Tại
sao lại hé nhìn, chắc có nhiều người sẽ hỏi như thế. Và, chính tôi cũng
tự hỏi mình. Sao không hiẻu biết cặn kẽ rồi hãy viết. Viết mà viết kiểu
“he hé“ thì viết làm gì ?
Thực ra, tôi có theo dõi một số sách
báo ở trong nước, cũng như để ý đến khá nhiều những bài phê bình. Bây
giờ, căn cứ vào những nguồn ấy, mà có một vài ý kiến tuy chưa đầy đủ
nhưng có thể là những gợi ý để mang lại những kết luận khả tín. Tóm
lại, chỉ là một vài dòng nháp sơ sài…
Đầu
năm, là một dịp để ngoái nhìn lại những ngày đã qua. Ở Việt Nam, văn
học thường gắn liền với chính trị. Sau sự xụp đổ của Liên Xô và các
nước Đông Âu, dĩ nhiên Việt nam cũng có nhiều dao động và cần thiết
phải có một sự thay đổi. Phong trào “đổi mới” đã thành hình một chính
sách về mọi mặt. Nhưng bao giờ “mới đổi“ toàn diện thì chưa thấy. Trong
văn học cũng vậy, theo một nền kinh tế thị trường hướng dẫn bởi xã hội
chủ nghĩa, nên có nhiều hiện trạng đôi khi trái ngược nhau, đôi khi mâu
thuẫn nhau.
Gần đây có một bài phỏng vấn của Thu Hà với ba cây
bút Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, và Nguyễn Huy Thiệp. Đọc, thấy có
nhiều điều khá lý thú và thu góp được nhiều dữ kiện cho công việc “hé
nhìn“ vào một nền văn học lúc nào cũng kêu gào đổi mới nhưng lại có
những biểu hiện của sự kìm giữ, thắng bớt lại những thúc đẩy Nguyễn Huy
Thiệp phát biểu khi trả lời một câu hỏi để đánh giá những giai đoạn văn
học đã qua :
“Muốn đánh giá giai đoạn văn học 2000-2005 phải có
cách nhìn thêm về các giai đoạn văn học trước đó. Tôi thử đưa ra cái
nhìn của tôi.
Từ năm 1986, bắt đầu công cuộc đổi mới trong xã
hội ta. Trước giai đoạn này, văn học chỉ có một giọng, một luồng chính
thống. Nguyễn Minh Châu gọi đó là nền văn học minh họa có lẽ cũng không
chính xác nhưng rõ ràng trước 1986 chỉ có một dòng chảy, một “ tư
tưởng”, chỉ có một thứ “văn học mậu dịch”
1987-1990, văn học cựa
quậy, bắt đầu có những thí nghiệm cách tân, chấp nhận sự đa thanh trong
văn học. Các cây bút mới xuất hiện. Các “ ông tướng cũ” (trong văn học)
“về hưu” hoặc “ngủm”, một thế hệ nhà văn mới hình thành.
Giai
đoạn 1990-2000 ; Thế hệ nhà văn mới hình thành, khẳng định mình, trụ
lại được và có thêm nhiều “đệ tử” tạo ra một dòng chảy nữa mới (gọi là
gì thì không biết nhưng tự do hơn, trăn trở hơn, ngày càng có ảnh hưởng
lớn trong xã hội). Dòng chảy này, chưa thành trường phái, vẫn tồn tại
song song với dòng văn học chính thống, dòng văn học nặng về bao cấp.
