Cuộc thảo luận thật ngộ nghĩnh
: một ông bộ trưởng cộng sản cố gắng thuyết phục một kẻ mới ở tù ra vì
tội chống cộng, là không nên tin cộng sản. Đó là năm 1979. Vị này là
một trí thức thân cộng trước đây. Ông được móc nối làm nội ứng, đóng
góp chuẩn bị cho cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Sau đó ông vào bưng
và được phong làm bộ trưởng trong Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa
Miền Nam Việt Nam. Sau chiến thắng cộng sản 1975, Mặt Trận Giải Phóng
và Chính Phủ Lâm Thời này bị giải thể, ông được chuyển sang điều khiển
một công ty.
Lý
do của cuộc gặp gỡ này hoàn toàn kỹ thuật. Do một trong những chuyện
ngược đời đầy rẫy trong giai đoạn này, tôi trở thành một chuyên gia của
chế độ và có tiếng nói quyết định trong một đề nghị của ông. Biết gốc
gác của tôi, ông bày tỏ lập trường chống cộng của ông với tất cả sự
phẫn nộ của một kẻ bị mắc lừa và sự nhiệt tình của một người mới tòng
giáo. Ông đả kích đảng cộng sản là dùng "những thằng đảng viên ngu dốt,
đầu bùn óc đất" cầm đầu những người có kiến thức. Ngu dốt, đầu bùn, óc
đất ? Không hẳn như vậy. Tôi cũng đã có dịp tiếp xúc và trao đổi với
một số cấp lãnh đạo cộng sản và nhận ra rằng họ tuy nói chung chỉ có
học vấn căn bản thấp nhưng cũng có nhiều ý kiến khá đặc sắc. Thấy tôi
không hoàn toàn được thuyết phục, ông thở dài : "tôi biết thế nào trước
sau anh cũng bị mắc lừa như tôi, cộng sản nó vô học nhưng lại có tài mê
hoặc trí thức".
Cuộc nói chuyện này khiến tôi suy nghĩ về tác dụng đào tạo của sinh
hoạt tổ chức, đặc biệt là về sự tạo thành của ý kiến trong tổ chức. Sự
mê hoặc và sức thuyết phục của đảng cộng sản là một vấn đề khác.
Nhưng trước hết, thế nào là ý kiến và ý kiến hình thành như thế nào ?
Ý kiến là một nhận xét, một cách nhìn, một cách hiểu, một sự đánh
giá, hay một kết luận, nói chung là kết quả của một suy nghĩ, về một sự
kiện. Sự kiện, hoặc biến cố, có thể đơn giản như một dữ kiện đến trực
tiếp từ giác quan (sense-data), như nhìn thấy một chiếc lá vàng rơi,
cũng có thể là một kết hợp rất phức tạp của vô số sự kiện, như Thế
Chiến 2. Sự kiện càng phức tạp bao nhiêu thì xác suất sai lầm của ý
kiến càng cao bấy nhiêu.
Cần phân biệt ý kiến và ý định, hay chủ ý. Cùng là một kết luận và
đều có thể thận trọng hay hấp tấp, nhưng ý kiến (idea, idée) thuộc phạm
trù tri thức và do đó chỉ có thể đúng hay sai, chính xác hay mơ hồ,
trong khi ý định (intention) còn có phạm trù đạo đức, nghĩa là có thể
khôn ngoan hay dại dột, lương thiện hay gian trá. Vấn đề đối với nhiều
người và nhiều tổ chức, trong đó không phải chỉ có đảng cộng sản, là ý
định chi phối ý kiến trong khi đáng lẽ ra ý kiến phải chỉ đạo ý định.
Những khám phá của y học và trí não học đã phân loại được một số
trung tâm của bộ óc theo chức năng của chúng. Dựa vào cấu tạo này người
ta đã chế tạo ra các máy tính điện tử có khả năng giải quyết nhiều vấn
đề đòi hỏi một cố gắng trí tuệ lớn. Các loại trung tâm đó là :
- Những trung tâm ngoại vi để kiểm soát các giác quan và cử động
nhờ đó con người có thể nói, nghe, nhìn, ngửi, cảm xúc, ăn uống, tiêu
hóa, đi đứng…
- Trung tâm toán và lôgíc (arithmetic and logic unit), mà ta có thể gọi
là trung tâm toán-lý hay lý trí, trong đó các nguyên tắc căn bản về số
học và các luật căn bản về lôgíc được tồn trữ sẵn từ lúc sinh ra như là
đặc tính của loài người.
