Tây Nguyên là một lãnh thổ đa chủng với gần 30 sắc tộc sinh sống và
giao lưu văn hóa mật thiết với nhau. Nhưng hiện diện lâu nhất, ít
nhất từ thế ky đầu sau công nguyên, là người gốc Tây Nguyên
(thường được gọi là người Thượng) với 19 sắc tộc khát nhất
Mỗi sắc tộc Tây Nguyên có truyền thống văn hóa độc đáo, phong phú riêng
và rất đa dạng, trong đó nghệ thuật cồng chiêng là tiêu biểu nhất, nó
gắn liền với cuộc sống cua từng người Tây Nguyên. Mỗi khi
nghe tiếng cồng chiêng, không khí rộn rịp của những không gian
lễ hội, không gian làm rẫy và không gian săn bắn của người Tây
Nguyên hiện diện ra ngay trước mắt. Có thể nói tiếng cồng chiêng
là ngôn ngữ giao tiếp giữa người và
gắn liền
Cồng chiêng không những có giá trị về nghệ thuật âm nhạc mà còn có
giá trị cao về vật chất, chúng biểu hiện cho sự giàu có cua
gia đình và dòng họ, cồng chiêng càng cổ xưa thì uy tín và
quyền lực càng cao. Giá trị của mỗi cồng chiêng còn thể hiện
qua cách sản xuất (độ dầy mỏng, tỷ lệ pha chế đồng thau
với các kim loại khác), cách chạm khắc trên mặt, hình dá cua gia
Cồng chiêng còn có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống
tâm linh cua người Tây Nguyên. Tùy theo từng lễ nghi, tiếng cồng
chiêng có những âm điệu khác nhau : nhẹ nhàng và vui tươi trong
ngày cưới hỏi, chậm chạp và nặng nề khi báo tin vừa có người
thân qua đời, dồn dập và hùng tráng trong lễ đâm trâu, tưng
bừng và sôi động khi ăn mừng chiến thắng, đe dọa và mạnh
bạo khi xua đuổi thú dữ về phá rẫy nươ linh
Về kỹ thuật, cách phối hợp âm thanh cua dàn cồng chiêng cũng
rất đặc biệt, đó là sự hội âm phức tạp nhưng hài hòa
giữa các loại cồng lớn nhỏ khác nhau, gồm có cồng
"cha", cồng "con" và cồng "cháu". Người
sử dụng phải biết cách phát âm của từng loại cồng chiêng để
hợp tấu đúng theo từng lệ hội. Mỗi dàn nhạc có từ ba đến
vài chục cồng chiêng, tất cả đều sử dụng bằng nắm tay
hoặc bằng một dùi câm thanh
May mắn thay, chính sự độc đáo của nghệ thuật này mà ngày
25-11-2005, tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục UNESCO thuộc Liên
Hiệp Quốc công nhận tiếng cồng chiêng Tây Nguyên cua Việt Nam là
một trong 43 "kiệt tác truyền khẩu và di san phi vật thể cua
nhân loại" năn cua
Đây là niềm hãnh diện chung cho cả nước, và đặc biệt cho người Tây
Nguyên, vì đã được chọn lọc trong 64 quốc gia tham dự. Kể từ nay, tinh
hoa của nghệ thuật âm thanh độc đáo của người Tây Nguyên được đi vào
kho tàng văn hóa cua nhân loại. Cũng nên biết đây là lần cuối cùng
UNESCO chính thức công nhận những kiệt tác phi vật thể, trước
đó 47 tác phẩm truyền khẩu và phi vật thể đã được công
nhận trong các năm 2001 và 2003, trong đó có nhã nhạc cung đìa cua
nhân loại. Cũa
Trong 5 ngày xét duyệt tại trụ sở UNESCO Paris, từ 20 đến
24-11-2005, ban giám khảo cùng các nhà nghiên cứu khoa học, âm nhạc,
phóng viên báo chí quốc tế đã được dịp nghe lại những hợp tấu khúc hùng
tráng và sống động phát ra từ những cồng chiêng do những nghệ nhân từ
Việt Nam sang trình diễn.
Khác với của quốc gia khác tại Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia,
Thái Lan), cồng chiêng đã trở thành dụng cụ âm nhạc cung đình nên tiếp
tục được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tại Việt Nam, vì
đây là một nghệ thuật dân gian, thêm vào đó lại thuộc về những sắc tộc
thiểu số, nên dễ có nguy cơ bị mai một dần với thời gian, vì ít được
lưu ý tới. Nhưng kể từ đây, sau khi UNECO công nhận, vấn đề của Việt
Nam là có thật tâm bao tồn và phát huy nghệ thuật âm nhạc độc
đáo này hay khôm
Môi trường cua văn hóa cồng chiêng là các dịp lễ hội,
việc phục hồi không gian văn hóa cồng chiêng gắn liền với
việc phục hồi các dịp lễ hội của người Tây Nguyên. Nhưng
qua những diễn biến chính trị gần đây trên cao nguyên miền
Trung, cộng đồng người Tây Nguyên đang bị theo dõi và kềm chế
gắt gao, bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật này đòi hỏi
sự tôn trọng thật sự văn hóa và con người Tây Nguyêờng
Cho dù có thế nào, nghệ thuật dân gian này không thể bị mai một
với thời gian. Tiếng cồng chiêng không phải là một công cụ phục vụ
chính trị hay tôn giáo nào. Cồng chiêng là những dụng cụ âm nhạc, chức
năng của chúng là phục vụ âm nhạc trong các dịp lễ hội truyền thống của
người Tây Nguyên. Nhiệm vụ văn hóa của các chính quyền Việt Nam tương
lai là giúp đào tạo nghệ nhân (Việt Nam và người Tây Nguyên) về các
loại nhạc dân tộc cổ truyền, bảo tồn nghệ thuật cồng chiêng ngay tại
mỗi buôn làng trên Tây Nguyên và nhất là giải thích cho dân chúng Việt
Nam về danh dự được thế giới biết đến qua một sinh hoạt văn hóa độc đáo.
Dominique Nguyễn
(Paris)