Trung Đông Với Tương Lai Bất Định

Theo VNN - Nguyễn Anh Tuấn - 17-01-2006

Phải chăng lịch sử lại tái diễn một lần nữa ở Do Thái? Vào lúc mà nhiều người trông chờ ở một lãnh tụ cương quyết và cứng rắn nhưng rất được lòng của người dân sẽ chủ động một chính sách mới với niềm hi vọng mưu cầu một nền hoà bình êm ấm với khối dân Palestine thì định mệnh có lẽ đã an bài cho số phần của người đó phải đứt gánh giữa đường. Nếu như Thủ tướng Ariel Sharon có thể thoát qua khỏi lưới hái của tử thần sau cơn đột quỵ (stroke) trầm trọng vào tuần qua nhờ ở nỗ lực và phương tiện tối tân về y khoa của các bác sĩ Do Thái, thì người ta cũng không nghĩ rằng ông còn có khả năng phục hồi lại quyền lực và vị thế của mình để có thể tiếp tục lèo lái đất nước trong thời gian tới. Trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc vào tháng Ba này, đảng Kadima (Đi Tới), do ông Sharon mới thành lập sau khi đã rút ra khỏi đảng cầm quyền Likud, đã được tiên đoán là sẽ dễ dàng thắng lớn hơn cả hai đảng chính ở Do Thái là đảng Lao Động (khuynh tả) và đảng Bảo Thủ Likud (khuynh hữu). Tuy nhiên, cơn chấn thương vì đứt mạch máu não này nếu không làm ông thiệt mạng sớm thì cũng khó lòng khiến ông có thể còn ngồi tại chức thủ tướng để lãnh đạo một đảng cầm quyền mới. Giống như vụ ám sát Thủ tướng Yitzhak Rabin vào năm 1995, cơn ngã quỵ của ông Sharon lần này cũng có thể làm hâm nóng lại tinh thần hiếu chiến của một thiểu số cực đoan ở trong nước, cương quyết chủ trương không nhượng bộ điều gì cho phe Palestine, và do đó càng có cơ nguy khiến cho tiến trình đi đến hoà bình trong vùng Trung Đông càng ngày càng bấp bênh và xa vời. Tình trạng tương tự giữa hai lãnh tụ Rabin và Sharon kéo dài trên mặt khác nhau. Giống như ông Rabin, ông Sharon là một cựu tướng lãnh nhưng về sau lại trở thành một chính trị gia chủ hoà, chấp nhận chủ trương cần phải trả lại một số phần đất cho người Palestine, không phải vì tinh thần tôn trọng lịch sử hay công lý mà thật ra có lẽ là vì bản năng sinh tồn của Do Thái đòi hỏi phải trao trả như vậy. Cũng giống như vị tiền nhiệm của mình, ông Sharon phải dựa vào một quá khứ và thành tích chiến đấu dũng mãnh và cương quyết trên chiến trường để có thể thuyết phục được đa số người dân Do Thái, vốn đã mỏi mệt và căng thẳng với những vụ nổ bom cảm tử triền miên của dân quân Palestine cho dù là đã bị đè bẹp bởi quân đội Do Thái, chấp nhận đề nghị chủ hoà của mình. Và cũng giống như ông Rabin, dường như cuối cùng ông Sharon cũng tìm ra được một giải pháp - cho dù là qua quyết định đơn phương hành động của ông thay vì đường lối hoà đàm ngoại giao - có khả năng trở thành hiện thực. Để rồi cuối cùng, vụ đột quỵ bất ngờ xảy ra, có thể làm hỏng hết đại cuộc, tương tự như vụ ám sát bất ngờ ông Rabin bởi một tay cực hữu người Do Thái vào năm 1995.

