Văn Học Trong Nước, Hé Nhìn…

Theo www.vietnet.no - Nguyễn Mạnh Trinh - 11-01-2006

Tại sao lại hé nhìn, chắc có nhiều người sẽ hỏi như thế. Và, chính tôi cũng tự hỏi mình. Sao không hiẻu biết cặn kẽ rồi hãy viết. Viết mà viết kiểu “he hé“ thì viết làm gì ?

Thực ra, tôi có theo dõi một số sách báo ở trong nước, cũng như để ý đến khá nhiều những bài phê bình. Bây giờ, căn cứ vào những nguồn ấy, mà có một vài ý kiến tuy chưa đầy đủ nhưng có thể là những gợi ý để mang lại những kết luận khả tín. Tóm lại, chỉ là một vài dòng nháp sơ sài…

Đầu năm, là một dịp để ngoái nhìn lại những ngày đã qua. Ở Việt Nam, văn học thường gắn liền với chính trị. Sau sự xụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, dĩ nhiên Việt nam cũng có nhiều dao động và cần thiết phải có một sự thay đổi. Phong trào “đổi mới” đã thành hình một chính sách về mọi mặt. Nhưng bao giờ “mới đổi“ toàn diện thì chưa thấy. Trong văn học cũng vậy, theo một nền kinh tế thị trường hướng dẫn bởi xã hội chủ nghĩa, nên có nhiều hiện trạng đôi khi trái ngược nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau.

Gần đây có một bài phỏng vấn của Thu Hà với ba cây bút Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, và Nguyễn Huy Thiệp. Đọc, thấy có nhiều điều khá lý thú và thu góp được nhiều dữ kiện cho công việc “hé nhìn“ vào một nền văn học lúc nào cũng kêu gào đổi mới nhưng lại có những biểu hiện của sự kìm giữ, thắng bớt lại những thúc đẩy Nguyễn Huy Thiệp phát biểu khi trả lời một câu hỏi để đánh giá những giai đoạn văn học đã qua :

“Muốn đánh giá giai đoạn văn học 2000-2005 phải có cách nhìn thêm về các giai đoạn văn học trước đó. Tôi thử đưa ra cái nhìn của tôi.

Từ năm 1986, bắt đầu công cuộc đổi mới trong xã hội ta. Trước giai đoạn này, văn học chỉ có một giọng, một luồng chính thống. Nguyễn Minh Châu gọi đó là nền văn học minh họa có lẽ cũng không chính xác nhưng rõ ràng trước 1986 chỉ có một dòng chảy, một “ tư tưởng”, chỉ có một thứ “văn học mậu dịch”

1987-1990, văn học cựa quậy, bắt đầu có những thí nghiệm cách tân, chấp nhận sự đa thanh trong văn học. Các cây bút mới xuất hiện. Các “ ông tướng cũ” (trong văn học) “về hưu” hoặc “ngủm”, một thế hệ nhà văn mới hình thành.

Giai đoạn 1990-2000 ; Thế hệ nhà văn mới hình thành, khẳng định mình, trụ lại được và có thêm nhiều “đệ tử” tạo ra một dòng chảy nữa mới (gọi là gì thì không biết nhưng tự do hơn, trăn trở hơn, ngày càng có ảnh hưởng lớn trong xã hội). Dòng chảy này, chưa thành trường phái, vẫn tồn tại song song với dòng văn học chính thống, dòng văn học nặng về bao cấp.

2000-2005: hai dòng văn học cùng tồn tại, kích thích nhau” cùng lý tưởng nhưng khác môn phái” nên phát triển cả hai dòng này trong tình thế văn học hiện nay. Xu hướng văn học “tự do” đã được thí nghiệm nhưng chưa có chỗ đứng chân vững chắc, vì quán tính của dòng văn học mậu dịch, bao cấp (dưới danh nghĩa chính thống) vẫn còn rất lớn, vẫn chiếm chỗ đứng thượng phong, chủ đạo trên văn đàn. Một mặt khác cơ chế thị trường vẫn chưa bảo đảm đủ sự nâng đỡ vật chất để nó phát triển…”

như vậy, có hai dòng chảy văn học khác nhau trong văn học trong nước? Một xuôi, một ngược? Có lạc quan lắm không khi nhận xét ấy? Khi tất cả các nhà văn phải vào hội, để như một thứ viên chức lãnh lương và có những ràng buộc với chế độ. Cũng có một số ít đứng ngoài hoặc chân trong chân ngoài nhưng không đáng kể lắm so với đa số. Còn chuyện thay đổi thì đó vẫn chưa phải là điều các nhà lãnh đạo văn học “nhắm đến. Họ không muốn những ai thách đố quyền lực của họ. Dù rằng bên ngoái, họ vẫn luôn kêu gào phải đổi mới …