- Trí nhớ trong đó được tồn trữ tất cả những kiến thức : sự kiện, hình
ảnh, cũng như âm thanh và hương vị đã được ghi nhận và chưa bị xóa.
Bộ óc vận hành như thế nào, sự hiểu biết hình thành như thế nào, tại
sao ta biết những gì ta biết và có gì đảm bảo rằng những kiến thức của
ta đáng tin cậy, và đáng tin cậy đến chừng mực nào, v.v. là những vấn
đề mà các triết gia đã cố gắng trả lời ngay từ khi triết học xuất hiện.
Từ đó môn tri thức học (epistemology), còn gọi là lý thuyết về sự hiểu
biết (theory of knowledge), luôn luôn là phần cốt lõi của triết học.
Một thí dụ nổi tiếng là Plato (428-347 BC) cho rằng người ta không học
gì cả mà chỉ nhớ lại vì đã biết tất cả khi mới sinh ra nhưng quên đi
(vì ăn cháo lú ?). Giả thuyết của Plato không nghịch lý như người ta
tưởng vì quả nhiên các khám phá trong y học, tâm lý học và trí não học
sau này đã xác nhận rằng các nguyên tắc về số học và lôgíc đã có tự bẩm
sinh, hay ít nhất đã sẵn sàng từ bẩm sinh, chỉ cần được khởi động.
Cũng nên nhắc lại rằng khi triết học mới xuất hiện, cùng với nền văn
minh cổ Hy Lạp, nó bao gồm tất cả. Hiện nay nhiều bộ môn, như toán học,
vật lý, tâm lý học, trí não học, v.v. đã là những bộ môn độc lập, triết
học chủ yếu chỉ còn vai trò minh định các khái niệm và từ ngữ.
Sự phân biệt các trung tâm theo chức năng này đã được công nhận, cùng với vài đặc tính.
Một là các trung tâm ngoại vi có liên hệ trực tiếp và thường trực với
một số ký ức đặc biệt như sự thèm muốn, tham vọng, lo sợ, quyết tâm. Vì
các trung tâm này điều khiển cơ thể và những tiếp xúc với bên ngoài nên
rất dễ đưa đến tình trạng được gọi là "hành động theo cảm tính" hoặc
"hành động theo bản năng".
Hai là lý trí, hay trung tâm toán và lôgíc, ngoài những nguyên tắc số
học căn bản và các luật lôgíc còn có một số giá trị bẩm sinh về đạo đức
và, ở một chừng mực nào đó, thẩm mỹ. Điều này có vẻ lạ, nhưng quả thực
là như thế. Các triết gia và các nhà khoa học đều đồng ý các nguyên tắc
lôgíc không thể giải thích cách nào khác hơn là do chính cấu tạo của bộ
óc. Plato đã từng lấy một đứa bé con một người nô lệ không học hành gì
cả và bằng những câu hỏi liên tục hướng dẫn nó giải một bài toán. Một
người bình thường cũng lý luận đúng theo ba luật lôgíc (luật đồng nhất
: A là A ; luật mâu thuẫn : A không thể vừa là A lại vừa không phải là
A ; luật cấm trung dung : A và B phải hoặc là một hoặc khác nhau, không
thề có chuyện tuy hai mà một), luật diễn dịch (điều gì đúng cho tất cả
thì cũng đúng cho một cá thể), luật qui nạp (điều gì vẫn thường xảy ra
trong một hoàn cảnh thì có nhiều triển vọng sẽ xảy ra nếu hoàn cảnh
được lặp lại). Các nguyên tắc đạo đức cũng thế. Không nên giết người
hay làm khổ người khác là điều mà bất cứ ai, ở bất cứ trình độ nào và
thuộc nền văn hóa nào cũng hiểu và tán thành mà không cần học ; ăn
cướp, nói dối, thất hứa là không chấp nhận được. Các khái niệm mỹ thuật
cũng do bẩm sinh, đẹp và xấu không có định nghĩa mà cũng không phải do
giác quan. Cần nhận xét, tiếp theo sự phân biệt ý kiến và ý định, rằng
quyết định tội ác là một ý định (intention) chứ không phải là ý kiến
(idea) và không thuộc lý trí. Lý trí chỉ sản xuất ra ý kiến. Việc thực
hiện tội ác có thể vận dụng tới lý trí. Tội ác lúc đó được coi là một
"sự kiện khách quan" chỉ cần được xử lý (tôi chỉ thi hành mệnh lệnh !).
