Theo Dan Chim Viet - Thần Báo - 14-01-2006
Ủy
Ban Cửu Long (The Mekong Committee) được thành lập sau 10 lần hội thảo
và chung quyết vào ngày 17 tháng 9 năm 1957, tại Bangkok với sự hiện
diện của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, Ủy Ban Kinh Tế Á Châu Viễn Ðông ECAFE
(The United Nations Economic Commission for Asia and the Far East), và
4 quốc gia thành viên hạ nguồn (downstream) gồm Cambodia (Cao Miên),
Laos (Ai Lao), Thailand và Việt Nam (Cộng Hòa).
Phe Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Quốc), Burma (Miến Ðiện) là
những nước thượng nguồn (upstream), và Việt Nam (Dân Chủ Cộng Hòa) lấy
cớ không có chương trình phát triển dòng nước (had no development
plans), họ từ chối tham gia hội nghị. Liên Hiệp Quốc phải giải hòa bằng
cách thành lập một ủy ban quản trị dòng sông với sự đồng thuận của bốn
nước hạ nguồn, và nhất thời phải quên “điểm nóng Trung Quốc.” Ủy Ban
Cửu Long lãnh nhiệm vụ đôn đốc việc hợp tác điều hành quản trị, phát
triển tài nguyên nguồn nước và nguồn lợi liên quan đến môi trường an
sinh vững ổn, vì lợi ích cộng đồng nhân loại, khai triển, thực hiện các
chương trình hoạt động chiến lược, cung cấp thông tin khoa học, cố vấn
chính sách, trao đổi dữ kiện liên quan đến giòng sông trong thời kỳ
Chiến Tranh Việt Nam.
Sông Cửu Long là dòng quốc tế, có chiều rộng được xếp vào hàng con sông
thứ bảy, và chiều dài 4200 cây số thuộc hạng sông dài thứ mười trên thế
giới. Cửu Long phát nguồn từ Tibet (Tây Tạng), Trung Quốc và chảy qua
Laos, Thailand, Cambodia đổ về đồng bằng miền Nam Việt Nam qua hai
nhánh Sông Tiền Sông Hậu trước khi ra ngoài Biển Ðông. Cửu Long cũng
không phải là dòng ngoại lai ngoại tộc, cũng không phải có hậu qủa
chênh lệch và khó xử, thượng nguồn thì lưu lượng dồi dào và hạ nguồn
lại khan hiếm như Sông Euphrates hay Sông Nile.
Sông Cửu Long có thể tự hào là dòng nước có nhiều loại thủy sản hơn bất
cứ những sông nào khác trên thế giới. Theo nhà điều nghiên Walter
Rainboth trong cuốn tài liệu phân loại cá mang tựa đề “Species Identification Field Guide For Fisheries Purpose: Fishes Of The Cambodian Mekong,”
FAO, Rome 1996, Sông Cửu Long có hơn 2000 loại ngư sản và chia thành 3
nhóm theo nguồn gốc sinh thái. (1) Cá nước ngọt (fresh water), suốt đời
chỉ sống trong nước ngọt và gặp nước mặn thì chết. Loại này gồm cá lưỡi
xương (osteoglossidae), cá thác lác (notopteridate), cá linh
(henichorhynchus)… (2) Cá nước mặn (salt water) là loại cá sống ngoài
biển, nhưng khi tỵ nạn và hội nhập dòng sông thì cả đời lại thích sống
trong nước ngọt, sinh sôi nảy nở như cá tra (pangaius kremfi), cá vồ
(pangasianodon gigas). (3) Cá biển là loại cá biển có thể sống ngoài
biển khơi hoặc chạy vào trong sông và thích hợp với môi trường nước phù
sa của Sông Tiền Sông Hậu, ví dụ cá kìm (pristis microdon), và thích
lội ngược dòng với lộ trình 3000 cây số đến Cambodia, Laos, Thailand
hay tận cuối nguồn.
Chu kỳ sinh sản của cá tùy thuộc vào mùa lũ lụt hàng năm trên dòng Cửu
Long. Cuộc di tản của cá thường xuất hiện vào đầu hoặc cuối mùa mưa.