Thật ra thì danh sách những yếu tố bất an và bất định trong vùng khói lửa này mỗi ngày mỗi dài ra, chưa cần kể đến nội tình tranh chấp trong chính quyền tại Do Thái. Tại Palestine thì các nhóm dân quân thuộc nhiều phe phái đang tiếp tục bắn giết lẫn nhau để tranh giành thế lực trong lúc sửa soạn cho cuộc bầu cử Quốc Hội vào cuối tháng Giêng này. Trong khi đó thì tình hình an ninh tại Iraq vẫn như "truyện dài nhân dân tự vệ" với những vụ nổ bom cảm tử hay tấn công của quân phiến loạn diễn ra thường xuyên và với những cường độ càng ngày càng khốc liệt sau một thời gian ngắn yên tịnh một vài ngày. Tại những quốc gia Ả Rập lân cận thì tình hình an ninh cũng không lấy gì làm sáng sủa: nhóm Hồi-giáo đối lập tại Ai Cập càng ngày càng lớn tiếng chống đối chính quyền của TT Hosni Mubarak và tương lai chính trị tại Lebanon và Syria còn nhiều bất định với sự đấu đá nội bộ trong chính quyền nước này khi vị phó tổng thống lớn tiếng tố cáo và chỉ trích tổng thống Bashar Assad.

Trong tình cảnh dầu sôi lửa bỏng đó thì lại xảy thêm biến cố chấn thương trầm trọng của ông Ariel Sharon sẽ làm cho ông khó có thể cầm quyền trở lại và điều này sẽ khiến cho nhiều người không tiên đoán được tương lai của Do Thái sẽ đi về ngả nào.

Có lẽ rất nhiều người, nhất là khối dân Palestine từ bấy lâu nay vẫn chịu sự khống chế của Do Thái với hoả lực hùng hậu của quân đội, khó tin được là tên tuổi của ông Sharon lại có thể gắn liền với ước vọng mưu cầu hoà bình trong vùng. Ngay cả trước thời gian được nổi tiếng và biết đến như là một kẻ chủ động trong cuộc tấn công vào lãnh thổ của lân bang Lebanon vào năm 1982, ông Sharon đã có một thành tích là một người theo phe diều hâu cực đoan. Từ giữa thập niên 50 khi mới tham gia vào quân đội, ông đã là một sĩ quan trẻ hăng hái xung phong tham dự vào các cuộc "hành quân trả đũa" tiến sang biên giới đối phương để truy lùng các toán biệt kích quân Palestine. Trong cuộc chiến đối đầu với khối các quốc gia Ả Rập vào năm 1967, sau khi Do Thái giành được chiến thắng và chiếm được nhiều vùng đất chiến lược của đối phương, ông được phong làm tư lệnh đoàn quân chiếm giữ tại vùng Gaza, và sau đó bắt đầu tham gia vào chính trường bằng cách lập ra đảng mới là Likud quy tụ những chính trị gia theo khuynh hướng bảo thủ, với lập trường cương quyết bảo vệ cho an ninh của Do Thái bằng bất cứ giá nào, kể cả việc dùng sức mạnh quân sự. Khi cuộc chiến với phe Ả Rập nổ trở lại vào năm 1973, ông Sharon lại tình nguyện trở lại quân đội để đối đầu với quân đội của Ai Cập. Ông đã bất tuân lệnh của thượng cấp, quyết định đưa sư đoàn vượt qua Kinh đào Suez để đánh thẳng vào nhược điểm của đối phương khiến cho tình thế lúc bấy giờ bỗng đảo ngược theo chiều hướng thuận lợi cho phía Do Thái. Khi ông làm bộ trưởng quốc phòng dưới thời Thủ tướng Menachem Begin, cũng với tinh thần cương quyết ra tay đánh thẳng vào đối phương cho dù ở bất cứ nơi nào, ông đã ra lệnh cho quân Do Thái tiến vào Lebanon để truy lùng và tận diệt các nhóm quân du kích Palestine cứ tiếp tục khuấy phá và pháo kích khắp nơi vào lãnh thổ Do Thái. Kết quả dẫn đến là một cuộc chiến tranh tương tàn giữa các nhóm quân Lebanon theo các thế lực khác nhau kéo dài triền miên và cũng khiến cho quân đội Do Thái phải bị sa lầy tại đây trong một thời gian dài. Cũng trong cuộc chiến này, ông Sharon đã bị một uỷ ban điều tra của chính quyền Do Thái kết tội bất can vì đã gián tiếp để cho các toán dân quân Phalangist theo phái Cơ Đốc-giáo sát hại hàng trăm thường dân Palestine lánh nạn trong các trại tạm trú Sabra và Chatila ở thủ đô Beirut. Kết quả là ông phải bị cách chức khỏi nội các của ông Begin. Nhưng rồi sau đó ông trở lại chính trường vào hơn một thập niên sau, với chức vụ bộ trưởng bộ gia cư, và là người chủ động phát triển chính sách thiết lập các trại định cư cho người dân Do Thái lên các vùng đất của Palestine tại dải Gaza và vùng Ngạn Tây của sông Jordan. Đến năm 2000, hành động khiêu khích của ông khi bước chân lên vùng Temple Mount tại Jerusalem, gần ngôi đền Al Qasa vốn được coi như là một trong thánh địa thiêng liêng của người Hồi Giáo, đã khiến cho cuộc nổi dậy intifada của phe này bùng lên một lần nữa để chống lại Do Thái, khiến cho nỗ lực tạo dựng hoà bình của hai ông Ehud Barak và Yasser Arafat dưới sự bảo trợ của TT Bill Clinton bỗng trở thành vô vọng. Để đối phó với các vụ tấn công lẻ tẻ của dân quân Palestine, quân đội Do Thái đưa lực lượng hùng mạnh của quân đội đến để đè bẹp, càng khiến cho dân Palestine bất mãn và căm thù hơn nữa, dẫn đến việc leo thang cường độ chiến tranh kéo dài trong nhiều năm trời sau đó. Nhưng nhờ ở vụ này mà ông Sharon trở thành Thủ tướng sau khi nội các của ông Barak bị bất tín nhiệm vào năm 2001. Sau vụ tấn công khủng bố của al-Qaeda nổ ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, chính quyền Bush cương quyết dùng sức mạnh quân sự để truy lùng và dẹp tan các nhóm quân đối kháng tại A Phú Hãn trong chiến dịch tận diệt các mầm mống khủng bố và tích cực ủng hộ chính sách đè bẹp các toán dân quân Hamas ở Palestine của chính quyền Sharon bằng vũ lực, cho dù là chính sách này bị cả thế giới lên án vì mức độ cường bạo quá đáng và chỉ trích thái độ ỷ mạnh hiếp yếu của Do Thái lên các phe dân quân Palestine ngay trên phần đất của chính họ. Khi TT Bush ca ngợi ông Sharon vào năm 2002 là "một người của hoà bình", toàn dân Ả Rập đều phản ứng bằng những lời nguyền rủa khinh bỉ. Trong giới truyền thông ở vùng này, ông Sharon thường được nhắc đến như là một tội phạm chiến tranh.

