Theo VNN - Nguyễn Hữu Hoạt - 24-01-2006
Giống như các quốc gia bị trị trên thế giới trước đây, Ấn độ là một trong những quốc gia nằm dưới sự đô hộ của Anh vào thế kỷ 19. Sau nhờ tinh thần yêu nước và lòng quyết tâm của người dân Ấn, dưới sự lãnh đạọ của Mohandas Gandhi và Jawaharlal Nehru phù hợp với trào lưu tiến bộ trên thế giới, nên Ấn độ đã giành được độc lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1947. Bắt đầu từ "cái đêm sáng trăng hôm ấy" Ấn độ đã chuyển mình từ một đất nước nghèo nàn dần dần tăng trưởng lên đến $3,319 trillion GDP (purchasing power parity) tính đến năm 2004. Riêng về dân số Ấn độ hiện nay theo bản thống kê mới nhất vào tháng 7 năm 2005 dân Ấn lên đến 1,080,264,388 người. Trong số nầy 2/3 làm nghề nông và thủ công nghệ, số còn lại là nhân công làm việc cho các nhà máy sản xuất hiện đại và chuyên viên làm về phần mềm cũng như phần cứng. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học của dân Ấn là 67%, đại học bậc cử nhân 22%, cao học 12% và tiến sĩ 4.7%; phần đông thành phần trí thức đều nói thông thạo tiếng Anh và các văn kiện quan trọng được viết bằng tiếng Anh theo luật quy định. Ấn độ là một trong những quốc gia có nền văn hóa lâu đời tối thiểu 5,000 năm. Trong đó có 80.5% dân số theo đạo Hindu; 13.4% theo Muslim; 2.3% theo Tin Lành; 1.9% theo đạo Sikh, còn lại 1.8% thờ cúng thổ thần. Về ngôn ngữ, 30% dân số Ấn sử dụng tiếng Hindi, 14 thứ tiếng khác cũng được chính thức sử dụng, như: Gengali, Telugu, Marathi, Tamil, Urdu, Gujarati, Malayalam, Kannada, Oriya, Punjabi, Assamese, Kashmiri, Sindhi và Sanskrit.
Sau khi Anh trao trả độc lập cho Ấn vào ngày 15/8/1947 cho đến ngày 26 tháng 1 năm 1950 hiến pháp Ấn đã được chính thức ra đời, dựa theo nền tảng comman law từ Anh được tu chỉnh nhiều lần. Để rồi hiến pháp Ấn đã ấn định quyền hạn của Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Đặc biệt hiến pháp chỉ cho phép quốc hội không quá 250 người (members) nhiệm kỳ là 5 năm, giống như nhiệm kỳ của Tổng thống và phó Tổng thống.
Về quốc phòng, Ấn độ là một trong những quốc gia có lực lượng quân đội lớn mạnh trên thế thế giới. Ngân sách chi phí cho quốc phòng hằng năm lên đến 18.86 tỷ Mỹ kim (2005). Tuổi hợp pháp để đi lính là 16 tuổi. Phần đông lực lượng quân đội chính quy được rải dọc biên giới Trung quốc và Pakistan. Trong quá khứ và hiện tại Ấn độ luôn luôn chỉ trích Trung quốc là người đã giúp đỡ Pakistan sản xuất đầu đạn nguyên tử và các loại vũ khí khác. Lời chỉ trích trên của Ấn không phải là không có nguyên do, vì trong quá trình Pakistan và Trung quốc là hai kẻ thù truyền kiếp của Ấn. Ngược lại đối với Pakistan và Trung quốc thì họ lại tố cáo rằng chính Mỹ là người đã giúp Ấn độ về các chương trình nguyên tử. Nếu những giả thuyết trên của Trung quốc và Pakistan là đúng thì chúng ta cũng không mấy ngạc nhiên, vì đây là chiến lược của Hoa Kỳ nhằm quân bình sức mạnh Á châu và kèm chế Trung quốc - Pakistan người láng giềng của Ấn.
