Tự Do Xưa và Nay

Theo http://www.vietnamexodus.org - Fareed Zakaria (Vương Bách Thạch dich) - 18-01-2006

 

 LỜI BẠT.- Trước các diễn biến chính trị gần đây ở VN, Vietnam Exodus chủ trương : Việt Nam phải có tự do trước, nhiên hậu mới có điều kiện xây dựng dân chủ. Năm 2003, học giả Zakaria xuất bản sách “The Future of Freedom” trong đó có chương “Tự Do, xưa và nay” chứa đựng nhiều luận điểm mà chúng tôi rất tán đồng. Cũng có vài điểm nhỏ chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với ông Zakaria, nhưng đại để, tòan bộ cuốn sách của ông rất bổ ích cho những ai quan tâm đến tự do, nhất là cộng đồng ngưòi Việt lưu vong vì mất tự do, không ngừng đấu tranh giành lại tự do đã mất. Chúng tôi chuyển ngữ một chương trong cuốn sách nói trên, đồng thời ân cần giới thiệu cuốn sách với độc giả của Vietnam Exodus.
 

TỰ DO, XƯA VÀ NAY
 (Fareed Zakaria – The Future of Freedom)
 
Trang 30-31-32-33

Khi ta lấy một sự việc đơn độc để đánh dấu khởi điểm của một hiện tượng lịch sử - trong trường hợp này là sự phát triển của tự do – thì hiển nhiên đó là một sự đơn giản hóa quá mức; nhưng mọi sự đều phải bắt đầu từ một chỗ nào đó chứ ! Theo ý tôi, sự vươn lên của Giáo Hội Ki-Tô là nguồn gốc quan trọng đầu tiên của tự do ở Phương Tây và sau đó ở khắp thế giới. Ý này làm nổi bật chủ đề của chương sách này : tự do đến với Phương Tây nhiều thế kỷ trước khi có dân chủ. Nó cũng làm nổi bật một nghịch lý chạy dài suốt chủ đề này : dẫu cho có bất cứ nguyên ủy sâu xa nào thuộc về cơ cấu, tự do ở Phương Tây đã phát sinh qua nhiều đợt đấu tranh quyền lực. Hậu quả của các cuộc đấu tranh quyền lực này - giữa giáo hội và nhà-nước, giữa quí tộc và vua, giữa Tin Lành và Công Giáo, giữa doanh gia và nhà-nước - thấm sâu vào cội rễ của đời sống Phương Tây, sản sinh ra sức ép ngày càng nặng nề, đòi tự do cá nhân, đặc biệt là ở nước Anh, chạy dài sang đến nước Mỹ.

Có người sẽ bài bác việc nhấn mạnh vai trò của Giáo Hội Ki-Tô, mê mải vạch ra rằng Cổ Hi Lạp mới là cái nôi của tự do. Mấy người này sẽ nghĩ đến bài điếu văn lừng danh của Pericle, đọc năm 431 trước công nguyên, trong đó có gợi lại các viễn kiến đầy kích động của Athens vào thời đó, nói về tự do, dân chủ và bình quyền. Hầu như suốt thế kỷ 19, giáo trình các đại học ở Anh và ở Đức đều giả định rằng thành tựu vĩ đại nhất của nhân loại đã nở hoa vào khoảng thế kỷ thứ năm trước công nguyên ở các đô-thị-nhà-nước (city-states) của Hi Lạp. (Công trình khảo cứu về Cổ Hi Lạp và La Mã ở các đại học Oxford và Cambridge, đến nay vẫn còn quen miệng được gọi là “Vĩ Đại”). Nhưng nỗi ám ảnh ấy của triều đại Victoria về Hi Lạp, phần nào chỉ là ảnh ảo. Cổ Hi Lạp là một nền văn hóa phi thường, phong phú về triết học, khoa học và văn học. Nó là cái nôi của dân chủ và các ý tưởng liên hệ tới dân chủ, nhưng các thứ đó chỉ được thực hiện ở một vài đô-thị-nhà-nưóc nhỏ bé, nhiều lắm là được gần một trăm năm, rồi chết theo với việc Macedonia chinh phục Athens năm 338 trước công nguyên. Hơn một thiên kỷ sau, kinh nghiêm Cổ Hi Lạp trở thành nguồn cảm hứng cho những người theo lý tưởng dân chủ (democrats), nhưng trong các thế kỷ xen kẽ sau đó nó không để lại ảnh hưởng rõ nét nào có tính cách định chế trong chính trị của Châu Âu.

