Theo VNN - Lý Đại Nguyên - 25-01-2006
Dòng Sinh Mệnh Văn Hóa Việt Nam, đã được lịch sử Dân Tộc ghi nhận là khởi dựng từ ý niệm Nhân Chủ đơn sơ, lấy Con Người làm cội nguồn tư tưởng, lấy Con Người làm cứu cánh để phụng sự, nhằm chủ đạo cho tổ chức cuộc sống và mọi sinh hoạt Quốc Dân. Vì từ khi Dân Tộc thoát khỏi tư tưởng Đa Thàân của Bộ Lạc, bước lên cuộc sống Quốc Gia Dân Tộc thống nhất, lâp quốc tại vùng Ngũ Lĩnh Sơn - Động Đình Hồ, 2879 - 2197 trước Tây Lịch, thì ngay sau đời của vị vua đầu là Kinh Dương Vương, Người Việt đã không chọn thờ một đấng Thần Linh tối thượng duy nhất làm Thần Tổ, để tạo ra một Tôn Giáo Độc Thần, nhằm quy tụ ý chí thống nhất của toàn dân, như các quốc gia cùng thời, mà đã tôn con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân và vợ là Âu Cơ, Cha Mẹ Bách Việt, lên làm Thần Tổ Dân Tộc, để thành Đạo Thờ Ông Bà, ghi đậm dấu ấn của tinh thần bình đăủng Nam Nữ.
Tuy nhiên về lãnh vực thế quyền, biểu thị cho sự thống nhất Quốc Gia, Dân Tộc Bách Việt đã tôn Lạc Long Quân làm Thần Vương, hướng dẫn sinh hoạt Quốc Gia Thống Nhất, nhưng thực quyền vẫn do các Tộc Trưởng trực tiếp cai trị. Long Quân đi khắp chốn, dậy dân nếp sống Gia Đình và Trồng Cấy, như nhiệm vụ của Người Văn Hóa hơn là Nhà Cai Trị, vì lịch sử không hề ghi về việc Ngài đã lập ra một Triều Đình Phong Kiến Cực Vi, như quốc gia Trung Hoa song sinh với mình ở Phương Bắc, mà chỉ truyền tụng, đã tổ chức ra một Quốc Gia Bách Việt Tản Quyền. Do thế, khi Bách Việt bị Đế Quốc Nhà Hạ Phương Bắc tràn chiếm, vào năm 2197 trước Tây Lịch, thì Bộ Tộc Hồng Bàng, trưởng hệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, đã dám chọn việc Bỏ Đất, Giữ Dân, để thực hiện một cuộc Di Cư vĩ đại, dài trên 7 thế kỷ đi về Phương Nam, tới khoảng cuối Thế Kỷ 13, đầu Thế Kỷ 12 trước Tây Lịch, Tộc Việt xuống tới Châu Thổ Sông Hồng định cư, và cũng phải mất một thời gian dài ổn định, khoảng Thế Kỷụ 11, hoặc Thế Kỷ 10 trước Tây Lịch, mới chính thức lập quốc vĩnh viễn tại đây.
Gần 8 Thế Kỷ, Dân Tộc Bách Việt sống ở Ngũ Lĩnh Sơn - Động Đình Hồ, và gần 8 Thế Kỷ di cư, Dân Tộc Việt chỉ tôn kính Đức Lạc Long Quân là vị Thần Vương duy nhất và là bố của Dân Tộc, không có một vị Vua cụ thể nào hết, nên khi Hùng Vương thứ nhất, lập ra nước Văn Lang, Ngài mới tự nhận là con của Lạc Long Quân, truyền ngôi đựơc 18 đời, đến năm 258 trước Tây Lịch. Hùng Vương cũng theo truyền thống phân quyền nhân trị của Bách Việt, để phong cho các Tộc Trưởng làm Lạc Hầu, Lạc Tướng trực tiếp cai trị dân, sau thành truyền thống cai trị "Phép Vua, thua Lệ Làng" và rồi sẽ trở thành nềân Dân Chủ Trực Tiếp, Phường - Xã Tự Quản mai sau.
