê. Ông Bảo
Đại có một văn phòng lúc đó còn ở quận 9 Paris do một ông bác sĩ Việt
Nam cho mượn. Sau đó văn phòng này được dời vào số 89 Đại lộ Villiers
và do ông Bửu Lộc làm Đổng lý văn phòng với một cộng tác viên rất thân
cận là ông Dương Hồng Chương.
Sau đó thoả ước Elysée đã được
ký kết giữa các phái đoàn Pháp và Việt Nam vào ngày 08-03-1949 (3).
Phái đoàn Việt Nam do Hoàng thân Bửu Lộc lãnh đạo gồm có các ông Nguyễn
Đắc Khê, Bác sĩ Phan quang Đán, Bác sĩ Nguyễn mạnh Đôn và các ông Phạm
văn Bính, Trương công Cừu, Nguyễn quốc Định và Đinh xuân Quảng.
Lễ
ký kết Thỏa ước đã diễn ra tại văn phòng Tổng Thống Vincent Auriol với
sự hiện diện bên phía Pháp có các ông Henri Queuille, Thủ Tướng, Robert
Lecourt, Tổng Trưởng Tư Pháp, Georges Bidault, Ngoại trưởng, Paul
Cost-Floret, Tổng trưởng Pháp quốc Hải ngoại và Cao Ủy Pháp tại Việt
Nam Léon Pignon. Phía Việt Nam ngoài cựu hoàng Bảo Đại có các Hoàng
thân Vĩnh Cần, Bửu Lộc, Thủ tướng Trần văn Hữu và bác sĩ Nguyễn mạnh
Đôn.
Theo thoả ước Elysée nói trên Quốc gia Việt nam được
quyền đặt Tòa Đại diện ngoại giao tại các quốc gia Anh, Mỹ, Pháp, Thái
Lan và Tòa Thánh Vatican.
Vì vậy nên tháng 7 năm 1952, Quốc
trưởng Bảo Đại đã bổ nhiệm Hoàng thân Bửu Lộc làm Cao Ủy Việt Nam tại
Pháp (4). Vì Việt Nam ở trong Liên Hiệp Pháp nên vị đại diện ngoại giao
không mang danh hiệu Đại sứ mà được gọi là Cao Ủy cũng như tại Việt Nam
không có đại sứ Pháp mà chỉ có Cao Ủy Pháp.
Ngày 16-09-1952
Hoàng thân Bửu Lộc trình Ủy nhiệm thư lên Tổng Thống Auriol và từ nay
văn phòng Đức Quốc trưởng trở thành Cao Ủy phủ Việt Nam tại Pháp.
Bên
cạnh Cao Ủy Bửu Lộc có luật sư Nguyễn đắc Khê được bổ nhiệm làm phó Cao
Ủy và ông Dương hồng Chương, tổng thư ký Cao Ủy phủ.
Văn phòng ông Cao Ủy được đặt tại căn nhà 89 Đại Lộ Villiers và các cơ quan lãnh sự văn hoá xã hội nằm bên số 45.
Một
số nhân viên quan trọng khác của Phủ Cao Ủy lúc đó là các ông Nguyễn
hữu Long, Nguyễn hữu Quý, Lê xuân Lộc, Lê ngọc Hồ, Đoàn Thuận, Hà vĩnh
Phương, Trương Bửu Khánh và các bác sĩ Phan thế Ngọc, Nguyễn Huy Phan.
Phủ Cao Ủy này đã từng là nơi gặp gỡ của các thành viên các phái đoàn
từ Việt Nam qua để dự các hội nghị Pháp Việt nhằm đi đến kiện tòan nền
độc lập với Pháp cũng như Hội nghị Genève 1954 về vấn đề Việt Nam, Hội
nghị Genève 1962 về Ai Lao và sau cùng là Hội nghị Hoà Đàm Paris 1973
(lúc này đã là Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà). Phủ Cao Ủy cũng như Tòa
Đại sứ sau này đã đóng góp rất nhiều trong việc yểm trợ các Phái đoàn
về nhân, vật lực cũng như trong vấn đề liên lạc với chính quyền sở tại
hoặc các nhân vật chính trị, các giới báo chí truyền thông.
Đầu
năm 1954, ông Bửu Lộc được chỉ định làm Thủ tướng thay ông Nguyễn văn
Tâm, chức vụ Cao Ủy tại Pháp vẫn do ông kiêm nhiệm. Tại chỗ, ông Dương
hồng Chương, Tổng thư ký được cử Xử lý thường vụ Phủ Cao Ủy.