Mặc dù vậy, ông Sharon, cũng giống như vị tiền nhiệm Rabin, dường như cuối cùng cũng đã nhìn ra việc phải chấp nhận một chính sách thoả hiệp nhượng bộ với đối phương Palestine để mưu cầu một nền hoà bình lâu dài trong vùng, cho dù là những điều nhượng bộ đó được thi hành một chiều và theo thứ tự do ông chủ động. Với một quá trình cương quyết chiến đấu dài lâu từ lúc còn là một sĩ quan trẻ cho đến lúc tham gia vào chính trường và sau này là một lãnh tụ cứng rắn trong chiến dịch đè bẹp phiến quân Palestine trong cuộc nổi dậy intifada lần thứ hai này một cách hết sức tàn bạo không nương tay, ông Sharon không sợ bị các đối thủ chính trị tại Do Thái chụp mũ là một thành phần mềm yếu hay hèn nhát không có khả năng để giải quyết vấn đề an ninh cho đất nước. Giống như trường hợp của TT Richard Nixon là một người chủ chiến chống Cộng của đảng Cộng Hoà, ông không sợ bị chụp mũ là thành phần bồ câu chủ bại khi tìm cách bắt tay với kẻ thù Trung Cộng từ năm 1971. Lần này, ông Sharon cho rằng dường như Do Thái phải chấp nhận một thực tế là phải nhượng bộ những phần đất đã chiếm cứ lập nghiệp để từ đó mới mong tạo được một quốc gia Palestine độc lập và có thể bớt tránh khỏi xung đột triền miên khiến cho Do Thái lúc nào cũng phải bận tâm đối phó.