2000-2005:
hai dòng văn học cùng tồn tại, kích thích nhau” cùng lý tưởng nhưng
khác môn phái” nên phát triển cả hai dòng này trong tình thế văn học
hiện nay. Xu hướng văn học “tự do” đã được thí nghiệm nhưng chưa có chỗ
đứng chân vững chắc, vì quán tính của dòng văn học mậu dịch, bao cấp
(dưới danh nghĩa chính thống) vẫn còn rất lớn, vẫn chiếm chỗ đứng
thượng phong, chủ đạo trên văn đàn. Một mặt khác cơ chế thị trường vẫn
chưa bảo đảm đủ sự nâng đỡ vật chất để nó phát triển…”
như vậy,
có hai dòng chảy văn học khác nhau trong văn học trong nước? Một xuôi,
một ngược? Có lạc quan lắm không khi nhận xét ấy? Khi tất cả các nhà
văn phải vào hội, để như một thứ viên chức lãnh lương và có những ràng
buộc với chế độ. Cũng có một số ít đứng ngoài hoặc chân trong chân
ngoài nhưng không đáng kể lắm so với đa số. Còn chuyện thay đổi thì đó
vẫn chưa phải là điều các nhà lãnh đạo văn học “nhắm đến. Họ không muốn
những ai thách đố quyền lực của họ. Dù rằng bên ngoái, họ vẫn luôn kêu
gào phải đổi mới …
Văn chương có phải là tấm gương soi để phản
ánh tất cả tâm tư thời đại? Tôi vẫn nghĩ người cầm bút một phần nào
biểu lộ được bộ mặt bề ngoài và vóc dáng bên trong của xã hội mà họ
sinh sống để những lớp trẻ thuộc thế hệ sau hiểu được tình cảnh của
thời đại mà họ biểu hiện. Trong văn học Việt Nam, đời sống xã hội thay
đổi nhiều lần đến tận gốc rễ đã được phác họa với nhiều nét khá đặc
biệt. Quyền lực chính trị đã chen vào chi phối tất cả và văn học cũng
chỉ là một phương tiện để phục vụ cho chế độ.
Trước năm 1945,
thời tiền chiến văn chương mô tả được một cuộc sống tuy có nhiều đè nén
của chế độ thực dân nhưng cũng có nhiều nét khai phá chuyển đổi từ văn
chương chữ Hán và Nôm sang quốc ngữ. Buổi giao thời, có nhiều cảnh ngộ
được phác họa để độc giả sau này có thể tưởng tượng được. Văn học chịu
ảnh hưởng nhiều từ nền văn học lãng mạn của chính quốc Pháp nhưng ở
giai đoạn khởi dựng đã có nhiều cống hiến đáng kể.
Rồi sau mốc
thời gian 1945 là những chuyển đổi đến chóng mặt . Bao nhiêu là biến cố
và sau mỗi biến cố là một chuỗi hiện tượng văn học tiếp theo. Kháng
chiến chống Pháp, rồi chính phủ quốc gia, rồi cuộc di cư 1954, rồi cuộc
chiến đẫm máu của miền Bắc và miền Nam, rồi hai mươi năm văn học miền
Nam, và hai mươi năm văn học xã hội chủ nghĩa Miền Bắc, rồi ngày 30
tháng tư năm 1975, rồi những đợt thuyền nhân để có văn học hải ngoại
đối chiếu với văn học trong nước…
Đọc trong sách vở, tâm tư của
thời đại được thấy khá rõ nét. Chiến tranh, là một đề tài lớn, là nỗi
bức xúc khôn nguôi của thời thế được chuyên chở qua ngôn ngữ. Nhìn vào
từng khía cạnh, thấy thân phận của nước nhược tiểu bắt đầu nhiều tấn
thảm kịch cho dân tộc. Cơn mê cuồng ý thức hệ của những người Cộng Sản
đã gây ra những vết thương rỉ máu.
Ở miền Bắc, trước khi khởi
động cuộc chiến tại miền Nam, văn học là một loại vũ khí của chế độ để
phục vụ cho mục tiêu chính trị. Và, dĩ nhiên có phản ứng của những
người cầm bút phản kháng lại hệ thống theo dõi và kiểm soát văn học
nghệ thuật. Cái án văn tự kéo dài mấy chục năm là lưỡi gươm chém treo
ngành lúc nào cũng lơ lửng trên đầu cổ những người làm văn nghệ. Như
trường hợp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, hay những Quang Dũng, hay Tô Hoài
với tiểu thuyết “Mười Năm”. Nguyễn Công Hoan với “Đống rác Cũ”. Hà Minh
Tuân với “Vào Đời”. Kim Lân với “Con chó xấu xí”…. Những tác phẩm gây
rắc rối cho tác giả của nó. Nhiều người bị buộc phải treo bút, có người
bị nhẹ hơn nhưng búa rìu không từ một ai, kể cả những công thần. Ngay
đến Nguyễn Đình Thi, người lèo lái Hội nhà Văn bao nhiêu năm mà cũng có
lúc phải tự từ bỏ hay phê phán tác phẩm mình. Tô Hoài cũng bị đẩy trong
trường hợp ấy khi ông in cuốn tiểu thuyết “Mười Năm”.