Như vậy về mặt tư tưởng cội nguồn Văn Hóa Việt là Nhân Chủ, nó không do lý luận của các triết thuyết, hay một hệ thống tư tưởng có biện chứng thành lập, mà đã khởi đi từ quán tính tự nhiên đơn giản rất Người, Bình Đẳng, Bao Dung, Đa Tính và Mở Rộng, tôn kính Cha Mẹ, Dòng Tộc, Dân Tộc, sẵn sàng tiếp thu những tư tưởng tốt đẹp phục vụ cho Con Người, bất cứ từ đâu tới. Như vậy chứng tỏ bản chất tư tưởng của Việt Tộc là tinh thần Nhân Chủ Tự Nhiên, thể hiện tính chất rất Người của Dân Tộc Việt. Chính vì tư tưởng rất Người Thực Tại đó, mà Dân Việt chỉ có Đạo Thờ Ông Bà, không có Tôn Giáo Duy Thần. Điều ấy đã chứng tỏ, Người Việt không đặt nặng vấn đề Vũ Trụ Quan, hoăĩc tin, hay không tin tuyệt đối vào một đấng Thần Linh an bài vũ trụ, nên không phát sinh tư tưởng Hoài Nghi, vốn là một gợi ý, tạo hứng, tiền đề cho các Triết Nhân, Triết Phái khác xuất hiện, mở ra các Ý Thức Hệ: Duy Thần, Duy Tâm, Duy Vật; các nền Đạo Học: Hữu Vi, Vô Vi, Giải Thoát, như Văn Minh Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp.
Mãi tới năm 111 trước Tây Lịch, Nước Nam Việt bị Đế Quốc Hán thống trị, thì Việt Tộc mới thực sự tiếp xúc với 3 nền Đạo Học Nho - Lão của Văn Minh Trung Hoa. Đồng thời cũng êm đềm tiếp nhận Đạo Phật của Văn Minh Ấn Độ truyền vào. Đối với Đạo Nho - Khổng Giáo - vốn được Nhà Hán tôn làm Quốc Giáo thì bị Việt Tộc coi như đạo của Đế Quốc, nên bất đắc dĩ bị nhận chịu. Còn Đạo Lão, tuy cũng phát xuất từ Trung Hoa, nhưng mang tính chất Duy Nhiên của người Phương Nam, do các Đạo Sĩ tránh nạn chạy xuống đất Việt, nên được người Việt dễ tiếp nhận hơn. Nhất là Đạo Phật, một tôn giáo vô chấp bao dung giải thoát, từ Ấn Độ du nhập, đã được Dân Việt mở rộng tâm hồn thoải mái đón nhận. Chính sự hiện diện của Đạo Phật trong sinh hoạt văn hóa của Việt Tộc, đã làm cho tư tưởng người Việt khác hẳn với lối nghĩ, lối sống cực đoan quá khích đối địch giữa khuynh hướng hữu vi, vô vi của văn minh người Hán. Từ đó làm thành bản sắc Dân Tộc cá biệt giữa Việt và Hán. Tránh khỏi cuộc nô lệ hóa tư tưởng, củng cố được tinh thần tự chủ dân tộc, tạo nổi sức trường kỳ đề kháng, chống lại hữu hiệu với cuộc đồng hóa khắc nghiệt toàn diện của Hán Tộc trên ngàn năm.
Đúng là Bản Chất Nhân Chủ Việt Tự Nhiên, kết hợp trọn vẹn với Biện Chứng Nhân Chủ Phật Vô Ngaõ, để thành Đạo Việt Phật, làm căn bản của Nền Văn Hóa Việt Tộc, giúp cho tư tưởng giới Việt có khả năng Dung Hóa với bất cứ nguồn tư tưởng nào, dù trái ngược cách mấy, miễn là những tư tưởng đó có mang Văn Hóa Tính. Nghĩa là cùng một cứu cánh phụng sự Con Người, cùng ý hướng thăng hóa tư tưởng, tâm linh Con Người thêm tốt, lành, đẹp, mới luôn. Chính nhờ vậy, mà hai luồng tư tưởng Hữu Vi Nho Giáo và Vô Vi Lão Giáo đối nghịch nhau tại Trung Hoa, sang tới Việt Nam được tư tưởng dung hóa truyền thống củaViệt Tộc, tiệm tiến đãi lọc, viên dung với tư tưởng Vô Chấp Phật Giáo, để thành Tam Giáo Đồng Nguyên, mở ra Nền Văn Minh Lý - Trần rực rỡ trong mùa Tự Chủ.