Ba là trí nhớ là một bộ phận rất phức tạp và tinh vi. Không phải chỉ có
những sự kiện đơn giản được lưu trữ trong trí nhớ, mà cả những lý luận
phức tạp và cả những vật thể bao gồm cả sự kiện lẫn lý luận. Trí nhớ
được tổ chức theo bản chất của những gì được ghi nhận, thí dụ màu sắc,
âm thanh, hình ảnh, tên riêng, v.v. Thành phần quan trọng nhất trong
trí nhớ là ngôn ngữ, nghĩa là các từ và ý nghĩa của chúng.
Ta gọi chung những gì được lưu trữ trong trí nhớ là vật thể (object).
Ý kiến là sản phẩm của sự vận dụng trung tâm toán-lý để xử lý một hoặc
một số sự kiện được ghi nhận trong trí nhớ, sự ghi nhận có thể vừa mới
được thực hiện trong tức khắc đối với một dữ kiện giác quan
(sense-data).
Trung tâm toán-lý xử lý một sự kiện (một vật thể trong kho nhớ) bằng
cách phối hợp với vô số sự kiện (hay vật thể) khác trong trí nhớ để đi
đến một kết luận.
Việc xử lý này chủ yếu là để tìm sự kiên kết (coherence), hay ít nhất
để giải quyết những mâu thuẫn giữa các sự kiện. Trong cố gắng xử lý
này, sự kiện được xử lý có thể bị biến đổi so với cảm nhận lúc ban đầu.
Các vật thể tồn trữ từ trước trong trí nhớ cũng có thể bị biến đổi cho
phù hợp với một sự kiện mới nếu sự kiện mới này quá rõ ràng, minh bạch
và hiển nhiên. Thí dụ sự phát giác một nhà tu hành có người tình và con
riêng bí mật có thể làm thay đổi hình ảnh của ông ta và ý nghĩa những
lời giảng khắc kỷ của ông trong đầu óc nhiều người.
Kết quả của việc xử lý đó là cái mà ta gọi là ý kiến.
Nhưng việc xử lý này diễn ra như thế nào ?
Nếu chúng ta phân tích cách mà chính chúng ta thường dùng để giải thích
và hiểu các biến cố, thí dụ như một vụ án mạng, chúng ta sẽ hiểu dễ
dàng kết luận của các khảo cứu về cách vận hành của lý luận. Theo kết
luận này thì trí tuệ (đúng là trung tâm toán-lý) giải thích một sự kiện
theo một kịch bản (scenario), có nguyên nhân, kết cuộc và thứ tự diễn
ra của các sự việc ; kịch bản này được chọn giữa nhiều kịch bản đã được
lưu trữ như những vật thể trong trí nhớ ; một kịch bản bị loại bỏ
nhường chỗ cho một kịch bản khác nếu phát hiện một mâu thuẫn giữa các
chi tiết trong chính kịch bản, hoặc với một sự kiện khác không thể phủ
nhận.
Thí dụ : Để giải thích một vụ án mạng trong đó một phụ nữ trung niên bị
giết, ổ khóa bị cưỡng, nhiều đồ vật quí giá bị mất, viên thanh tra cảnh
sát có thể hình dung một tên trộm đột nhập nhân lúc bà chủ ở nhà một
mình. Đó là kịch bản thứ nhất. Nhưng kịch bản này không đứng vững vì
nhà có một con chó giữ nhà và không có dấu hiệu gì là con chó này đã
phản ứng, như vậy hung thủ phải là người nhà. Kịch bản thứ hai nhắm vào
ông chồng ; ông này là một người thực dụng, hiếu sắc, có cô nhân tình
trẻ đẹp, trước đây lấy bà này chủ yếu để đào mỏ, v.v. Trong kịch bản
này một số sự kiện không xuất hiện lúc ban đầu được thêm vào để kịch
bản trở thành phong phú hơn.
