RFA - NGUYỄN XUÂN NGHĨA - 05-01-2006
Bước
qua năm mới và trong suốt tháng Giêng này, Diễn đàn Kinh tế sẽ thực
hiện chương trình tổng kết về kinh tế Việt Nam trong năm qua và nêu ra
một số vấn đề cần chú ý trong năm tới. Tiết mục chuyên đề qua cuộc trao
đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ được Việt Long thực hiện sau
đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trong chương trình tổng
kết về kinh tế Việt Nam, chúng ta sẽ lần lượt phân tách một số ưu nhược
điểm của nền kinh tế này trong năm 2006 đang bắt đầu, nhưng trước hết,
chúng ta sẽ lược duyệt về những thành quả trong năm qua. Đầu tiên, xin
ông nêu ra một số nhận xét về tổng thể, về tình hình chung trong năm
qua.
- Năm 2005 vừa kết thúc là một năm may mắn cho Việt Nam
trên bình diện kinh tế. Một số người trong chính quyền có thể là thất
vọng vì Việt Nam không kịp gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO như
họ đã trông đợi và hứa hẹn với công chúng từ hai năm nay. Riêng tôi thì
lại thấy rằng đấy cũng là một điều may khác.
Hỏi: Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập từ 10 năm nay, cuối cùng vẫn không kịp, vì sao đó lại là chuyện may mắn?
-
Nói cho ngắn gọn thì Việt Nam chưa được chuẩn bị. Việc gia nhập WTO
không đơn giản là có một văn kiện chấp thuận của Hội nghị cấp Bộ trưởng
vào tháng 12 vừa qua tại Hong Kong mà là một chuỗi điều kiện rất phức
tạp cho toàn bộ cơ chế luật pháp, kinh doanh và kinh tế của cả xã hội.
Việt Nam chưa hội đủ những điều kiện ấy trong thực tế nên việc gia nhập
WTO có thể gây ra rất nhiều khó khăn với cái giá rất đắt về kinh tế và
xã hội sẽ phải trả sau này.
Hỏi: Như vậy ông cho rằng năm nay Việt Nam nên làm những gì?
-
Việt Nam đã qua 11 phiên họp chính thức với tổ Công tác của WTO và đạt
hiệp ước thương mại song phương với 22 trong số 28 quốc gia có nêu vấn
đề, nhưng vẫn phải vượt qua sáu cửa ải khác, kể cả với Hoa Kỳ, New
Zealand và Úc Đại Lợi. Năm qua, Quốc hội Việt Nam ráo riết làm luật và
qua kỳ họp thứ bảy vào hai tháng Năm và Sáu đã thông qua 15 đạo luật.
Nhưng những chuẩn bị ấy vẫn chưa đủ.
Trong năm 2006 này, Việt
Nam nên suy nghĩ và hành động ngược lại, tức là nhân cơ hội này, thông
tin, giải thích và chuẩn bị dư luận lẫn các doanh nghiệp nội địa cho kỹ
hơn để nâng cao sức cạnh tranh thay vì chỉ tìm cố thuyết phục các nước
đối tác còn lại hãy mở cửa WTO cho mình. Sau này, ta có thể sẽ nói đến
việc chuẩn bị như thế nào ở bên trong, căn cứ trên khuyến cáo của quốc
tế và của cả các doanh gia trong nước.
Hỏi: Bước qua phần nhận
định tổng quát, ông vui lòng chứng minh việc ông cho là năm qua Việt
Nam có nhiều may mắn trên lãnh vực kinh tế và đã đạt một số thành quả
đáng kể?
- Trong ngắn hạn, năm qua Việt Nam gặp hai nguy cơ
đáng ngại là dịch cúm gia cầm và xăng dầu lên giá. Nhưng cuối cùng thì
đại dịch chưa xảy ra, và chúng ta mong là sẽ không xảy ra. Thứ nữa,
xăng dầu lên giá nhưng không gây xáo trộn quá đáng về vật giá, phân
phối và sản xuất. Vì dịch cúm gà và xăng dầu tăng giá, lạm phát có thể
đe dọa mức sống dân cư, cuối cùng thì chỉ số giá cả chỉ tăng có 8,5%,
so với năm ngoái còn giảm được 1%.