Văn chương có phải là tấm gương soi để phản ánh tất cả tâm tư thời đại? Tôi vẫn nghĩ người cầm bút một phần nào biểu lộ được bộ mặt bề ngoài và vóc dáng bên trong của xã hội mà họ sinh sống để những lớp trẻ thuộc thế hệ sau hiểu được tình cảnh của thời đại mà họ biểu hiện. Trong văn học Việt Nam, đời sống xã hội thay đổi nhiều lần đến tận gốc rễ đã được phác họa với nhiều nét khá đặc biệt. Quyền lực chính trị đã chen vào chi phối tất cả và văn học cũng chỉ là một phương tiện để phục vụ cho chế độ.

Trước năm 1945, thời tiền chiến văn chương mô tả được một cuộc sống tuy có nhiều đè nén của chế độ thực dân nhưng cũng có nhiều nét khai phá chuyển đổi từ văn chương chữ Hán và Nôm sang quốc ngữ. Buổi giao thời, có nhiều cảnh ngộ được phác họa để độc giả sau này có thể tưởng tượng được. Văn học chịu ảnh hưởng nhiều từ nền văn học lãng mạn của chính quốc Pháp nhưng ở giai đoạn khởi dựng đã có nhiều cống hiến đáng kể.

Rồi sau mốc thời gian 1945 là những chuyển đổi đến chóng mặt . Bao nhiêu là biến cố và sau mỗi biến cố là một chuỗi hiện tượng văn học tiếp theo. Kháng chiến chống Pháp, rồi chính phủ quốc gia, rồi cuộc di cư 1954, rồi cuộc chiến đẫm máu của miền Bắc và miền Nam, rồi hai mươi năm văn học miền Nam, và hai mươi năm văn học xã hội chủ nghĩa Miền Bắc, rồi ngày 30 tháng tư năm 1975, rồi những đợt thuyền nhân để có văn học hải ngoại đối chiếu với văn học trong nước…

Đọc trong sách vở, tâm tư của thời đại được thấy khá rõ nét. Chiến tranh, là một đề tài lớn, là nỗi bức xúc khôn nguôi của thời thế được chuyên chở qua ngôn ngữ. Nhìn vào từng khía cạnh, thấy thân phận của nước nhược tiểu bắt đầu nhiều tấn thảm kịch cho dân tộc. Cơn mê cuồng ý thức hệ của những người Cộng Sản đã gây ra những vết thương rỉ máu.

Ở miền Bắc, trước khi khởi động cuộc chiến tại miền Nam, văn học là một loại vũ khí của chế độ để phục vụ cho mục tiêu chính trị. Và, dĩ nhiên có phản ứng của những người cầm bút phản kháng lại hệ thống theo dõi và kiểm soát văn học nghệ thuật. Cái án văn tự kéo dài mấy chục năm là lưỡi gươm chém treo ngành lúc nào cũng lơ lửng trên đầu cổ những người làm văn nghệ. Như trường hợp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, hay những Quang Dũng, hay Tô Hoài với tiểu thuyết “Mười Năm”. Nguyễn Công Hoan với “Đống rác Cũ”. Hà Minh Tuân với “Vào Đời”. Kim Lân với “Con chó xấu xí”…. Những tác phẩm gây rắc rối cho tác giả của nó. Nhiều người bị buộc phải treo bút, có người bị nhẹ hơn nhưng búa rìu không từ một ai, kể cả những công thần. Ngay đến Nguyễn Đình Thi, người lèo lái Hội nhà Văn bao nhiêu năm mà cũng có lúc phải tự từ bỏ hay phê phán tác phẩm mình. Tô Hoài cũng bị đẩy trong trường hợp ấy khi ông in cuốn tiểu thuyết “Mười Năm”.