Ðầu mùa, cá di cư đến vùng ngập lụt – Biển Hồ (Tonle Sap), và cuối mùa
thì bỏ chạy vì nơi đó sẽ trở thành khô cạn. Khi nước lũ bắt đầu và chảy
siết thì cá cũng bắt đầu cuộc di cư. Nước lũ quả thật là động cơ sinh
thái của hệ động vật trên dòng Cửu Long. Nước lũ không những là đặc
điểm thiên nhiên mà còn là nhu cầu của con người trong việc phát triển
kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, kỹ nghệ, chăn nuôi trồng trọt, sản
xuất điện nước hay phòng chống lũ lụt. Và chức năng của Ủy Ban Cửu Long
(cũng như cá) là đi tìm sự thỏa hiệp và hợp tác của các nước thượng
nguồn Trung Quốc, Miến Ðiện, Thailand, Laos, Cambodia và hạ nguồn Việt
Nam. Dầu rằng phát triển kinh tế nâng cao đời sống con người, nhưng
trong việc phát triển ấy phải xét đến tình tự theo nhu cầu duy trì sự
lành mạnh và phong phú của nguồn lợi thiên nhiên trong lưu vực, vì lợi
ích chung của các dân tộc đang sống trên Sông Cửu Long hôm nay và các
thế hệ tương lai mai sau.
Do
đó, Ủy Ban Cửu Long gồm mỗi nước một thành viên thuộc cấp bộ trưởng
trong chính quyền đương nhiệm. Ủy ban đề ra chính sách, quyết định và
hướng dẫn liên quan trong việc thúc đẩy, hỗ trợ, hợp tác và phối hợp
các hoạt động và chương trình chung. Các ủy viên phục vụ theo nhu cầu
của quốc gia mình trong từng ủy ban liên hợp, nhằm tăng cường hợp tác
qua phương cách tạo ra mối tương quan song phương giữa Ủy Ban Cửu Long
và cấp quốc gia. Mỗi Ủy Ban Quốc Gia đều có một Ban Thư Ký. Và các ban
thư ký hỗ trợ cho các Ủy Ban Cửu Long Quốc Gia trong việc xác định và
phối hợp các chương trình của Ủy Ban Cửu Long, trợ giúp các cơ quan
ngành trong nước mình về mọi hoạt động liên quan đến Ủy Ban Cửu Long,
tạo nên những điều kiện tổ chức nhằm phục vụ những sự kiện quốc tế như
trong biên bản các buổi hội nghị. Ngày 31 tháng 10 năm 1957 Ủy Ban bắt
đầu nhận một ngân khoản đầu tiên là 60 triệu FF (khoảng 120,000 USD) do
cộng đồng thế giới quyên góp và Pháp quốc đại diện trao tặng.
Và trong phiên họp kỳ II, ngày 10 đến 12 tháng 2 năm 1958 tại Bangkok,
Ủy Ban Cửu Long nhận sự đỡ đầu của chương trình Wheeler và kế hoạch ngũ
niên – chương trình do Trung Tướng Raymond Wheeler, nguyên chỉ huy lực
lượng đồng minh trong Thế Chiến II có kinh nghiệm về vùng Cửu Long, và
là người điều hành Ðoàn Công Binh Hoa Kỳ (The US Army Corps of
Engineers). Tiếp đến năm 1959, Liên Hiệp Quốc đã bổ nhiệm Tiến sĩ Hart
Schaaf, một Cao Ủy Trưởng làm Giám Ðốc điều hành Ủy Ban Cửu Long, và
thành lập ra hội đồng cố vấn do Ủy Ban Kinh Tế Á Châu Viễn Ðông ECAFE
đề cử.
Năm 1961, Ủy Ban Cửu Long tăng trưởng nhanh chóng trong việc hỗ tương
cộng tác của các quốc gia thành viên và quốc tế, đạt được 14 triệu USD,
và ngân khoản này vượt qua chỉ tiêu dự trù. Tính tới cuối năm 1965, Ủy
Ban Cửu Long được sự cộng tác của 20 quốc gia, 11 cơ quan quốc tế, và
nhiều tổ chức khác… đóng góp với ngân khoản hơn 100 triệu USD. Riêng
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã gây quỹ yểm trợ được 2.5 triệu USD. Từ
đó, Ủy Ban Cửu Long thành lập ra Câu Lạc Bộ Cửu Long (The Mekong Club),
tạo nên sức sống mới trong cộng đồng nhân loại, mệnh danh là “Tinh Thần
Cửu Long” (The Mekong Spirit).