Nói cho đúng hơn, Hi Lạp không phải là nơi khai sinh ra tự do theo cái nghĩa chúng ta hiểu ngày hôm nay. Tự do (Liberty) trong thế giới hiện đại, trước hết và trên hết, là tự do (freedom) của cá nhân, thoát khỏi quyền uy độc đoán (arbitrary authority), còn gọi là quyền hành thô bạo của nhà-nước. Nó bao hàm các nhân quyền cơ bản (basic human rights) : tự do phát biểu, tự do hội họp và thờ phượng, và các quyền được đối xử đúng phép tắc (rights of due process). Nhưng tự do cổ xưa (ancient liberty) theo sự cắt nghĩa của triết gia duy lý (Khai sáng; Enlightenment) Benjamin Constant, lại mang một ý nghĩa khác :rằng mọi người (thực ra là mọi nam công dân) đều có quyền tham dự vào việc điều khiển cộng đồng. Thường thường, tất cả công dân đều góp phần trong việc lập pháp, và nếu như thế là bất tiện, thì các nhà lập pháp được chọn ra theo lối bốc thăm, giống như ngưòi Mỹ ngày nay chọn bồi thẩm đoàn. Nghị Hội Nhân Dân Cổ Hi Lạp có quyền hạn vô bờ bến. Các quyền cá nhân không được coi trọng trên lý thuyết, mà trong thực tế cũng không được bảo vệ. Theo câu nói của Constant thì dân chủ Cổ Hi Lạp có nghĩa là “sự khuất phục của cá nhân trưóc quyền năng của cộng đồng”. Nên nhớ rằng vào thế kỷ thứ tư trước công nguyên ở Athens, nơi mà nền dân chủ Hi Lạp biểu hiện ý nghĩa đích thực của nó, Nghị Hội Nhân Dân - do bầu cử dân chủ - đã giáng tội chết cho triết gia vĩ đại nhất của thời đại, chỉ vì những điều giáo huấn của ông. Việc hành quyết Socrate là có dân chủ nhưng không có tự do.

Nếu cội rễ Hi Lạp của tự do Tây Phương đưọc đề cao quá mức, thì cội rễ La Mã lại bị xao lãng. Khi Herodotus viết rằng ngưòi Hi Lạp là một “dân tộc tự do”, ông ta muốn bảo rằng người Hi Lạp không còn là nô lệ dưới sự thống trị hay chinh phục cuả người nước ngoài. Cái ý này, ngày nay chúng ta gọi là “độc lập dân tộc” hay “dân tộc tự quyết”. (Nếu định nghĩa như thế thì Bắc Triều Tiên hiện nay đuợc coi là có tự do).

Người La Mã nhấn mạnh khía cạnh khác của tự do : rằng tất cả mọi người dân phải đưọc đối xử ngang nhau theo luật pháp. Khái niệm này về tự do gần gũi hơn với khái niệm tự do của Tây Phương, và từ ngữ La Tinh libertas là nguyên ngữ gốc chữ tự do của chúng ta. Trong khi Hi Lạp đem lại cho thế giới từ triết học tới văn học, thi ca và nghệ thuật, thì La Mã cho chúng ta những khởi điểm của việc hạn chế quyền bính cùng với sự cai trị bằng luật pháp (the rule of law). Nền Cộng Hoà La Mã với sự phân lập quyền bính (3 ngành), bầu cử các viên chức theo nhiệm kỳ hữu hạn, và sự nhấn mạnh về bình đẳng trước pháp luật, đã từng là mẫu mực cho các chính quyền từ đó cho đến bây giờ với ý thức rõ rệt nhất là sự thiết lập nền Cộng Hoà Mỹ Quốc. Cho đến ngày hôm nay, các khái niệm và thuật ngữ chính trị La Mã đã sống bền vững trong thế giới Tây Phương : thượng viện, cộng hoà, hiến pháp, quận hạt v.v… Luật pháp Tây Phương tràn ngập di sản La Mã đến nỗi mãi cho đến đầu thế kỷ hai mươi các luật gia đều phải thông thạo tiếng La tinh. Hầu hết luật pháp của thế giới về khế ưóc, tài sản, trách nhiệm dân sự, phỉ báng, di sản, địa ốc, thủ tục tố tụng, thủ tụng viện chứng v.v… đều là những dạng biến đổi cuả các luật thuyết La Mã. Đối với Herbert Asquith, một nhà giáo khoa tài tử xuất sắc,sau trở thành thủ tướng nước Anh, thì cống hiến vĩ đại nhất của La Mã cho mọi thời đại là “La Mã đã sáng lập, triển khai và hệ thống hóa nền triết học pháp luật cho thế giới”.