Cái án
Nhân Văn Giai Phẩm đã dược một người cầm bút kể lại trong quyển Cát bụi
Chân Ai. Tô Hoài là một nhà văn được nhiều sủng hạnh của chế độ và là
người coi như trong nhóm lãnh đạo văn nghệ của Đảng Đoàn Nhà Văn. Ông
viết lại và mô tả một thời kỳ văn chương tệ hại nhất với cái bóng công
an của chế độ luôn luôn rình rập. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng cảm khái :
Giờ này còn sống được là nhờ biết sợ. Thành ra dù cứng đầu cứng cổ đến
đâu thì văn chương cũng phải có lẫn vào một câu trung phải có một câu
nịnh. Tô Hoài khi viết tiểu thuyết “Mười Năm” tiếp theo tiểu thuyết
“Quê người” cũng bị phê phán tơi bời với những lý luận khá khôi hài của
những tay chuyên chế muốn người cầm bút phải đi trên một con đuờng đã
được chỉ sẵn của những bức tranh minh họa với những nhân vật anh hùng
và đời sống đầy tích cực không tiêu cực.
Đọc những trang sách
ấy, có lẽ phải mường tượng được cái không khí bức bối đè nén đến bực
nào. Sống trong hoàn cảnh ấy, nhà văn có thói quen sợ sệt thành quán
tính cố hữu. Né. lách, để khỏi phải trở thành những cái bia cho những
nhà” phê bình văn học xã hội chủ nghĩa” xạ kích. Do đó, văn chương
trong những năm tháng ấy được mặc chung những bộ đồng phục. Ít có ai
dám có vóc dáng của riêng mình. Cái riêng của cá nhân không được chế độ
chấp nhận và mặc nhiên trở thành một cấm kị không thành văn bản nhưng
được ngầm hiểu. Trong không khí ấy, làm sao có được những tác phẩm lớn
được? Tô Hoài viết :
“ … Các đoàn thể tổ chức kiểm điểm và kỷ
luật những cán bộ tham gia viết và hoạt động cho báo Nhân Văn và tập
san Giai Phẩm của nhà xuất bản Minh Đức.
Ở hội Nhạc, Đặng Đình
Hưng bị khai trừ đảng. Văn Cao, kỷ luật cảnh cáo, chỉ được ở hội Nhạc
không được ở trong hội Văn và hội Vẽ. Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm và Dương
Bích Liên tuy chỉ làm có cái bìa sách cho nhà xuất bản nọ nhưng chắc là
những không khí sát phạt ở các buổi họp khiến các anh ngại xin ra khỏi
đảng. Trên có nghị quyết không khai trừ mà đồng ý cho được thôi. Có lẽ
đến bây giờ, Nguyễn Tư Nghiêm vẫn giữ cuốn sổ tay ghi đến nghìn thứ bao
nhiêu những cuộc họp mà Nguyễn Tư Nghiêm không phải đi. Anh có vẻ thú
vị vì những con số tỉ mẩn ấy. Khác Nguyễn Sáng, Nguyễn Sáng vẽ ký họa
trên báo Nhân Văn một đầu người ở cổ có vết khía như cái lá. Người ta
bảo là chân dung Trần Dần và cái vết sẹo còn lại khi anh định tự vẫn.