Cái án Nhân Văn Giai Phẩm đã dược một người cầm bút kể lại trong quyển Cát bụi Chân Ai. Tô Hoài là một nhà văn được nhiều sủng hạnh của chế độ và là người coi như trong nhóm lãnh đạo văn nghệ của Đảng Đoàn Nhà Văn. Ông viết lại và mô tả một thời kỳ văn chương tệ hại nhất với cái bóng công an của chế độ luôn luôn rình rập. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng cảm khái : Giờ này còn sống được là nhờ biết sợ. Thành ra dù cứng đầu cứng cổ đến đâu thì văn chương cũng phải có lẫn vào một câu trung phải có một câu nịnh. Tô Hoài khi viết tiểu thuyết “Mười Năm” tiếp theo tiểu thuyết “Quê người” cũng bị phê phán tơi bời với những lý luận khá khôi hài của những tay chuyên chế muốn người cầm bút phải đi trên một con đuờng đã được chỉ sẵn của những bức tranh minh họa với những nhân vật anh hùng và đời sống đầy tích cực không tiêu cực.

Đọc những trang sách ấy, có lẽ phải mường tượng được cái không khí bức bối đè nén đến bực nào. Sống trong hoàn cảnh ấy, nhà văn có thói quen sợ sệt thành quán tính cố hữu. Né. lách, để khỏi phải trở thành những cái bia cho những nhà” phê bình văn học xã hội chủ nghĩa” xạ kích. Do đó, văn chương trong những năm tháng ấy được mặc chung những bộ đồng phục. Ít có ai dám có vóc dáng của riêng mình. Cái riêng của cá nhân không được chế độ chấp nhận và mặc nhiên trở thành một cấm kị không thành văn bản nhưng được ngầm hiểu. Trong không khí ấy, làm sao có được những tác phẩm lớn được? Tô Hoài viết :

“ … Các đoàn thể tổ chức kiểm điểm và kỷ luật những cán bộ tham gia viết và hoạt động cho báo Nhân Văn và tập san Giai Phẩm của nhà xuất bản Minh Đức.

Ở hội Nhạc, Đặng Đình Hưng bị khai trừ đảng. Văn Cao, kỷ luật cảnh cáo, chỉ được ở hội Nhạc không được ở trong hội Văn và hội Vẽ. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm và Dương Bích Liên tuy chỉ làm có cái bìa sách cho nhà xuất bản nọ nhưng chắc là những không khí sát phạt ở các buổi họp khiến các anh ngại xin ra khỏi đảng. Trên có nghị quyết không khai trừ mà đồng ý cho được thôi. Có lẽ đến bây giờ, Nguyễn Tư Nghiêm vẫn giữ cuốn sổ tay ghi đến nghìn thứ bao nhiêu những cuộc họp mà Nguyễn Tư Nghiêm không phải đi. Anh có vẻ thú vị vì những con số tỉ mẩn ấy. Khác Nguyễn Sáng, Nguyễn Sáng vẽ ký họa trên báo Nhân Văn một đầu người ở cổ có vết khía như cái lá. Người ta bảo là chân dung Trần Dần và cái vết sẹo còn lại khi anh định tự vẫn. Nguyễn Sáng không được bình huân chương kháng chiến. Những năm sau trong lúc Hà Nội bị báo đông liên miên, Nguyễn Sáng đã lo” Rồi giải phóng miền Nam tao về thăm qua họ hàng bà con hỏi chú đi làm Việt Minh Việt Cộng bao nhiêu năm thế mà trên ngực không có cái mề đay nào? Mày bảo tao trả lời sao ? Tao buồn lắm ! Hoàng Cầm bị ra khỏi ban chấp hành, phải thôi việc nhà xuất bản chuyển công tác về Sở Văn Hóa Hà Nội. Phùng Quán nhờ có chú Phùng Thị Chánh Văn Phòng Bộ Văn Hóa đưa lên làm ở Vụ Văn Hóa quần chúng. Nhưng ai cũng bức bối không yên. Ông thì mở quán rượu, thằng thì câu cá Hồ Tây hiu hắt dông dài cho tới năm về hưu . Đi Bắc Kinh dự kỷ niệm Lỗ Tấn về, ông Phan Khôi hào hứng viết về chuyến đi, Nhưng rồi nhạt dần, Ông ngồi yên. Ông vẫn được đãi chế độ nhân sĩ nhưng chẳng ai hỏi tới. Mấy năm sau lâm bệnh mất. Đám ma bác Phan Khôi, chỉ có bác gái và các con với một mình chị Hằng Phương- cháu gọi bằng cậu. Trần Dần và Lê Đạt ra khỏi cơ quan, chuyên dịch cho nhà xuất bản Văn Học. Nhà xuất bản Sự Thật thuê Trần Đức Thảo dịch sách lý luận kinh điển. Ban chấp hành Hội Nhà Văn quyết định truất ba năm hội tịch đăng trên báo Văn Học cơ quan của hội…”