Khi
ông Ngô Đình Diệm về thay thế ông Bửu Lộc trong chức vụ Thủ tướng đã
chỉ định giáo sư Phạm duy Khiêm vào chức Cao Ủy Việt Nam tại Pháp thay
ông Bửu Lộc.
Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Pháp:
Ngày
10-12-1954, ông Phạm duy Khiêm lúc đó đang giữ chức Bộ trưởng Phủ thủ
tướng được chỉ định làm Cao Ủy tại Pháp. Ông Khiêm, một người có tiếng
là thân Pháp vì trước đây đã từng tình nguyện vào quân đội Pháp để
chiến đấu chống Đức trong Đệ nhị Thế chiến, được cử đi Pháp vì ông Ngô
Đình Diệm có tiếng là người của Hoa Kỳ và cần một người có uy tín với
Pháp để thay mặt mình tại một quốc gia dầu sao vẫn còn nhiều ảnh hưởng
tại Việt Nam.
Vì vậy Phủ Cao Ủy Việt Nam tại Pháp vẫn có một
vai trò rất quan trọng vì phải củng cố quan hệ ngoại giao giữa Pháp và
Việt Nam khi mà Việt Nam đang dần dần đi vào quỹ đạo của Hoa Kỳ.
Ông
Khiêm tới Pháp và sửa đổi lại một số lề lối làm việc tại Phủ Cao Ủy.
Ông không ngồi bên 89 mà sang làm việc tại ngôi nhà 45, mặc dầu mỗi
ngày ông phải leo lên 4 tầng lầu mới lên được văn phòng của mình (ngôi
nhà cổ này không có thang máy). Ông cũng mời một số cộng tác viên mới
làm việc với ông thay thế cho một số cộng sự viên của cựu Cao Ủy Bửu
Lộc hoặc xin từ nhiệm hoặc được thuyên chuyển đến những nhiệm sở khác.
Phủ Cao Ủy nay gồm một số nhân viên trẻ như các ông Tôn Thất Thiện, Hà
văn Thọ, Tô ngọc Thạch, Đoàn bá Cang, Phạm Doãn Hiệp, Trần Thế Khải,
Nguyễn văn Lương, Phan văn Phi (5), Dương hoàng Thành, Phạm đình Hiếu,
Lê Mộng Nguyên, Nguyễn thúc Bảo (6) và người viết bài này. Đến khi Việt
Nam không còn trong Liên Hiệp Pháp thì một vài cựu nghị viên của Hội
đồng Liên Hiệp Pháp như các ông Bửu Kính, Bùi xuân Bào, Phạm khắc Hy
cũng được ông Phạm duy Khiêm mời vào làm việc tại Tòa Đại sứ. Các nhân
viên trong Tòa Đại sứ đối xử với nhau rất thân tình. Ngoài ông Đại sứ
ra, toàn thể càc nhân viên khác không ai dùng đến tước vị để xưng hô
với nhau, từ Cố vấn, Tham vụ đến Tùy phái đều dùng chữ anh, tôi trong
giao tiếp hằng ngày.
Trong các nhân viên thời đó có hai vị đáng được chú ý:
1-
Bà Bùi, với người thân là Françoise, điện thoại viên, giọng nói ngọt
ngào, trong trẻo, tính tình điềm đạm, dễ thương, ai tới Tòa Đại sứ hoặc
nghe bà trong điện thoại đều có cảm tình ngay.
2- Ông Lâm văn
Nghị, trạc tuổi ông Đại sứ, tốt nghiệp Sorbonne và trường Luật nhưng
đầu óc nghệ sĩ, tư tưởng triết gia nên chỉ xin một chức vụ ngồi phòng
nhỏ ở hành lang để chỉ dẫn khách ra vào. Một bửa kia ông Cố vấn Ngô
đình Nhu tới thấy người bạn học cũ của mình ngồi ở hành lang nên rất
phật ý và yêu cầu Đại sứ phải chuyển ông Nghị về Việt Nam để ông giao
cho một chức vụ xứng đáng. Nhưng ông Nghị từ chối và phải rời khỏi Sứ
quán trước sự luyến tiếc của mọi người, vì ai ai cũng quý mến ông.