Thiền Sư Vạn Hạnh và Vua Lý Công Uẩn là hai người mở đầu công trình dùng tư tưởng Viên Dung Tam Giáo để tạo thành Nền Văn Hiến Dung Hóa: Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp, nhằm chủ đạo cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thịnh trị gần 4 trăm năm, suốt hai triều đại Lý - Trần. Dùng Đạo Nho để an bang, tế thế. Dùng Đạo Lão để di dưỡng tinh thần kẻ sĩ. Dùng Đạo Phật hướng dẫn tâm linh Con Người tự do, tự chủ, giải thoát, để vươn lên thể nhập vào cõi toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ củụa Vũ Trụ. Thiền Sư Vạn Hạnh, trả Thế Quyền lại cho Nho Sĩ, tách Phật Giáo ra khỏi Triều Đình, tạo thế Văn Hóa chỉ đạo cho Chính Trị. Giáo Quyền và Thế Quyền độc lập với nhau cùng chung lo phụng sự Con Người và Dân Tộc. Làm vơi đi những khổ đau do sự tranh thắng lý tưởng, tranh đoạt quyền hành, tranh giành quyền lợi, nhất là khi có giặc ngoại xâm thì dễ dàng huy động nổi sức mạnh của toàn dân cùng chống giặc.
Do cuộc xâm lăng của Đế Quốc Nhà Minh Trung Hoa,1414 -1427. Nền Văn Hiến Dung Hóa của Đại Việt bị tàn phá, toàn dân trở thành "dân ngu khu đen", từ đó Nhà Lê, tổ chức triều chánh độc tôn, đi dần vào khuôn khổ Phong Kiến Cực Vi Trung Hoa, đến đời Lê Thánh Tôn thì Đạo Nho trở thành độc tôn nơi triều chính và văn học, Đạo Lão từ từ biến dạng, Đạo Phật âm thầm sinh hoạt trong dân chúng. Những cuộc tranh quyền nơi triều chính thường xuyên diễn ra, cuối cùng năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, tạo ra cảnh chinh chiến cướp quyền triền miên. Do vậy khi trào lưu tư tưởng Duy Lý Duy Thần của Văn Minh Tây Phương tràn vào Việt Nam, thì triều đình Phong Kiến Nho Giáo Độc Tôn chỉ biết dùng hạ sách cấm đoán, giết chóc.
Tuy trong cảnh đen tối đó cũng có một nguồn sáng Dung Hóa của Truyền Thống Dân Tộc đã lóe lên, đó là việc thành lập Hội Đồng Tứ Giáo: Phật, Lão, Nho, Kitô Giáo, vào năm 1720, do Thiềân Sư Hương Hải đề xướng. Tuy bất thành, sau đó Ngài vẫn kiên trì thỉnh nghị với chúa Trịnh Sâm - 1767 - 1782, cho Hoa Lang Đạo, tức là Kitô Giáo hội nhập với Tam Giáo, nhờ vậy mà Hội Đồng Tứ Giáo đựơc chính thức triệu tập tại Phố Hiến. Nhưng tính cách cực đoan giữa Chính Quyền Phong Kiến Nho Giáo và Phái Đoàn Thừa Sai Kitô Giáo, có quá nhiều dị biệt, không thể bao dung chấp nhận nhau, nên đã dẫn tới sự cấm đạo, phá vỡ hoàn toàn đại nguyện của Hương Hải Thiền Sư.