Đó là biện pháp đe nẹt lúc ấy mà thôi. Cái án đeo đẳng suốt đời những người cầm bút mới là ghê gớm. Vợ con cũng chịu theo cái tội vạ như kiểu tru di tam tộc thời phong kiến xa xưa. Cái khốc liệt là tạo ra nỗi sợ sệt ám ảnh và người cầm bút lúc nào cũng trong trạng thái đề phòng . Như thế còn tâm trí đâu cho thẩm mỹ quan văn học. Làm sao cho văn chương sáng tạo bay bổng được. Tô Hoài mô tả:

“... Nhưng đằng đẵng ba mươi năm không hội văn học nghệ thuật nào lôi ra xem xét lại. Sợ sệt, âm thầm, phấp phỏng không phải chỉ ở tâm trạng mấy ông “Nhân Văn cả nước” mà tràn lan đến những “Nhân Văn phố, Nhân Văn xóm” chẳng bị kỷ luật gì, nhiều người không phải vì bài văn câu thơ, mà bởi lời nói bông lông bốc trời chẳng hạn, bị quy chụp liền. Hữu Loan không ở phe nhóm nào cũng bỏ làm báo về Thanh Hóa. Nghe nói là đi xe thồ và vào núi đập đá bán. Có những cây bút trẻ như Vũ Bão, như Lê Bầu, mấy truyện in sách, đăng Văn Nghệ Quân Đội tươi mát lắm, cũng chột luôn. Triền miên lẳng lặng bình thường như đã xóa đi không bao gìơ lôi ra nữa. Người có vấn đề thì lo đối phó. Người canh gác thì “cảnh giác”. Tập ký của Nguyễn Tuân đưa cho nhà xuất bản Văn Học lần nào cũng được trả lời “ phát hành người ta chưa lấy được đủ số lượng’, Nhà xuất bản có nhã ý gửi tác giả tí tiền ứng trước, rồi thỉnh thoảng lại ứng trước. Nhưng năm tháng cũng không hẳn yên ổn. Đôi khi lại tòi ra “Đống Rác Cũ”, lại “Vào Đời“, lại “Cái Gốc“ lại chuyện Bác Hồ đi tắm bãi Titop ngoài Hạ Long… Những người theo dõi lại vất vả lại nhộn nhịp… “

Không khí khủng bố ấy kéo dài mãi tới bây giờ dù đã đổi mới tư duy dù cởi trói văn chương tới năm bẩy bận. Lãnh đạo vẫn dùng những ngón đòn chia rẽ, kiểm soát với những người cầm bút làm nhiệm vụ “ canh gác” như một loài chó săn một lòng phục vụ chủ.

Mấy chục năm qua, những bản án dù được xét lại nhưng vẫn còn tác dụng răn đe với người cầm bút.

Tôi vẫn thường tự hỏi. Lúc ấy các nhà văn nhà thơ sẽ chọn đề tài ra sao trong cái tâm thức ấy ? Và có những người can đảm biết bao khi dám đi ra khỏi con đường mà lãnh đạo đảng đã vạch ra. Nhiều khi, viết kiểu “một câu trung, một câu nịnh” là một phương cách né lách trong hoàn cảnh khủng bố và đe nẹt. Dù đã có đổi mới, có nhìn lại nhưng những người cầm quyền Cộng Sản vẫn luôn luôn nhìn người văn nghệ sĩ với cặp mắt nghi ngờ đầ phòng. Họ cũng hiểu được tác dụng ghê gớm của chữ nghĩa, nhiều chế độ chuyên chế bị sụp đổ vì những người cầm bút.

Nguyễn Mạnh Trinh


In bài này, hay gửi link của trang này cho bạn bè:

     http://tudovis.com/kktd/binh_luan_2/bl_van_hoc_trong_nuoc_he_minh.html

Người gửi:

Địa chỉ email: *


Người nhận:

Có thể gửi cho nhiều địa chỉ, nhớ bỏ dấu phẩy trước khi bắt đầu địa chỉ mới.
Địa chỉ email: *
Lời nhắn:
Quí vị có thể copy hết cái bài ở trên và bỏ vào trong hộp Lời nhắn
 
* Thông tin bắt buộc        
Note: Chi tiết bạn điền vào trang này sẽ không được dùng để gửi thư không mời, hoặc bán cho nơi khác.