Vào tháng Tám năm ngoái, ông Sharon đã thực thi đúng với những lời đã nói, ra lệnh rút hết quân dân Do Thái khỏi các trại định cư tại dải Gaza, mặc dù có sự chống đối mãnh liệt từ phía nội bộ đảng cầm quyền Likud của ông. Không ai biết được là sau đợt rút ra khỏi Gaza, ông sẽ tiến đến việc rút ra khỏi vùng Ngạn Tây một cách tích cực như thế nào, tuy nhiên việc chính quyền của ông tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng bờ tường cao làm hàng rào chạy quanh vùng Ngạn Tây được coi như là một cố gắng để hoàn thành một thứ biên giới mới giữa Do Thái và Palestine, cũng như là một rào cản an ninh, ngăn cấm không cho phía Palestine có thể trà trộn dễ dàng sang phần đất của Do Thái. Tuy nhiên cái cấu trúc và địa hình của bờ tường này, chạy quanh co ngoằn ngoèo khắp trên diện tích của vùng Ngạn Tây, đã không làm cho cả hai phía Do Thái và Palestine hoàn toàn ưng ý. Tuy lằn ranh của nó đã trao trả lại gần 85% diện tích về phía Palestine, người dân của khối này vẫn không đồng ý vì tại nhiều vùng họ đã sống trong trạng thái như bị giam hãm ngay trên đất nước của mình vì mỗi khi đi từ nơi này sang vùng khác và phải xuyên qua các bờ tường này, họ phải bị chặn khám xét ở các trạm gác do quân đội Do Thái canh giữ và kiểm soát. Tình trạng này khó làm cho người dân Palestine có được cảm giác sống trong một xứ tự do và với chủ quyền độc lập vì một quốc gia Palestine với diện tích đầy đặn không bị chia cắt rời rạc không thể nào hiện thực được khi mà thành phố Jerusalem đều bị cả hai phía Do Thái và Palestine đều cho là của riêng mình dựa theo lịch sử và truyền thống lâu đời.

Mặt khác, đối với thành phần quốc gia cực hữu tại Do Thái, việc trao trả lại những phần đất này, như Judea và Samaria, được coi như là vùng đất hứa trong Thánh Kinh, lại bị đánh giá là một hành động phản bội tương tự như việc bỏ đạo. Vì thế, những người này, đại diện bởi nhiều vị dân cử trong đảng cầm quyền với ông Sharon đã tỏ ra chống đối dữ dội kế hoạch rút các trại định cư khỏi Gaza. Đó cũng là phản ứng chỉ trích và lên án cá nhân ông Sharon một cách tàn nhẫn của một chính trị gia người Mỹ là ông Pat Robertson, một lãnh tụ phe bảo thủ giáo điều Christian Evangelicals, khi cho rằng cơn bệnh đột quỵ mà ông Sharon đang gặp phải là do hình phạt của Chúa đã giành vì ông Sharon đã dám cắt đất của Chúa Giê-su cho người ngoại đạo! Nhân vật bảo thủ cực đoan Pat Robertson này cũng chính là người trước đây đã từng hô hào rằng nếu như TT Hugo Chavez của Venezuela cứ hay lớn tiếng tố cáo rằng chính quyền Mỹ cứ muốn tìm cách hãm hại ông để nhổ đi cái gai khó chịu của chính quyền thiên tả này thì tội gì chính quyền Bush và CIA cứ ra tay tấn công hay ám sát luôn ông Chavez cho tiện việc sổ sách!

Nhưng khi các bộ trưởng phe Likud trong nội các nổi loạn chống đối kế hoạch rút ra khỏi Gaza, ông Sharon liền phản ứng một cách quyết liệt, rút ra khỏi đảng Likud mà ông đã có công sáng lập, kéo theo những cộng sự viên trung thành với ông để thành lập một đảng mới với tên Kadima (Đi Tới). Cùng lúc đó thì tình hình bên phe đối lập là đảng Lao Động cũng có thay đổi lớn, một nhân vật chủ hoà là Amir Peretz lên ghế lãnh tụ đảng, khiến cho cựu lãnh tụ Shimon Peres cũng phải từ bỏ này đảng để chạy theo đảng Kadima mới của ông Sharon, trong khi bên phía đảng Likud thì phe cực hữu lên thay với nhân vật Binyamin Netayahu, một cựu thủ tướng trước đây.