Cuộc xung đột giữa trào lưu truyền đạo Kitô Giáo của Tây Phương đối với Triều Đình Nho Giáo của Việt Nam mỗi ngày thêm trầm trọng. Nhất là dưới triều đại Nhà Nguyễn. Từ việc vua Gia Long nhờ các Thừa Sai Kitô Giáo vận động chính quyền Pháp tiếp tay phục quốc, đánh đổ triều đình Nhà Tây Sơn, đến việc các triều vua Nhà Nguyễn sau đó, theo gương Nhà Thanh Trung Quốc cấm Đạo Kitô, đã tạo lý cớ cho nước Pháp đem binh đội chiến thuyền, súng lửa vào xâm chiếm Việt Nam 1858. Đến năm 1884, chiếm trọn được Việt Nam, đặt hệ thống Duy Lý Duy Thần Độc Tôn Tây Phương, lên trên chế độ Phong Kiến Nho Giáo, và đặt ách Thực Dân Đô Hộ lên Dân Tộc Việt Nam, kéo dài tới năm 1945. Như vậy là gần Nửa Thiên Niên Kỷ, Dân Tộc Việt Nam bị hết thế lực độc tôn này, tới thế lực độc tôn kia cướp quyền thống trị, toàn Dân Việt trước sau gì cũng chỉ là kẻ bị trị.
Đại chiến thứ II kết thúc, nước Nhật đầu hàng Hoa Kỳ vô điều kiện, Cộng Sản Việt Minh nhân cơ hội, cướp chính quyền từ tay vua Bảo Đại, vì trước đó Nhật Bản đã trao quyền cho vua Bảo Đại thành lâp nội các Trần Trọng Kim. Từ đấy họ mập mờ tự nhận là có công giành được Độc Lập, diệt Phong Kiến, rồi tàn sát các đảng phái Quốc Gia, nắm độc quyền kháng chiến chống Thực Dân Pháp tái chiếm Việt Nam. Kết quả Việt Nam bị chia đôi, Miền Bắc Việt Nam bị đặt dưới chế độ vô sản chuyên chính độc tài toàn trị, hoàn toàn nô lệ Quốc Tế Cộng Sản. Hồ Chí Minh và Cộng Đảng đã nhận lệnh Đế Quốc Liên Xô và đàn anh Trung Cộng, thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, rồi xâm lăng Miền Nam Quốc Gia Tự Do.
Miền Nam Quốc Gia Tự Do, được Quốc Trưởng Bảo Đại trao toàn quyền cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm điều khiển. Ông Diệm vốn là một cựu Thượng Thư của triều đình Bảo Đại Phong Kiến, một Kitô Hữu thuần thành ngoan đạo, siêng năng làm việc truyền giáo, được Giáo Hội Vatican hỗ trợ về mặt tinh thần và Hoa Kỳ viện trợ tối đa khắp mặt, để chống cộng. Ông lấy lại quyền hành từ tay người Pháp, dẹp tan các Giáo Phái vũ trang Miền Nam, truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, thành lập nền Việt Nam Cộng Hòa. Có Hiến Pháp Dân Chủ, nhưng thực chất chế độ chỉ mới tiến tới mức "Gia Trưởng Khoác Áo Dân Chủ" , như bất cứ một xã hội dân chủ phôi thai nào. Cho nên, chế độ mắc rất nhiều sai phạm trong việc Dân Chủ Hóa đất nước. Quyền hành thu về tay Gia Đình Nhà Ngô, nên không huy động được nội lực dân tộc, và gây nổi niềm tin cho toàn dân chống lại Cộng Sản Độc Tài.
Trong khi chiến tranh xâm lược của Việt Cộng vào Miền Nam gia tăng, thì năm 1962 Công Đồng Vatican II bắt đầu thực hiện một cuộc thay đổi sách lược lớn lao triệt để là "Tách Tôn Giáo khỏi Chính Quyền" . Trực tiếp đem đạo vào đời, đưa đạo đến thẳng với người dân của mọi nước, giữa lúc Hoa Kỳ cũng thay đổi chiến lược toàn cầu, bỏ lối be bờ, đã từng làm quân bằng cán cân quyền lực giữa Tây và Đông, qua việc chia đôi 3 nước Đức, Hàn, Việt; thay vào bằng việc chọn Việt Nam làm chiến trường chuyển động chiến lược mới. Nên Hoa Kỳ phải đem quân vào Việt Nam, nhằm Mỹ Hóa Chiến Tranh, nhưng TT Diệm dứt khóat từ chối. Thế là Ông bị mất cả hai thế lực quốc tế hậu thuẫn. Trong khi đó chỉ một đốm lửa lóe lên, là Chính Quyền cấm treo cờ Phật Giáo trong ngày Phật Đản 1963, đã thành một đám cháy khổng lồ thiêu rụi một chế độ có 9 năm tuổi đời. Sau đó các chính phủ chịu ảnh hưởng của Vatican ở khắp nơi trên thế giới cũng cùng chung số phận.