- Ông chồng trước đây đẹp trai, học giỏi, lấy người vợ giàu vì ham của chứ không phải vì tình yêu ;
- Nay ông đã giàu có, lại hiếu sắc và có nhân tình trẻ, bà vợ trở thành trở ngại ;
- Ông không thể ly dị vì sẽ mất một phần tài sản trong khi ông là một người tham tiền ;
- Vì thế vốn là người vô lương tâm, vô đạo đức, v.v.
Ý kiến được sản xuất ra là kết luận chính ông chồng là thủ phạm. Ý kiến
này là kết quả của một kịch bản, hay một khung lý luận. Cách sản xuất ý
kiến này được sử dụng trong mọi suy luận : một người giỏi toán chỉ cần
đọc đề tài là có thể biết những chặng đường trung gian phải chứng minh
dẫn tới kết luận ; những người làm kế hoạch tiên liệu tương lai bằng
cách hình dung các diễn biến và hậu quả của chúng ; Jesus Christ trên
đường đi tới núi Sọ để bị hành quyết khóc thương thành Jerusalem vì
nhìn thấy kịch bản của sự hủy diệt : sau Jesus chỉ còn những lãnh tụ
chủ trương chống lại La Mã bằng bạo lực, họ sẽ kết hợp với nhau và nổi
dậy, cuộc nổi dậy này sẽ thất bại vì lực lượng hai bên quá chênh lệch
nhưng sẽ tạo lý cớ để đế quốc La Mã san bằng thành Jerusalem và lưu đày
dân Do Thái.
Tóm lại, chúng ta luôn luôn lý luận theo một kịch bản đã được tồn trữ
trong trí nhớ. Nhưng kịch bản này do đâu mà có ? Dĩ nhiên là do kinh
nghiệm sống và trao đổi. Nhưng thử tưởng tượng cái gì sẽ xảy ra nếu
trước một sự kiện cần phải có một cách ứng xử mỗi người lý luận theo
một kịch bản cá nhân : sẽ có vô số kịch bản, tất cả đều cứng nhắc (vì
là một khung lý luận) và kịch bản này đối chọi với kịch bản kia. Người
ta sẽ không thể đạt tới một kết luận chung và một hành động chung. Điều
này giải thích tại sao những người chống cộng ở nước ngoài không làm
được gì ngoài những cuộc mít-tinh, biểu tình trong hơn 30 năm qua.
Chính trong các tổ chức với những chức năng chuyên biệt - các tổ
chức chính trị, từ thiện, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi của một
ngành nghề nào đó - mà các vấn đề chuyên biệt được thảo luận và những
kịch bản gần giống nhau được hình thành và tồn trữ.
Cần lưu ý là tổ chức không phải chỉ cho phép đạt tới đồng thuận trong
những kịch bản chung. Điều cũng quan trọng không kém là tổ chức còn cho
phép cải thiện phẩm chất của các kịch bản, nói cách khác là cải tiến
khả năng suy nghĩ. Qua trao đổi và thảo luận các kịch bản dở bị phát
hiện và loại bỏ, các kịch bản khác được hội nhập để bổ túc cho nhau và
cuối cùng kết hợp thành những kịch bản được lưu giữ vì có phẩm chất
nhất. Một cá nhân cũng lý luận theo những kịch bản, nhưng đó là những
kịch bản chưa được thảo luận và cải tiến ; có rất nhiều triển vọng đây
là những khung lý luận sai.
Tóm lại, tổ chức là môi trường cần thiết để sản xuất ra những ý kiến và cũng là điều kiện để có những ý kiến đúng.
Nhưng kịch bản không phải là tất cả. Kịch bản cung cấp một khung
lý luận. Khung lý luận đúng vẫn cần những lý luận đúng mới sản xuất ra
được ý kiến đúng.