Tuy nhiên, nhờ những yếu tố kinh tế và áp lực từ Trung quốc, cũng như nhu cầu quan hệ giai đọan nên những tranh chấp giữa Ấn độ và Pakistan gần đây đã giảm thiểu đáng được quan tâm, khi hai quốc gia cựu thù nay đã trở thành "người láng giềng tốt" trong các dịch vụ thương mại và yếu tố Kashmir, nếu Pakistan tôn trọng lời hứa không cho du kích xâm nhập lãnh thổ Kashmir do Ấn kiểm soát, thì Ấn phải chấp nhận điều kiện giảm thiểu quân đội. Nhất là chương trình thành lập ống khí đốt dự tính tốn đến 7 tỷ đôla khởi đầu vào năm 2007 cho một chiều dài là 2500km chạy từ Iran sang Ấn, xuyên qua Pakistan. Nhờ đó đã mang hai quốc gia nầy trở thành bạn hữu. Theo chương trình Iran sẽ bán cho Ấn độ 5 ttiệu tấn LNG (liquefied natural gas), bắt đầu vào năm 2009. Quyết định thiết lập ống dẫn dầu khí trên của Ấn và Iran đã gặp sự chống đối từ Hoa Kỳ và Do thái, qua những áp lực từ Hoa Thịnh Đốn đối với Pakistan không cho ống dẫn dầu khí đi qua lãnh thổ. Tuy nhiên, nhằm mục đích khẳng định lại quyết tâm của Ấn, Bộ trưởng năng lượng Ấn độ là ông Mani Shankar cho rằng: "Việc thiết lập đường dẫn khí đốt từ Iran sang Ấn độ là cầu nối quan trọng để giữ hòa khí giữa Pakistan và Ấn Độ, đồng thời đây là nhu cầu thuộc về an ninh quốc gia. Do đó, Ấn độ sẽ không cho phép bất cứ thế lực nào ngăn chận hay cản trở chương trình nầy". Lời tuyên bố trên như một hành động chuyển lửa từ thủ đô Tân Đề Ly sang tận Iran. Vì thế, phát ngôn viên chính phủ Iran tuyên bố rằng: "Nhân dân Iran sẽ hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ quyền lợi và lãnh thổ của họ".
Bên cạnh chương trình thiết lập ống khí đốt từ Iran sang Ấn độ và kế hoạch kinh tế ngũ niên do tổ chức SAFTA (South Asian Free Trade Area) hình thành. Quốc hội Ấn đã chuẩn phê ngân sách 3.8 tỷ Mỹ kim cho chương trình không gian và nguyên tử (ngân sách nầy độc lập và không chịu chi phối bởi ngân sách quốc phòng). Đây là một chương trình "nguyên tử năng" mà Trung quốc phản đối, cho rằng chương trình trên đã uy hiếp trực tiếp đến nền an ninh của họ. Do đó, Đại sứ Trung quốc tại Liên Hiệp Quốc đòi hỏi Hội Đồng Bảo An LHQ phải có biên pháp chế tài với Ấn và đòi hỏi Ấn độ phải chấm dứt chương trình hiện đại hóa vũ khí nguyên tử. Song le, trong quá khứ Ấn độ là quốc gia không ký vào hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử. Do đó, những yêu cầu của Trung quốc đã không trở thành hiện thực. Tuy nhiên, trong tương lai Hoa Kỳ có thể đưa ra một đề nghị hợp tác toàn diện trong chương trình nghiên cứu hạt nhân thuộc về dân sự. Và điều này sẽ là yếu tố thứ nhất sẽ được đề cập đến trong chuyến viếng thăm Tân Đề Ly của Tổng thống Bush vào cuối năm nay.
Đối với những yêu sách trên của Trung quốc, nếu nhìn kỹ chúng ta thấy Hoa Kỳ đã tản lờ và không đáp ứng. Thái độ tản lờ trên chúng ta cũng dễ hiểu thôi, vì muốn quân bình cán cân quân sự tại Á châu thì Ấn độ là quốc gia duy nhất có thể đương đầu với 1 tỷ người Trung quốc. Riêng về vũ khí, đầu đạn nguyên tử của Ấn độ có khả năng bắn liên lục địa và sức công phá không thua gì vũ khí của Hoa Kỳ, nhất là sức nóng của bom nguyên tử do Ấn độ chế ra ngày nay nóng hơn 179 lần quả bom nguyên tử Mỹ thả tại Nhật vào Đệ Nhị Thế Chiến. Một bước xa hơn vào ngày 12 tháng 12/2005 tại Tân Đề Ly Bộ trưởng Quốc Phòng Ấn, ông Pranab Mukherjee lần đầu tiên cho biết chính thức Quốc hội đã cho phép Ấn độ bán ra các lọai đầu đạn có tầm xa 300km. Ngoài ra các loại hỏa tiễn Agni I với tầm bắn xa 700km và Agni II với tầm xa lên đến 2500km cũng được đưa vào chương trình tiêu thụ.
Vấn đề ở chỗ rồi đây ai sẽ là người mua lại vũ khí nầy? Iran hay Syria. Nếu trường hợp người tiêu dùng là hai quốc gia trên. Liệu rằng Ấn độ có đủ lực và sức để bán ra hay không? Hoặc sẽ phải gặt hái hậu qủa gì từ phía Hoa Kỳ, và với những ảnh hưởng cũng như áp lực từ chính phủ Anh liệu Ấn độ có đủ can đảm để tiến hành thị trường vũ khí nữa không? Dĩ nhiên, đối với Ấn độ, Trung quốc, Iran hoặc Pakistan, tất cả đều đặt quyền lợi của dân tộc họ lên trên. Và dĩ nhiên Hoa Kỳ cũng thế, quyền lợi của Mỹ cũng sẽ là ưu tiên thứ nhất, cho dù hành pháp thuộc Dân Chủ hay Cộng Hoà. Nhưng có điều đáng để chúng ta quan tâm rằng: "quyền của kẻ lắm tiền nhiều của luôn luôn vẫn là quyền trước tiên và tuyệt đối".