Trong dài hạn thì đà tăng
trưởng từ 1993 đến nay tăng bình quân là gần 6%. Năm qua có giảm chút
đỉnh so với năm kia mà vẫn trên 7,5% và có thể đạt 8%. Nhờ vậy tỷ lệ
nghèo đói của người dân có giảm. So với 1993, khi hơn 58% dân số còn
sống dưới mức bần cùng thì năm qua, tỷ lệ bần cùng đã sụt dưới 20%. Đây
là thành quả đáng kể nhất về mặt kinh tế, căn cứ trên những dữ kiện mới
nhất, được Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước và các định chế quốc tế như
Tổ chức Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới tổng hợp vào cuối năm
qua.
Hỏi: Trên diễn đàn này, ông nêu nhận xét là trong đà tăng
trưởng ta còn phải kể tới phẩm chứ không chỉ nói về lượng. Về phẩm chất
thực tế thì tình hình có tốt đẹp như vậy không?
- Khi nói đến
tốc độ tăng trưởng, ta nói về lượng, về số bình quân hơn bù kém của
nhiều thành phần và địa phương, nên mình phải chú ý đến hai yếu tố về
“phẩm chất”, hay như ở nhà thường gọi là “chất lượng”. Thứ nhất, thành
quả tăng trưởng này có được phân phối đồng đều hay chăng và thứ hai, đà
tăng trưởng ấy có bền vững hay không.
Hỏi: Tiêu chuẩn về phẩm vì vậy có thể là mức độ công bằng xã hội của tăng trưởng hay sao?
-
Về yếu tố công bằng xã hội đó thì mức chênh lệch giàu nghèo có đào sâu
mở rộng. Sai biệt giàu nghèo được đo bằng hệ số Gini, là mức sai biệt
giữa hai nhóm ngũ phân giàu nghèo, giữa 20% dân số giàu nhất với 20%
dân số nghèo nhất, có gia tăng trong mấy năm qua. Nghĩa là cư dân thành
phố và một số địa phương có mức sống gia tăng nhanh hơn nhiều thành
phần khác.
Hỏi: Như vậy, nghĩa là thành quả tăng trưởng vẫn chưa
được phân phối đồng đều, phải không ạ? Thế còn yếu tố thứ hai, về sự
bền vững của đà tăng trưởng ấy thì sao?
- Về yếu tố gọi là bền
vững, ta có thấy dấu hiệu tiêu cực khi khiếm hụt thương mại vẫn tăng.
Năm 2000 chẳng hạn, Việt Nam bị nhập siêu hơn một tỷ Mỹ kim, năm nay
mức thâm hụt ấy vượt bảy tỷ và còn tăng. Hậu quả là thiếu hụt vãng lai
tính theo tỷ lệ của tổng sản lượng nội địa GDP đã tăng đều, từ 2% GDP
năm 2000, nay đã quá 4,5%. Nếu không có đầu tư nước ngoài và nhất là
tiền tươi do người Việt hải ngoại gửi về hàng năm, tình hình còn khó
khăn hơn nhiều vì món nợ ngoại trái.
Cho nên, khi tổng kết về
kinh tế Việt Nam, ta không chỉ nói đến khả năng làm ăn sinh hoạt của
hơn 82 triệu người trong nước mà phải kể thêm chừng bốn tỷ Mỹ kim người
Việt ở ngoài vẫn gửi về qua ngả chính thức. Nếu cộng thêm du lịch và
các khoản trợ giúp gián tiếp cho thân nhân thì phần đóng góp của hai
triệu người ở hải ngoại có thể lên đến hơn bảy tỷ, tương đương với số
nhập siêu của Việt Nam. Đây là một điều may mắn khác cho Việt Nam!
Hỏi:
Ông giải thích thế nào về kết quả đó, nhất là năm nay Việt Nam sẽ kỷ
niệm 20 năm của công cuộc đổi mới kinh tế được đề xướng sau Đại hội
khóa VI vào cuối năm 1986?
- Lời giải thích ở đây là giới
chuyên môn ở Việt Nam chưa có khả năng thuyết phục và giáo dục cao hơn
cho thành phần lãnh đạo Việt Nam trong Bộ Chính trị Trung ương đảng.
Công cuộc đổi mới thực sự chỉ bắt đầu từ 1991 trở về sau, trước đó chỉ
là đảng buông tay chấm dứt sự can thiệp và chỉ đạo phi lý trong kinh
tế. Từ 1991 trở đi, khi chẳng còn giải pháp nào khác họ mới chịu thay
đổi và vừa làm vừa học, vừa phóng đại kết quả - vốn dĩ do người dân tạo
ra một cách tự phát khi bớt bị nhà nước cấm đoán và kiểm soát.