Chúng ta không chỉ phát biểu mà còn lý luận bằng ngôn ngữ. Một người
Việt lý luận bằng tiếng Việt, một người Mỹ lý luận bằng tiếng Mỹ. Ngôn
ngữ chứa đựng những khái niệm, mỗi từ là một khái niệm, và không chắc
gì những khái niệm có ý nghĩa như nhau đối với mỗi người. Chúng ta đều
đã có kinh nghiệm những cuộc hội thảo trong đó người ta tranh luận gay
go với nhau chỉ vì hiểu các khái niệm tự do, dân chủ, ổn định, cách
mạng, v.v. một cách khác nhau. Và dĩ nhiên nếu hiểu sai về một khái
niệm, thí dụ dân chủ, thì cũng lý luận sai luôn về khái niệm đó. Ở đây
vai trò của tổ chức cũng là then chốt. Chính qua sinh hoạt và thảo luận
mà các thành viên đạt tới đồng thuận về ngôn ngữ, hiểu các khái niệm
như nhau, do đó có thể thảo luận với nhau và nhanh chóng đi tới một kết
luận, nghĩa là một ý kiến chung. Một tổ chức dân chủ và cởi mở trong đó
mọi ý kiến đều được tự do phát biểu còn có vai trò cải tiến các khái
niệm và chính xác hóa ngôn ngữ, bởi vì qua đối đầu và so sánh các định
nghĩa sai được sửa đổi, các lý luận thiếu sót được bổ sung và cuối cùng
chỉ còn được giữ lại những khái niệm và lý luận đã được thử thách và
chọn lọc. Ngược lại, một tổ chức độc đoán và giáo điều, trong đó các
thành viên không được phê phán mà chỉ có quyền chấp nhận và minh họa
những gì được coi là chính thống, rất dễ đưa tới sự mù quáng tập thể.
Như đã nói ở trên, ý kiến là sản phẩm của lý trí trong việc sử
dụng những vật liệu được lưu giữ trong bộ nhớ. Như vậy cũng cần hiểu
cách mà các vật liệu này được nhập vào bộ nhớ. Lấy thí dụ một nhu liệu
nhận diện sinh trắc (biometric identification software). Với dụng cụ
tin học này một người muốn sử dụng một dụng cụ tin học (application),
thí dụ như một giám đốc hành chánh của một công ty muốn thay đổi lương
bổng của các nhân viên trong hồ sơ nhân viên, không được nhận diện qua
bí danh (user name) và mật hiệu (password) mà bằng con mắt hoặc dấu
tay. Phương pháp này có mục đích để tránh việc một kẻ gian lấy cắp bí
danh và mật hiệu để làm việc bất chính. Để nhận diện dấu tay, một khung
hình chữ nhật khoảng 2cmx3cm trên đó có in dấu tay được chia ra khoảng
một nửa triệu điểm, mỗi điểm là một con số. Dẫy số này quá dài để có
thể dùng như một chìa khóa tìm kiếm những người được quyền thực hiện
một nghiệp vụ nào đó. Do đó cần một chương trình phức tạp để phân tích
nó và thay thế nó bằng một dẫy số ngắn hơn, khoảng 200 số chẳng hạn, và
chính dẫy số ngắn này được dùng làm chìa khóa tìm kiếm.
Cũng thế, một sự kiện dù có vẻ đơn giản đến đâu cũng chứa đựng một khối
lượng chi tiết vô cùng lớn và cần được đơn giản hóa, nghĩa là loại bỏ
những chi tiết trùng lặp hoặc không cần thiết để được diễn tả bằng một
số nhỏ thuộc tính trước khi được lưu trữ vào trí nhớ. Thí dụ Trần Hưng
Đạo trong trí nhớ dân gian là một danh tướng, tôn thất nhà Trần, hai
lần đánh bại quân Mông Cổ, một con người tài giỏi, dũng cảm, trung
thực, v.v. Cách ghi nhớ này cũng là thành quả của những trao đổi trong
các tập thể. Mỗi tập thể có một cách ghi nhận riêng. Thế Chiến 2 không
được nhớ lại như nhau giữa một người Nhật và một người Mỹ. Trí nhớ chọn
lọc những nét chính để ghi nhận một biến cố, và những nét chính đó có
thể sai hay đúng. Cũng qua trao đổi về sinh hoạt trong khuôn khổ một tổ
chức mà một cách ghi nhận các sự kiện được hình thành và cải tiến,
những gì sai bị loại bỏ, những gì đúng được kiểm chứng và sau cùng được
giữ lại. Tổ chức cũng là môi trường để thanh lọc và cải thiện trí nhớ.