Tuy nhiên, khe hở trong luật La Mã là, ứng dụng vào thực tế, nó không áp dụng cho giai cấp cầm quyền, đặc biệt là khi nền cộng hoà biến tính thành một nền quân chủ vào thế kỷ thứ nhất. Các vị Hoàng Đế như Nero, Vitellius và Galba ngày ngày xử tử người ta mà chẳng có tòa án gì cả. Các vị ấy còn xâm đoạt nhà dân cũng như đền đài, hãm hiếp và sát hại thần dân của mình. Nổi tiếng là Caligula đã bổ nhiệm con ngựa của mình làm Thượng Nghị Sĩ, một hành vi vừa mặc nhiên vừa công nhiên xúc phạm cái cơ chế một thời từng được kiêng nể.

Các truyền thống pháp lý từng được cẩn trọng gầy dựng trong những năm Cộng Hoà La Mã đã suy sụp xập xệ khi đế quốc này suy thoái. Bài học về sự sụp đổ La Mã là :muốn cho nền pháp trị được lâu bền, ý hướng tốt của nhà cầm quyền không đủ, bởi vì cả hai thứ đó ( ý hướng và người cầm quyền) đều có thể đổi thay. Cần phải có những định chế trong xã hội với sức mạnh không lệ thuộc vào nhà-nước. Tây Phương đã tìm thấy các quyền năng đối giá (countervailing force) ấy nơi Giáo Hội Ki-Tô

Lời cuối sau khi chuyển ngữ.-

(1) Xin hỏi : Nghị Hội Nhân Dân thời Trung Cổ có khác gì các toà án Kanguru (nhân dân) của Trung Cộng thời “cách mạng văn hóa” ? Có khác gì các cuộc đấu tố thời “cải cách ruộng đất” ở VN dưới triều đại “giặc cờ đỏ” cộng sản ? Bọn giặc cướp ấy mà có khả năng “xây dựng dân chủ” được sao ?

(2) Bầu cử 2007 của Việt Cộng, nếu không thỏa mãn một số điều kiện tiên quyết (thay hiến pháp; soạn luật bầu cử theo hiến pháp mới; giải tán đảng cộng sản; tư doanh hóa toàn bộ cơ sở quốc doanh do cộng sản làm chủ; tịch thu toàn bộ tài sản do chóp bu cộng sản vơ vét của dân bấy lâu nay; trả lại toàn bộ tài sản của các giáo hội - Cao Đài, Hoà Hảo, Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành …- bị giặc cộng cưỡng đoạt từ hơn 60 năm nay) thì bầu cử kiểu gì cũng chỉ là trò bịp bợm mà thôi.

(3) Toàn dân Việt Nam, tại xứ cũng như lưu vong không chấp nhận những thứ dân chủ thời Trung Cổ của Hi Lạp : tòa án Kanguru xử tử nhà hiền triết Socrate. Tha thiết thỉnh cầu các “think tank” của loài ngưòi yêu chuộng tự do ủng hộ cho nguyện vọng chính đáng của toàn dân Việt Nam./.

Vưong Bách Thạch


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_tu_do_xua_va_nay.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.