Nhìn lại quá trình thành lập Ủy Ban Cửu Long, chúng ta thấy phe cộng
sản đã hoàn toàn bất cộng tác, dầu rằng chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
tuyên bố, “Các Vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta cố công giữ
nước.” Ông Hồ và đảng cộng sản cũng không nhìn thấy “nước Việt Nam hạ
nguồn” (downstream) để mà đặt vấn đề “giữ nước” trước lợi thế thủy đập
thượng nguồn (upstream) Trung Quốc. Cho nên dầu đã hy sinh hơn bốn
triệu sinh linh của dân tộc… thì vẫn không thoát cảnh nô lệ ngoại bang.
Ðây chính là mấu chốt của vấn đề cần đặt ra trong đại cuộc cứu nước của
dân tộc ta (Xem Khát Nước.)
Từ ngày thành lập ủy ban cho đến tháng Tư Ðen 1975, Hà Nội luôn luôn
thọc gậy bánh xe cùng với phía quan thày Trung Quốc tìm cách đánh phá
Ủy Ban Cửu Long. Và Trung Quốc cũng là một trong ba quốc gia trong đó
có Thổ Nhĩ Kỳ và Burundi, bỏ phiếu chống lại Hiệp Ước The Convention On
Transboundary Waters của Liên Hiệp Quốc bàn về vấn đề bảo vệ nguồn nước
quốc tế (international rivers). Trung Quốc bất hợp tác với các nước hạ
nguồn (Việt Nam, Laos, Cambodia, Thailand) và không tuân theo nguyên
tắc công pháp quốc tế (China so far has not shown much interest in
cooperating with its downstream neighbors and abiding by these
international principles).
Tóm lại, việc “giữ nước” của dân tộc nơi miền hạ nguồn Việt Nam hôm nay
cần có một hiệp ước của “các nước thượng nguồn,” nhằm đạt đến thỏa
thuận để bảo đảm 4 điểm như sau:
1. Kế hoạch phát triển dòng sông phải chiết tính các yếu tố kinh
tế, xã hội và môi trường an sinh tùy thuộc vào nước lũ lụt trong đó có
nghề chăn nuôi và đánh bắt cá, như đã nói trên.
2. Nguyên tắc phân phối nước trong chương trình sử dụng nước của
các quốc gia, từ thượng nguồn xuống tới hạ nguồn, xây dựng đập thủy
điện thủy lợi phải được cân nhắc kỹ lưỡng tới nhu cầu sinh thái
(ecosystem) của con người, động vật và thực vật để bảo đảm khối lượng
và chất lượng nước và cá một cách ổn định lâu dài.
3. Các công trình thủy đập, thủy điện, và thủy lợi từ thượng
nguồn xuống tới hạ nguồn phải được Ủy Ban quản trị chặt chẽ và duy trì
môi trường an sinh. Trên những văn bản về việc xa thải nước công nghệ,
nước nông nghiệp, nước gia cư xuống sông phải được thanh lọc không còn
hóa chất hay độc tố trước khi cho ra dòng sông, và gìn giữ sức chảy của
sông, không xả qúa khối lượng nước nhiều vào mùa cạn, và không đóng
nước trên thượng dòng vào mùa mưa để mà tích lũy nước.
4. Những nhà nghiên cứu, điều hành và quản trị dòng nước của Ủy
Ban Quốc Gia Việt Nam phải là những chuyên viên có học hành và nghiên
cứu đàng hoàng, chớ không phải anh 2 chị 3 là đảng viên cộng sản có
bằng tiến sĩ bổ túc hai năm… với khả năng làm việc đại loại của đảng
cộng sản như thế thì đành mất nước! Ví dụ, ông Bành Văn Ðởm chưa biết
ký tên mà đã làm giám đốc rừng quốc gia U Minh từ những năm 1975 đến
thập niên 2000 là dẫn chứng điển hình.
Lũ lụt thiên nhiên trên dòng Cửu Long là nhịp đập trong trái tim Việt
Nam, và tim ngừng đập, hoặc đập yếu thì dân tộc ta khó thở, và chết là
cái chắc!