Ông
Khiêm có tiếng thân Pháp. Quả thực ông Khiêm có thân với người Pháp
nhưng thân đây không phải có nghĩa làm tay sai cho Pháp mà vì ông đã
được đào tạo tại Pháp từ nhỏ nên đã có nhiều thân hữu, đồng môn Pháp
như ông Pompidou trước là bạn đồng môn với ông ở trường Cao Đẳng Sư
Phạm. Còn đối với các giới chức Pháp khác ông có thái độ rất đàng
hoàng, xứng đáng. Một đại diện ngoại giao của Cao Miên hồi đó khi nói
chuyện với tôi đã tỏ ra rất khâm phục ông Khiêm về lối tiếp xúc cư xử
của ông với chính giới Pháp. Không bao giờ thấy ông tỏ vẽ khúm núm, quỵ
lụy họ mà trái lại nhiều khi còn có một thái độ kẻ cả và còn có thể nói
là ngạo mạn. Có nhiều lúc giáo sư thạc sĩ Phạm duy Khiêm cũng đã có
những lời phê bình nhiều nhân vật cả Việt lẫn ngoại quốc mà ông đánh
giá là tầm thường và vì vậy ông đã làm cho không ít người cho ông là
con người tự cao, tự đại. Nhưng ngược lại Đại sứ Phạm duy Khiêm cũng có
những đức tính ít tìm thấy ở nhiều vị Trưởng nhiệm sở khác. Đối với
nhân viên ông rất cởi mở, thân tình, đại lượng. Chẳng may nhân viên có
làm gì sơ xuất, đối với những cấp trên ông đại sứ nhận hết trách nhiệm
về phần ông, không quy lỗi cho thuộc cấp. Ông cũng là con người thẳng
thắn, trong sạch, không nghĩ đến chuyện hà lạm công quỹ mặc dầu ông có
một ngân quỹ khá quan trọng. Vì vậy khi ông không còn làm Đại sứ, ông
đã trở lại cuộc sống bình dị của một người sinh viên nghèo, nghĩa là
vẫn đi ăn cơm tại các quán cơm bình dân, ngày ngày đi bơi lội, đọc sách
và kiếm việc làm tại các nhà xuất bản như đi quảng cáo sách, bán sách.
Có lần ông đã đi dạy học. Học trò cuả ông thỉnh thoảng thấy ông ăn mặc
chỉnh tề, ngực đeo huy chương, họ đoán là ông sẽ vào ông Pompidou. Thực
vậy, khi ông Pompidou làm Tổng thống vẫn luôn nhớ đến người bạn học cũ
và hay mời ông Khiêm tới gặp. Có lần ông Pompidou nói: «je ne te vois
pas souvent» thì ông Khiêm trả lời: «moi, je te vois tous les jours à
la télévision!». Ông Pompidou muốn giao ông Khiêm một công việc tốt
nhưng ông Khiêm từ chối cũng như ông đã từ chối Tổng thống Thiệu khi
ông Thiệu mời ông giữ chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Sénégal.
Tôi
nói ông là con người thẳng thắn, không xu phụ ai vì đã được chứng kiến
nhiều lần thái độ khẳng khái của ông. Một lần ông đọc cho chúng tôi
nghe một bức thư gửi cho ông Ngô đình Nhu, bức thư dài viết tiếng Pháp
trong đó ông chỉ trích nặng nề những sai lầm của hai ông Diệm Nhu vì
ông Nhu cũng đã viết thư trước đó trách móc ông. Sau đó chưa bao giờ
tôi gặp một vị Trưởng nhiệm sở nào có một thái độ can đảm như ông
Khiêm.
Một chuyện nữa tôi cũng cho là ông Khiêm rất khí khái.
Năm 1955, khi ông còn là Cao Ủy, Việt Nam như mọi năm đều tham dự hội
chợ Paris. Hôm khai mạc, Ban Tổ chức mời các vị Đại sứ các quốc gia có
tham dự hội chợ đến gian hàng của mình để tiếp đón Tổng Thống Pháp. Ông
Khiêm có mặt cùng với tôi là người phụ trách gian hàng. Nhưng đáng tiếc
thay năm đó Tổng Thống Coty (7) chỉ lướt qua gian hàng mà không ngừng
lại. Cử chỉ này làm ông Cao Ủy Việt Nam rất bực mình và ông đã quyết
định là năm sau sẽ không có mặt ở gian hàng nữa. Theo chỗ tôi hiểu thì
có lẽ vì lúc đó giữa Việt Nam và Pháp bang giao đang căng thẳng với các
vụ lộn xộn tại SàiGòn, Thủ Tướng Diệm đang phải đương đầu với các phe
phái thân Pháp.