Hỏi:
Tuy nhiên, giới lãnh đạo của Việt Nam cũng có nêu ra một số mục tiêu,
nhiệm vụ, phương hướng và chỉ tiêu trong kinh tế, điều ấy có đóng góp
cho đà tăng trưởng ấy không?
- Thế mới khổ! Thực ra, không có
loại nghị quyết khẩu hiệu ở trên đưa ra, người dân vẫn biết xoay trở và
đạt kết quả khả quan. Ta không nên quên các câu thần chú định kỳ mươi
năm trước, qua các chỉ tiêu định lượng do chính quyền nêu ra để chứng
minh sự cần thiết của mình. Không có loại chỉ tiêu ấy thì kinh tế vẫn
có tăng trưởng.
Mãi đến gần đây, nhà cầm quyền mới biết là không
có gà gáy mặt trời vẫn mọc. Họ hết xào nấu thống kê để nêu ra những chỉ
tiêu định lượng cho từng thành phần, khu vực hay ngành nghề, mà bắt đầu
chú trọng đến chính sách và luật lệ, nhằm giải phóng sức sản xuất bên
trong và hội nhập kinh tế Việt Nam với bên ngoài. Chúng ta bắt đầu thấy
điều ấy từ kế hoạch năm năm 2001-2006. Qua kế hoạch 2006-2010, Việt Nam
phải chạy nhanh hơn về cải tổ luật lệ và chính sách, lúc đó chúng ta sẽ
thấy ra nghịch lý là dân chạy nhanh hơn nhà nước, chính phủ và quốc hội
chạy nhanh hơn đảng. Trong mấy kỳ tới, ta sẽ lần lượt phân tách hiện
tượng này.
Hỏi: Như vậy, ông có những dự đoán sơ khởi gì về các vấn đề lãnh đạo Việt Nam cần giải quyết trong tương lai hay không?
-
Trong mấy năm qua, Việt Nam đã nhận được viện trợ và đầu tư nước ngoài
khá dồi dào mà lại dùng không hết, kể cả tiền bạc lẫn ý kiến. Lý do thì
phải suy ra từ trên xuống.
Trong tương lai, và tương lai ấy
khởi sự ngay từ năm nay, Việt Nam cần đẩy mạnh hơn cải tổ về cơ chế và
chính sách, trước tiên là cải cách hành chính, ngân hàng và doanh
nghiệp, đồng thời tăng cường khả năng lãnh đạo bằng luật lệ công minh
để giải trừ một thuộc tính của chế độ độc tài là nạn tham nhũng. Đấy là
yêu cầu cải tổ trừ trên xuống, trước hết là cái đầu.
Bước thứ
hai là cải tổ về xã hội, nền tảng của sinh hoạt kinh tế. Tức là cải
thiện hệ thống giáo dục đào tạo, y tế, bảo dưỡng sức khỏe và chế độ an
sinh cho người cùng khốn. Trong phạm vi ấy, phải xác định vai trò và sự
cần thiết của các tổ chức ngoài chính quyền, các đoàn thể tôn giáo, cơ
quan thiện nguyện. Vào WTO rồi mà hạ tầng xã hội còn lạc hậu thì sẽ gặp
loạn to.
Bước thứ ba mới là điều mà năm nào cũng thấy các nước
cấp viện khuyến cáo nhắc nhở, đó là cải tổ cơ chế kinh tế và ngân hàng
để nâng cao sức huy động vốn, giải phóng khả năng sản xuất của tư doanh
và chấn chỉnh lại hệ thống quốc doanh đang lãng phí tài sản quốc dân
trong các doanh nghiệp nhà nước.
Nếu không hoàn thành ba loại
việc ấy ở bên trong mà cứ đòi mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài
thì Việt Nam sẽ gặp loạn lớn. Lúc ấy, nhiều người có thể hiểu sai là
kinh tế thị trường gây ra bất công và động loạn xã hội. Sự thật thì
chính cái định hướng xã hội chủ nghĩa và nhận thức thủ cựu, chậm lụt và
dè dặt của lãnh đạo mới gây loạn cho xã hội. Trong các kỳ tới, chúng ta
sẽ phân tách từng vấn đề này.