Về tổ chức trí nhớ, các nhà tâm lý học nhận định rằng trí nhớ gồm
một phần nổi và một phần chìm. Phần nổi là những gì mà ta ý thức được
và diễn tả được. Phần chìm, hay tầng hầm trí tuệ, là những gì mà ta
không ý thức được và không nói ra được nhưng vẫn chi phối cách suy nghĩ
và kết luận của ta. Phần chìm này quan trọng hơn hẳn phần nổi. Một
người bình thường kết luận và chọn lựa theo những động cơ không thuần
lý trong phần chìm - lòng tham, sợ hãi, đam mê, ấn tượng, nói chung là
cảm tính - và sau đó biện luận, ngụy biện nếu cần, để bào chữa cho lập
trường của mình. Chỉ có những người rất sáng suốt mới dùng lý luận để
đi tới kết luận, tuyệt đại đa số làm ngược lại, ngay cả những người có
bằng cấp rất cao và có khả năng lớn trong một số địa hạt chuyên môn.
Vai trò của tổ chức, với điều kiện là một tổ chức đứng đắn, chính là để
qua sự đối chất giữa các lý luận làm giảm đi phần vô thức và gia tăng
phần ý thức về một địa hạt nào đó. Thí dụ như một tổ chức chính trị dân
chủ loại bỏ được những thành kiến về chính trị xuất phát từ giai cấp,
tôn giáo, địa phương, hoàn cảnh cá nhân. Làm gia tăng phần nổi và gia
tăng phẩm chất của ký ức cũng là mục đích chính của giáo dục và triết
học.
Một tác dụng quan trọng khác của tổ chức là cho phép những quyết
định khó khăn mà một cá nhân không dám lấy, ngay cả nếu thấy đó là
quyết định hợp lý nhất. Các thử nghiệm trong các nhà thương cho thấy là
trước một trường hợp nghiêm trọng đòi hỏi một giải phẫu hiểm nghèo, một
bác sĩ phải quyết định một mình thường tránh né trong khi đối với một
hội đồng bác sĩ quyết định giải phẫu là tự nhiên. Lý do là vì trong một
nhóm mỗi người cảm thấy tự tin vì có đồng đội, cố gắng cũng như trách
nhiệm được chia sẻ, hy vọng thành công cao hơn. Như thế tổ chức không
những chỉ là môi trường sản xuất ra ý kiến và cải thiện các ý kiến mà
cho phép có những ý kiến mạnh bạo.
Người ta có thể nhận xét là những nhóm gặp gỡ tạm bợ không thể sản
xuất được những ý kiến mới mẻ và táo bạo : những buổi hội thảo muốn
"thành công mỹ mãn", nghĩa là không xảy ra những đụng chạm đáng tiếc,
thường phải để mỗi người tự do muốn nói gì thì nói và sau đó mọi người
vui vẻ chia tay.
Mọi người đều đồng ý rằng hợp quần gây sức mạnh. Khi thực sự muốn thay
đổi một thực trạng người ta nhận ra là các trở ngại rất lớn (vì thực
trạng nào cũng có lý do của nó) và cảm thấy không đủ sức làm một mình,
người ta tìm đến với một tổ chức và chấp nhận những hệ lụy của tổ chức
như cái giá phải trả để thực hiện sự thay đổi. Điều cần ý thức là đó
không phải chỉ là sức mạnh vật chất, như một bức tường có trọng lượng
lớn hơn một viên gạch và cũng chắc chắn hơn nhiều viên gạch chồng lên
nhau. Đó còn là sức mạnh tinh thần, khiến con người thông minh hơn,
sáng suốt hơn, dũng cảm hơn và có kiến thức chính xác hơn.
Từ những nhận định trên, ta có thể rút ra vài kết luận.
Trước hết là vai trò tối cần thiết của xã hội dân sự. Xã hội dân sự
được định nghĩa như là toàn bộ các kết hợp ngoài chính quyền của người
dân : hội đoàn, nghiệp đoàn, câu lạc bộ, chính đảng. Nói một cách tiện
lợi nhưng không chính xác lắm, đó là không gian công không chính thức.
Chính qua các tổ chức của xã hội dân sự mà các ý kiến được hình thành
và cải tiến, với điều kiện là tổ chức này phải được tự do chứ không
phải chỉ có vai trò phụ họa cho những lập trường chính thức. Cá nhân
hoặc không có ý kiến, hoặc nếu có cũng chỉ là những ý kiến chưa được
thử thách dựa trên những cơ sở đáng ngờ vực và do đó ít có triển vọng
là đúng. Một đất nước không có xã hội dân sự tự do hoặc trì độn và
thiếu ý kiến, hoặc không thể có đồng thuận trên những ý kiến đúng đắn.