Phật Giáo Việt Nam vốn là tiềm lực của đại khối Dân Tộc, bị đẩy lên mặt tầng tranh đấu đòi "Bình Đẳng Tôn Giáo" , vì kể từ thời Pháp thuộc cho tới lúc đó, chỉ có Kitô Giáo mới được hưởng quy chế "Pháp Nhân", còn Phật Giáo chỉ là "Hiệp Hội". Nguyện vọng của Phật Giáo đơn giản là phải được luật pháp thừa nhận tính cách pháp nhân của một Tôn Giáo. Nhưng cả Ông Diệm lẫn Phật Giáo đều bị rơi vào thế "trai cò", để cho Hoa Kỳ "thay ngựa", nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu mới. Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam bị sụp đổ bởi cuộc đảo chánh quân sự, 01/11/1963, trong khi toàn thể các nhà lãnh đạo và tăng ni Phật Giáo ngồi trong tù. Miền Nam rơi vào cảnh hỗn loạn. Quân Mỹ vào Việt Nam, nâng cuộc chiến lên tầm vóc quốc tế thu hẹp. Phật Giáo và các Tôn Giáo khác tại Việt Nam Cộng Hòa, dù đựơc luật pháp thừa nhận là những tôn giáo có tính pháp nhân, nhưng riêng Phật Giáo lại bị đẩy vào thế phải "Đòi Hòa Bình" và "Đòi Dân Chủ" cho toàn dân. Lẽ đương nhiên, đòi hòa bình là chống lại với chính sách Việt Nam của Mỹ, còn đòi dân chủ là chống lại với địa vị của chính phủ quân nhân cầm quyền tại Việt Nam Cộng Hòa.
Khi kế hoạch "Phân Hóa Thế Giới Cộng Sản" của Mỹ thành công, qua việc Trung Cộng đi với Hoa Kỳ, quyết liệt chốùng Liên Xô, đánh dấu bằng cuộc gặp mặt Nixon và Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh và Thông Cáo Chung Thượng Hải 28-02-1972, ký giữa Tổng Thống Mỹ, Nixon và Thủ Tướng Trung Cộng, Chu Ân Lai. Đến đây, thì nhiệm vụ cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã chấm dứt. Các bên lâm chiến buộc phải hoàn tất Hiệp Định Paris về Việt Nam vào Mùa Xuân Năm 1973 ngày 27 tháng 01, để Mỹ rút quân. Kế hoạch "Việt Nam Hóa Chiến Tranh" của Tổng Thống Mỹ, Nixon cũng sụp đổ, sau khi ông bị buộc phải từ chức giữa nhiệm kỳ. Ngày 30-04-1975. Miền Nam bị rơi vào tay Việt Cộng. Kế hoạch "Huynh Đệ Tương Tàn" giữa thế giới cộng sản bắt đầu. Viêt Nam trở thành khúc xương do Mỹ quăng ra để cho Liên Xô và Trung Cộng tranh cướp với nhau. Kết quả Liên Xô thắng Trung Cộng. Việt Cộng nhận lệnh và tiền của Liên Xô, tiến đánh Khmer Đỏ, tay sai của Trung Cộng. Ngày 17-02-1979, Trung Cộng tràn quân vào Việt Nam, nói là dậy cho Việt Cộng một bài học. Trung Cộng trở thành Đồng Minh Chiến Lược của Mỹ trong việc làm tan vỡ khối Cộng Sản Đông Âu và Liên Xô.