Cho đến khi xảy ra vụ đột quỵ khiến cho ông Sharon phải bị đưa vào bệnh viện để giải phẫu cấp cứu trên đầu thì lá bài tố xả láng hay tháu cáy của ông xem chừng như có dấu hiệu đạt được kết quả khích lệ. Một đảng theo trường phái trung hữu, sẵn sàng cho một giải pháp hai quốc gia trên một vùng đất nhưng vẫn cương quyết cứng rắn trong chính sách bảo vệ an ninh, xem chừng như là một lựa chọn khả dĩ chấp nhận được cho đa số dân chúng tại Do Thái, tuy vẫn cương quyết muốn giữ vững bờ cõi đất đai của mình nhưng phải chấp nhận một giải pháp thoả hiệp nhượng bộ để khỏi phải lâm vào cảnh bắn giết triền miên giữa hai phía Do Thái và Palestine. Những cuộc thăm dò dân ý mới nhất cho thấy là với tên tuổi của ông Sharon dẫn đầu, đảng Kadima sẽ đánh bại dễ dàng hai đảng Lao Động của phe tả và Likud của phe hữu trong cuộc bầu cử toàn quốc vào tháng Ba sắp tới. Thế nhưng giờ đây với sự vắng bóng của lãnh tụ tối cao này, câu hỏi được đặt ra là liệu đảng Kadima sẽ đạt được thành quả nào trong thời gian vận động ngắn ngủi sắp tới. Bởi vì với thành phần nhân sự quá mới, cương lĩnh cũng chưa được soạn thảo kỹ lưỡng, và chỉ dựa vào uy tín cá nhân và mức ủng hộ khá cao trong quần chúng của lãnh tụ, đảng Kadima có thể rơi vào tình trạng như rắn mất đầu khi thiếu vắng ông Sharon. Thậm chí cho đến khi ông Sharon được đưa vào nhà thương để chẩn bệnh cách đây vài tuần trước khi cơn chấn động mạch máu não nổ ra, ông cũng chưa kịp chỉ định những nhân vật nào sẽ nắm giữ các bộ trong nội các mới của ông. Hiện nay không có một nhân vật sáng giá nào có thể thay thế vai trò của ông Sharon để coi thể đem về chiến thắng cho đảng Kadima. Phó thủ tướng hiện nay là Ehud Olmert, trên lý thuyết sẽ là người thay thế trong vai trò quyền thủ tướng và có nhiều cơ may để trở thành tân lãnh tụ của đảng, nhưng ông Olmert không có uy tín cao cũng như không được lòng dân bởi vì bị coi là một chính trị gia tự kiêu và ngạo mạn, khó lòng thu hút được sự ủng hộ trong nhiều tầng lớp quần chúng để có thể áp dụng những chính sách mới vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Ông Shimon Peres, một cựu thủ tướng và được biết nhiều hơn trên trường quốc tế như là một chính trị gia kỳ cựu, nhưng tiếc thay lại là người luôn gặp thất bại trong các kỳ bầu cử ở trong nước, và hơn nữa, vì là một người bên đảng Lao Động khuynh tả chạy sang đảng mới, ông khó lòng được đa số người dân và đảng viên khuynh hữu ủng hộ tuyệt đối.

Giống như lịch sử lại tái diễn, như cuộc bầu cử đầu tiên vào năm 1996 sau khi Thủ tướng Rabin bị ám sát, việc thiếu vắng một lãnh tụ sáng giá theo khuynh hướng trung hữu có thể mở đường cho sự hình thành của một liên minh do đảng Likud dẫn đầu. Cũng giống như trường hợp của năm 1996, lần này, đảng Likud lại do cùng nhân vật Binyamin Netayahu lãnh đạo, sau khi lên nắm quyền đã tìm cách kéo dài tiến trình thoả hiệp hoà bình Oslo đã được ký kết trước đó để rồi cuối cùng khiến cho nó bị thất bại.