Tiến bộ của một xã hội phải đi qua một xã hội dân sự tự do. Không có xã
hội dân sự tự do thì không thể có tiến bộ và giàu mạnh, đó là một điều
kiện bắt buộc. Quyền tự do thành lập và tham gia các tổ chức quan trọng
không kém tự do ngôn luận và báo chí.
Sau đó là vai trò giáo dục và đào tạo của tổ chức. Ông cựu bộ trưởng
cộng sản tự hào về bằng cấp đại học tốt nghiệp ở nước ngoài của ông và
khinh bỉ những cán bộ cộng sản vô học ; ông không biết rằng qua sinh
hoạt tổ chức, ít nhất là sinh hoạt ở cấp cao trong đó mức độ tự do lớn
hơn cho phép thảo luận một cách cởi mở hơn, họ cũng học hỏi nhiều và
tiến bộ nhiều về lý luận. Hơn nữa những người đã có thể sinh hoạt lâu
dài trong một tổ chức lớn và vươn lên tới những địa vị lãnh đạo cũng
không thể tồi dở về mọi mặt. Họ có thể có những ý kiến chính xác hơn
những trí thức đơn độc như ông. Riêng về mặt chính trị, thì chắc chắn
là họ có quan tâm, có huấn luyện và có kinh nghiệm hơn ông. Đặc điểm
của đảng cộng sản trong suốt cuộc chiến 1945-1975 là họ là tổ chức
chính trị chuyên nghiệp duy nhất. Trước mặt họ chỉ có những ông bộ
trưởng và những tướng tá không làm chính trị, hay cùng lắm chỉ suy nghĩ
về chính trị một mình sau khi đã có chức vụ. Họ có thể thiếu kiến thức
chuyên môn nhưng họ là những người duy nhất có quan tâm và suy nghĩ
liên tục về những vấn đề chính trị, và cũng có trao đổi ý kiến trong
nội bộ tổ chức. Điều này đem lại cho họ một lập trường kiên kết
(coherent). Đó là lý do tại sao họ có sức thuyết phục mà ông gọi là mê
hoặc và làm ông bực bội. Dĩ nhiên là họ thiếu sót, nhưng họ không đầu
bùn, óc đất như ông nói một cách khinh bỉ. Trái lại, cái khả năng mà
ông tự cho là có đâu có gì là bảo đảm, nó chỉ là một đánh giá chủ quan
dựa vào bằng cấp. Vả lại, cũng không thể đánh giá những người chưa sinh
hoạt tổ chức vì có những khuyết tật như hèn nhát, nhỏ mọn, háo danh,
ganh ghét, v.v. nhiều khi chỉ bộc lộ qua sinh hoạt tổ chức. Tôi cũng đã
được giải thích rằng ông đã bị hạ tầng công tác vì tỏ ra thiếu khả năng
và tôi cũng không tin hẳn. Tôi nghĩ lý do chính là vì ông không phải là
đảng viên cộng sản. Điều tôi tin chắc, mà ông không ý thức được, là ông
không hiểu đường lối của đảng cộng sản và do đó không thể được trao một
trách nhiệm quan trọng. Tổ chức nào, đảng cộng sản cũng như mọi đảng
khác, cũng đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải hiểu nhau và hiểu đường lối
chung. Hơn nữa, chức bộ trưởng trong chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng
Hòa Miền Nam Việt Nam của ông cũng không có nội dung nào, nó chỉ là một
chức vụ giả tưởng để dụ dỗ và "mê hoặc" trí thức miền Nam và dư luận
thế giới.
Trở lại với một vấn đề cụ thể và thiết thân nhất. Lý do cơ bản
khiến đối lập dân chủ Việt Nam không lớn dậy được trong hơn ba mươi năm
qua là những người dân chủ Việt Nam chưa ý thức được một cách đầy đủ
tầm quan trọng, về hành động cũng như về tri thức, của tổ chức. Chính
sự thiếu hụt về văn hóa tổ chức đó đã khiến chúng ta hài lòng với lối
làm chính trị nhân sĩ, hay với những nhóm nhỏ, hay với những kết hợp
lỏng lẻo. Cách tranh đấu này chẳng dẫn tới đâu mà thực ra cũng chẳng
giúp ích gì cho mỗi người, thí dụ như để đánh giá đúng tài năng của
chính mình.
Nguyễn Gia Kiểng