Việt Cộng sa lầy tại chiến trườụng Cam bốt, trong lúc Liên Xô sụp đổ, nhưng vì không nằm trong vòng chuyển biến của khối Đông Âu, nên Việt Cộng không bị đổ theo, mà lại quay sang thần phục Trung Cộng, học theo Trung Cộng để vừa tư bản hóa kinh tế, vừa củng cố nền chính trị độc tài đảng trị. Thẳng tay đàn áp các Tôn Giáo Dân Lập của Dân Tộc và các phần tử phản kháng chống Tham Nhũng, Bất Công, Khủng Bố, đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt Nam. Phật Giáo là tôn giáo của đại khối Dân Tộc, luôn luôn đứng trong thành phần dân chúng bị trị để thực hiện Bồ Tát Đạo, nên buộc phải dấn thân vào cuộc trường kỳ vận động đó. Bởi vậy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một tôn giáo dân lập, theo truyền thống dân tộc Việt Phật, của dân, do dân, vì dân, đã nhạân lãnh trách nhiệm của mình trước Dân Tộc và Toàn Dân để thẳng thắn công khai đề kháng lại với chủ trương tiêu diệt tôn giáo, qua việc Nhà Nước Cộng Sản, buộc các tôn giáo phải sinh hoạt dưới sự khống chế của một tổ chức quốc doanh duy nhất là Mặt Trận Tổ Quốc do Cộng Đảng lãnh đạo. Ngày 04-11-1981, Cộng Đảng chính thức khai sinh ra tổ chức Phật Giáo đảng lập là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, để làm công cụ tuyên truyền cho đảng, rồi bắt giam, bức tử, tù đầy các nhà lãnh đạo chân chính của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Ngày 10-09-1991, trước khi viên tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, xử lý Viện Tăng Thống, đã ban hành giáo chỉ: Phục Hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa Thượng Thích Huyền Quang Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, từ nơi bị quản chế đã vựơt mọi đe dọa, cản ngăn đến nhận lại ấn tín và di mệnh trước linh cữu của Ngài Đôn Hậu, để thực hiện sứ mạng thiêng liêng đó. Trong khi các nhà lãnh đạo Giáo Hội khác vẫn nằụm trong tù. Tuy vậy, do sự hưởng ứng đồng loạt nhiệt tâm của Tăng, Ni, Phật Tử Việt Nam ở hải ngoại, đã làm cho dư luận thế giới và đồng bào trong nước hết sức ủng hộ và hưởng ứng. Năm1993, Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, Nguyên Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống được ra tù, Ngài lập tức liên lạc với Hòa Thượng Huyền Quang, để tiếp tay phục họat Giáo Hội. Ngài quy tụ hầu hết các Tăng Ni còn năĩng lòng với Giáo Hội và Dân Tộc tại Saigon và Miền Nam, rồi trao lại cho Hòa Thượng Quảng Độ, Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo, sau khi Ngài từ chốn lưu đầy được trả về Saigon. Từ đó Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngang nhiên công khai xuất hiện sinh hoạt, ngoài sự khống chế của Nhà Nước Cộng Sản, và cũng từ đó Việt Cộng xuống tay khủng bố Giáo Hội ngày một thô bạo hơn. Nhưng đồng thời cuộc Tranh Đấu cho Tự Do Tôn Giáo cũng lan rộng ra khắp các Tôn Giáo hiện có mặt tại Việt Nam.