Cái khoảng trống chính trị mà sự vắng mặt của ông Sharon để lại trong chính trường Do Thái sẽ khiến cho người ta khó tưởng tượng được một tiến triển cụ thể và khả quan nào trong tương lai gần trong cuộc hoà đàm với đối phương Palestine. Trong khi đó thì tình hình bên phía Palestine cũng không có gì tốt đẹp hơn, nếu không muốn nói là cũng khá bấp bênh và có nhiều phần là rối loạn hơn cho triển vọng hoà bình. Lãnh tụ Mahmoud Abbas, người được bầu làm tổng thống Palestine sau cái chết của lãnh tụ kỳ cựu Yasser Arafat cách đây hơn một năm, đã tỏ ra không có khả năng điều hành hay quản trị nổi hai vùng đất ở Ngạn Tây cũng như là dải Gaza sau khi phía Do Thái rút hết các trại định cư. Những vụ bắn giết giữa các nhóm dân quân Palestine của đảng Fatah (đảng của cựu lãnh tụ Arafat mà ông Abbas đang tiếp nhận) đã nổ ra tại dải Gaza hồi đầu tháng này trong vùng sát biên giới với Ai Cập cho thấy là Thẩm Quyền Palestine do ông Abbas lãnh đạo không có thực quyền để kiểm soát trên toàn lãnh thổ. Những vụ nổi loạn này thật ra chỉ là sản phẩm của cuộc tranh giành cho cuộc bầu cử quốc hội Palestine vào ngày 25 tháng Giêng này, mà nhiều người tiên đoán rằng phe quá khích và bạo động Hamas, nổi tiếng với những vụ tấn công cảm tử chống lại quân Do Thái từ nhiều năm qua nhưng cũng là nạn nhân của những vụ trả đũa tàn bạo không kém của quân lực hùng mạnh và tối tân của Do Thái, xem chừng như sẽ đạt được nhiều chiến thắng chính trị qua lá phiếu, khiến cho cuộc điều đình giữa hai phe Do Thái và Palestine, vốn đã chẳng mấy thuận thảo gì lắm từ trước đến giờ, có thể lại còn căng thẳng hay đứt đoạn giữa chừng.

Dự kiến lạc quan nhất cho rằng một quốc hội mới thành lập của Palestine có thể sẽ làm giảm áp lực chính trị vì phe Hamas, đảng đối lập hiện nay, sẽ giành được thêm nhiều ghế để có tiếng nói chính trị mạnh hơn và do đó có thể sẽ từ bỏ chính sách bạo động để bắt đầu tham gia vào trò chơi dân chủ ở nghị trường để đáp ứng lại với nguyện vọng của cử tri Palestine muốn tìm một giải pháp thoả hiệp với chính quyền Do Thái hầu tránh bớt cảnh tiếp tục bị đàn áp dã man bởi quân lực hùng mạnh của Do Thái. Tuy nhiên một dự kiến bi quan khác thì cho rằng có lẽ các kết quả bầu cử sắp tới sẽ bị khiếu nại hay chống đối bởi nhiều phía, có thể dẫn tới những cuộc đấu đá bắn giết để giải quyết xung đột và như thế thì chính quyền của ông Abbas càng mất thực quyền kiểm soát hơn nữa. Trong trường hợp này, Do Thái sẽ càng có lý do để nói rằng phía đối tác của họ (chính quyền Palestine) không phải là một thành phần có thực quyền và thực tâm ngăn chặn tình trạng bạo loạn trong nước nên họ không còn lý do gì để tiếp tục hợp tác trong cái gọi là "lộ trình hoà bình" do bốn nhóm quyền lực chủ động từ nhiều năm qua, là Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, Nga Sô và Liên Hiệp Quốc. Mặc dù trong thực tế, chính quyền Sharon đã chẳng màng nghe theo lời khuyến cáo của cộng đồng quốc tế cũng như của Hoa Kỳ để đi theo cái lộ trình này, và chỉ giữ những liên hệ ngoại giao gắng gượng với phe Palestine để đỡ bị tiếp tục chỉ trích và lên án bởi cộng đồng thế giới.