Sang năm 1956, Việt Nam vẫn tham gia Hội chợ
nhưng Đại sứ Khiêm (lúc này Tòa Cao Ủy đã được nâng lên thành Tòa Đại
sứ vì Việt Nam không còn ở trong Liên hiệp Pháp nữa) nhất định không ra
gian hàng để đón tiếp Tổng Thống Pháp mặc dầu có lời mời của Ban Tổ
chức. Nhưng trớ trêu thay năm đó ông Coty lại dừng lại ở gian hàng Việt
Nam, và dừng lại rất lâu và chỉ được người phụ trách gian hàng là kẻ
viết bài này đưa đi thăm cuộc triển lãm của ta với sự vắng mặt của Đại
sứ Việt Nam. Coi vậy có thể nói rằng ông Khiêm không phải là người thân
Tây hay nịnh Tây như dư luận đã từng phê phán ông. Bởi tính tình quá
bộc trực của ông trong một chế độ mà sự suy tôn và sùng bái đã được phổ
biến, nên ông Khiêm chỉ ở chức vụ Đại sứ trong một thời gian ngắn. Giáo
sư Phạm duy Khiêm đã tự kết liễu đời mình cách đây vừa đúng 30 năm.
Nhạc sĩ Pham Duy, bào đệ của ông đã làm một buổi lễ tại một ngôi chùa ở
đường Chi Lăng Phú Nhuận. Buổi lễ vắng vẻ, đạm bạc chỉ có vài ba người
tham dự, kể cả kẻ viết bài này đã đến đốt hương bái lạy một con người
tài đức song toàn nhưng cũng như đất nước của ông đã phải chịu một số
phận nghiệt ngã, đau thương, trong khi các cựu đồng môn của ông như các
ông Pompidou, Senghor đã đạt dến tột đỉnh của danh vọng.
Nói
đến Tòa Đại diện Việt Nam tại Pháp từ ngày thành lập tức là đã nói đến
tiến trình bang giao Việt Pháp từ ngày Pháp manh nha trở lại Việt Nam
sau khi đã bị Nhật tước khí giới tháng Ba năm 1945. Pháp đã đưa ra lá
bài Bảo Đại vì muốn lợi dụng danh nghĩa ông Bảo Đại để quy tụ các phần
tử quốc gia rời bỏ hàng ngũ Việt Minh về hợp tác với Pháp. Ông Bảo Đại
cũng không có cách nào hơn là phải hợp tác với Pháp để chống lại họa
Cộng sản. Ông hy vọng nếu Pháp thực tâm trao trả độc lập cho Việt Nam
thì phe quốc gia sẽ có chính nghĩa và cô lập dần dần được đối phương.
Nhưng ông đã vấp phải sự ngoan cố, thiếu thiện chí của chính quyền Pháp
vẫn còn muốn duy trì quyền lực của mình tại Đông Dương. Một yếu tố nữa
rất quan trọng làm cho «giải pháp Bảo Đại» thất bại là lục địa Trung
Hoa đã rơi vào tay Cộng sản và đã là đồng minh rất đắc lực của Việt
Minh trong cuộc chiến tranh với Pháp trong khi đó thì Hoa Kỳ vì nhiều
lý do đã không giúp đỡ Pháp tận tình.
Tòa Đại sứ Việt Nam tại
Pháp do vị trí chiến lược của nó cũng như do việc cơ quan ngoại giao
này đã đưộc nhiều nhân vật tên tuổi điều khiển: các ông Bửu Lộc, Nguyễn
đắc Khê, Phạm duy Khiêm …, đã có một vai trò đặc biệt mà các cơ sở
ngoại giao khác không có.
Trong một phần tư thế kỷ ngôi nhà 45
Đại lộ Villiers đã là một nơi hầu hết các chính khách Việt Nam khi qua
Pháp đều lui tới, các du học sinh mà phần lớn nay đã thành tài ở lại
Pháp và đã hoặc đang còn giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng trong các ngành
nghề tại Pháp đều biết đến.
Từ 30 năm nay ngôi nhà này chẳng còn
được ai nhắc tới và đã chìm trong quên lãng. Riêng kẻ viết bài này vẫn
luôn luôn nhớ đến những kỷ niệm êm đẹp với ngôi nhà thân yêu và mỗi khi
có việc đến quận 17 đều không quên ghé qua con đường Villiers thẳng
tắp, rộng rãi thênh thang để ngậm ngùi nhìn lại ngôi nhà đã đổi chủ và
để rồi nhớ lại những bạn đồng nghiệp, những vị đàn anh cũ, những nhân
vật tên tuổi của Việt Nam đã từng được gặp gỡ tại căn nhà này và nay
rất nhiều người đã yên nghỉ nơi bên kia thế giới.
Xin kính cẩn
nghiêng mình trước anh linh các Người đã khuất, tất cả những Người đã
đóng góp nhiều hay ít cho công cuộc giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ
của thực dân đã giày xéo quê hương chúng ta trọn một trăm năm.
Paris
Trương Hữu Lương
![]() |
(1) : Dragon d’Annam của S.M. Bảo Đại nhà xuất bản Plon 1980 – trang 246 |