Đến đây thì dù công khai hay âm thầm, tất cả các tôn giáo tại Việt Nam đều nhậân thấy trách nhiệm thiêng liêng của mình là phải góp công sức trong công cuộc đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo. Tùy vào vị thế, và phương pháp của mỗi tôn giáo để khởi động thế cách đấu tranh. Như Linh mục Nguyễn Văn Lý của Kitô Giáo, đã quyết liệt đưa ra khẩu hiệu "Tự Do Tôn Giáo Hay là Chết" . Khối tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo bừng khởi cuộc đấu tranh quyết liệt toàn diện, để rồi cùng Nhóm Linh Mục ở Huế, phối hợp với Tăng Đoàn Phật Giáo Thừa Thiên, thành lập Lực lượng Liên Tôn đòi hỏi Tự Do Tôn Giáo. Tuy Hội Đồng Giám Mục Kitô Giáo tại Việt Nam vẫn đứng ngoài, nhưng do nhu cầu của các giáo dân khắp nơi trên thế giới và kinh nghiệm bản thân của Giáo Hoàng John Paul II, và dựa vào sách lược của Công Đồng Vatican II, Ngài đã ban giáo lệnh cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cần phải Độc Lập với Chính Quyền, nên sau đó Tổng Giám Mục Saigon, Phạm Minh Mẫn mới đưa ra chủ trương đề kháng lại với chế độ "Xin, Cho" mà Việt Cộng đang áp dụng đối với các Tôn Giáo thuộc sự chi phối công khai của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và nhà nước Cộng Sản. Cũng từ đó Giáo Hoàng đã phong chức Hồng Y cho Tổng Giám Mục Phạm Minh Mẫn, mà không cần xin và thông báo trước với nhà nước Việt Nam.
Do áp lực của Quốc Tế và cuộc vận động của ngừơi Việt hải ngoại mỗi ngày một mạnh, nhà nước cộng sản Việt Nam đã phải nới lỏng với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Nhân cơ hội ấy, tại tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, Giáo Hội đã triệu tập Đại Hội Phật Giáo, để ngày 01-10-2003, hoàn chỉnh cơ cấu và nhân sự trong hai viện Tăng Thống và Hóa Đạo và được chính thức công khai công bố cùng thế giới, tại Đại Hội Phật Giáo Hải Ngoại - Melbourne, Australia - ngày 12-10-2003. Lập tức các nhà lãnh đạo Giáo Hội bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp, quản chế nghiêm nhặt. Nhưng lại đựơc dư luận khắp nơi trên thế giới hân hoan đón mừng sự phục hoạt của Giáo Hội. Ngày 19-11-2003, Hạ Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ra Nghị quyết hoan nghênh các nhà lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và lên án Việt Cộng đàn áp các nhà lãnh đạo Phật Giáo và các Tôn Giáo tại Việt Nam. Ngày 20-11-2003, Quốc Hội Liên Âu cũng ra Nghị Quyết tương tự. Đến đây thì vị thế Giáo Hội Dân Lập của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã chủ động xác lập, các Ban Đại Diện địa phương dần dần được thành lập, và dư luận quốc tế và toàn dân công nhạân. Sự kiện này nói lên ý nghĩa: Tự Do phải tự mình chủ động gianh lại thì mới có giá trị.
Với khả năng Dung Hóa của Văn Hóa Việt, với tư tưởng Nhân Chủ truyền thống Đạo Việt Phật, với tinh thần Vô Ngã, Vô Úy, Vô Chấp của Đạo Phật, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang cùng với các tôn giáo bạn, thực hiện sứ mạng cứu nước, giúp dân để vượt thóat ách Cộng Sản độc tài toàn trị, tham ô, đọa lạc, và là nhân duyên chủ đạo cho công cuộc Viên Dung Tôn Giáo Việt Nam, nhằm xây dựng thành công một nền Văn Hiến Nhân Chủ Dung Hóa: Đa Nguyên, Phân Nhiệm, Điều Hợp tại Việt Nam, đáp ứng đúng xu hướng thời đại, là mỗi Quốc Gia tự chủ nỗ lực góp phần Tự Do Hóa Xã Hội, Dân Chủ Hóa Toàn Cầu, và hội nhập Kinh Tế Toàn Cầu Hóa, trong đó tất cả các Tôn Giáo chân chính với mục đích phụng sự cho tâm linh Con Người, đều Hòa Đồng Phát Triển, tránh cảnh tôn giáo cạnh tranh quá khích, dẫn tới thảm họa đoạt quyền toàn thống như trước kia, và nhân danh tôn giáo mà ôm bom tự sát khủng bố dân lành tàn nhẫn như hiện nay, để toàn thể nhân loại được vui sống trong cảnh thái hòa của Thời Đại Nhân Chủ Nhân Văn.
Little Saigon mùa xuân Bính Tuất