Điều đáng ngại hơn nữa là tình trạng tạm thời yên tĩnh không có xung đột quân sự giữa hai bên trong thời gian qua có thể sẽ sớm chấm dứt. Nếu như tình trạng bạo lực bùng nổ, các vụ nổ bom cảm tử từ phía Palestine sẽ kéo theo các vụ tấn công trả đũa tàn bạo của quân lực Do Thái sẽ càng khiến cho các phe quá khích của mỗi bên càng cứng rắn và mạnh bạo hơn nữa trong nội bộ của họ, khiến cho tình hình tại đây càng tiếp tục căng thẳng.

Trong khi đó thì tình hình tại các lân bang trong vùng cũng không có dấu hiệu gì khả quan và ổn định. Những thành quả mà phe Hamas có thể đạt được trong cuộc bầu cử sắp tới cũng tương tự như chiến thắng mà một phe quá khích khác tại Ai Cập là tổ chức Muslim Brotherhood (Huynh Đệ Hồi Giáo) đã đạt được 20% số ghế trong quốc hội vào năm ngoái. Tổ chức này, trên danh nghĩa là đã bị khai trừ và khoá sổ không được hoạt động chính thức vì những chủ trương cực đoan quá khích, đã đưa ra những ứng cử viên với danh nghĩa độc lập và đã đạt được những thành quả khả quan này, cho thấy là tình trạng đối lập tại Ai Cập có phần lớn mạnh, chứng tỏ những dấu hiệu rạn nứt trong quyền lực kiểm soát của chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak.

Tại Ba Tư (Iran) thì tình hình có thể coi như là một mối nguy đáng ngại hơn hết trong lâu dài khi mà chính quyền ở Teheran, mặc cho sự chống đối của Hoa Kỳ và Tây Âu cũng như của Liên Hiệp Quốc, vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách phát triển hạch tâm qua chương trình tích tụ chất uranium, một trong nguyên liệu có thể chế biến vũ khí nguyên tử. Ba Tư cho rằng chương trình tích tụ uranium này là cần thiết để chế biến năng lượng cho các lò phản ứng nhiên liệu hạch tâm vào mục đích dân sự (cung cấp năng lượng bằng hạch tâm) trong khi Hoa Kỳ và các nước khác thì tin rằng Ba Tư đang tìm cách chế tạo chất này để làm các đầu đạn nguyên tử vì không lý do gì một quốc gia với kho dự trữ dầu hoả dưới lòng đất to lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới lại có thể lo sợ chuyện thiếu năng lượng. Vào năm 1981, các phi cơ của Không lực Do Thái đã thả bom huỷ diệt lò phản ứng nguyên tử Osirak của Iraq để triệt hạ khả năng nguyên tử của nước này ngay từ trong trứng nước, nhưng nay thì giải pháp quân sự đó không còn có thể ứng dụng được nữa, một phần là những phản ứng trả đũa dữ dội từ phía Ba Tư sẽ khiến cho tình trạng càng thêm rối loạn và bùng nổ dữ dội với những hậu quả không lường trước được, trong khi Hoa Kỳ gần như vẫn còn bị bó tay với tình hình an ninh tại Iraq.

Khi nói đến Iraq tức là lại nói đến vết thương lòng đầy nhức nhối của chính quyền Bush, chưa biết cách nào để giải quyết cho ổn thoả trong khi ngoài mặt vẫn còn nói một cách hùng dũng nhưng thực tâm đang tìm cách rút bớt quân ra khỏi Iraq trong khi cứ thầm mong là tình hình an ninh đừng có trở nên tồi tệ hơn để cho những hình ảnh tồi tệ về các vụ nổ bom cảm tử kinh hoàng cứ tiếp tục nổ ra và con số các quân nhân Mỹ cứ tiếp tục thiệt mạng đừng có được phổ biến dài dài trên các diễn đàn truyền thông càng khiến cho dân chúng Hoa Kỳ càng bất mãn hơn nữa với chính quyền Bush và đảng Cộng Hoà.

Trong khi TT Bush và bộ tham mưu ở Bạch Cung đang vạch ra một chương trình quảng cáo quy mô để mong phục hồi lại uy tín xuống quá thấp trong thời gian qua liên quan đến tình hình tại Iraq, thì dường như các tên chủ động nhóm phiến quân tại Iraq cũng biết theo dõi thời sự tại Hoa Thịnh Đốn một cách khá sắc bén. Trong tháng trước, để đối phó lại với những lời chỉ trích rằng chính quyền đã không đưa ra một kế hoạch cụ thể nào để đạt được thành quả rõ ràng tại Iraq, TT Bush đã đọc một loạt các bài diễn văn hùng hồn, một mặt thú nhận những trở ngại và khó khăn hơn dự đoán lúc ban đầu (để chứng tỏ là mình cũng biết nhìn nhận khuyết điểm và sửa sai), một mặt đề ra những thành quả cụ thể về mặt chính trị (qua cuộc bầu cử quốc hội thành công) và quân sự (qua kế hoạch gia tăng huấn luyện quân đội Iraq để giữ gìn an ninh) để hứa hẹn một viễn ảnh lạc quan hơn cho dân chúng Hoa Kỳ không muốn thấy con em hay thân nhân của mình tiếp tục bị trưng binh để lao đầu hy sinh cho một chiến trường xa xôi một cách vô ích khi mà người dân tại xứ đó cứ tiếp tục căm thù và tức giận trước sự xâm lấn của Hoa Kỳ. TT Bush cũng đã làm những hành động biểu kiến kêu gọi sự hợp tác của mọi người trong nỗ lực mưu cầu một giải pháp đoàn kết cho vấn đề Iraq bằng cách mời gọi tất cả các cựu tổng trưởng ngoại giao và quốc phòng đến bàn thảo để khỏi tiếp tục bị mang tiếng là ngoan cố không nghe lời cố vấn hay khuyên giải của nhiều người khác nhau.

Thế nhưng thực tế phũ phàng tại chiến trường đã khiến cho những nỗ lực này xem chừng như sẽ chẳng đạt được kết quả cụ thể nào. Ngay cả việc bầu cử quốc hội mới diễn ra thành công, điều này cũng chưa chắc là một dấu hiệu tốt cho quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ. Bởi vì sự tham dự đông đảo của nhiều thành phần trong xã hội Iraq càng biến cho một quốc hội tân cử khó đoàn kết với ba khối Shiite, Sunni và Kurd có đầy đủ tiếng nói nhưng là để bảo vệ cho những quyền lợi riêng biệt và xem chừng như khó dung hoà lẫn nhau. Tương lai một nước Iraq tiếp tục tranh giành nội bộ có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn không phải là điều xa thực tế và phía Hoa Kỳ cũng đang phân vân khi biết mình đã thất bại không tìm ra được một giải pháp khả dĩ chấp nhận được với những con bài như cựu thủ tướng Iyad Allawi, tuy là người Shiite nhưng không quá khích kiểu giáo điều, và đã để cho quyền hành dần dần nghiêng về ảnh hưởng của phe Shiite giáo điều, nhiều phần là sẽ có thiện cảm với phe cầm quyền tại Ba Tư.

Trong khi đó thì tình hình an ninh tại Iraq cứ tiếp tục giáng xuống những hình ảnh bất lợi cho kế hoạch tuyên truyền của chính quyền Bush, hết vụ nổ bom cảm tử gây thiệt mạng cho vài binh lính Mỹ thì lại đến vụ nổ máy bay trực thăng khiến cho hơn chục quân nhân Hoa Kỳ phải bỏ xác, cứ như là một hình thức tra tấn kéo dài lên cái tâm thức vốn rất mong manh và thiếu kiên nhẫn nổi tiếng của cử tri Hoa Kỳ.

Nói theo lời nhận định của ông Diaa Rashwan, một chuyên gia của Viện Nghiên Cứu Chính Trị và Chiến Lược Al-Ahram Center tại thủ đô Cairo ở Ai Cập rằng: "Nhìn ở bất cứ nơi nào tại Trung Đông, anh sẽ thấy toàn là rối loạn và không có giải pháp nào thoả đáng cả. Quả tình là một hình ảnh không mấy sáng sủa gì.", thì điều này thật sự là mối lo âu cho nhiều người trong vùng chứ không chỉ riêng gì cho TT Bush trước khi ông đọc bản diễn văn quan trọng Thông điệp đầu năm vào cuối tháng này.

Nguyễn Anh Tuấn
Houston, Texas 15 tháng Giêng, 2006


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_trung_dong_voi_tuong_lai_bat_.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.