Nguyễn Sáng không được bình huân chương kháng chiến. Những năm sau
trong lúc Hà Nội bị báo đông liên miên, Nguyễn Sáng đã lo” Rồi giải
phóng miền Nam tao về thăm qua họ hàng bà con hỏi chú đi làm Việt Minh
Việt Cộng bao nhiêu năm thế mà trên ngực không có cái mề đay nào? Mày
bảo tao trả lời sao ? Tao buồn lắm ! Hoàng Cầm bị ra khỏi ban chấp
hành, phải thôi việc nhà xuất bản chuyển công tác về Sở Văn Hóa Hà Nội.
Phùng Quán nhờ có chú Phùng Thị Chánh Văn Phòng Bộ Văn Hóa đưa lên làm
ở Vụ Văn Hóa quần chúng. Nhưng ai cũng bức bối không yên. Ông thì mở
quán rượu, thằng thì câu cá Hồ Tây hiu hắt dông dài cho tới năm về hưu
. Đi Bắc Kinh dự kỷ niệm Lỗ Tấn về, ông Phan Khôi hào hứng viết về
chuyến đi, Nhưng rồi nhạt dần, Ông ngồi yên. Ông vẫn được đãi chế độ
nhân sĩ nhưng chẳng ai hỏi tới. Mấy năm sau lâm bệnh mất. Đám ma bác
Phan Khôi, chỉ có bác gái và các con với một mình chị Hằng Phương- cháu
gọi bằng cậu. Trần Dần và Lê Đạt ra khỏi cơ quan, chuyên dịch cho nhà
xuất bản Văn Học. Nhà xuất bản Sự Thật thuê Trần Đức Thảo dịch sách lý
luận kinh điển. Ban chấp hành Hội Nhà Văn quyết định truất ba năm hội
tịch đăng trên báo Văn Học cơ quan của hội…”
Đó là biện pháp đe
nẹt lúc ấy mà thôi. Cái án đeo đẳng suốt đời những người cầm bút mới là
ghê gớm. Vợ con cũng chịu theo cái tội vạ như kiểu tru di tam tộc thời
phong kiến xa xưa. Cái khốc liệt là tạo ra nỗi sợ sệt ám ảnh và người
cầm bút lúc nào cũng trong trạng thái đề phòng . Như thế còn tâm trí
đâu cho thẩm mỹ quan văn học. Làm sao cho văn chương sáng tạo bay bổng
được. Tô Hoài mô tả:
“... Nhưng đằng đẵng ba mươi năm không hội
văn học nghệ thuật nào lôi ra xem xét lại. Sợ sệt, âm thầm, phấp phỏng
không phải chỉ ở tâm trạng mấy ông “Nhân Văn cả nước” mà tràn lan đến
những “Nhân Văn phố, Nhân Văn xóm” chẳng bị kỷ luật gì, nhiều người
không phải vì bài văn câu thơ, mà bởi lời nói bông lông bốc trời chẳng
hạn, bị quy chụp liền. Hữu Loan không ở phe nhóm nào cũng bỏ làm báo về
Thanh Hóa. Nghe nói là đi xe thồ và vào núi đập đá bán. Có những cây
bút trẻ như Vũ Bão, như Lê Bầu, mấy truyện in sách, đăng Văn Nghệ Quân
Đội tươi mát lắm, cũng chột luôn. Triền miên lẳng lặng bình thường như
đã xóa đi không bao gìơ lôi ra nữa. Người có vấn đề thì lo đối phó.
Người canh gác thì “cảnh giác”. Tập ký của Nguyễn Tuân đưa cho nhà xuất
bản Văn Học lần nào cũng được trả lời “ phát hành người ta chưa lấy
được đủ số lượng’, Nhà xuất bản có nhã ý gửi tác giả tí tiền ứng trước,
rồi thỉnh thoảng lại ứng trước. Nhưng năm tháng cũng không hẳn yên ổn.
Đôi khi lại tòi ra “Đống Rác Cũ”, lại “Vào Đời“, lại “Cái Gốc“ lại
chuyện Bác Hồ đi tắm bãi Titop ngoài Hạ Long… Những người theo dõi lại
vất vả lại nhộn nhịp… “
Không khí khủng bố ấy kéo dài mãi tới
bây giờ dù đã đổi mới tư duy dù cởi trói văn chương tới năm bẩy bận.
Lãnh đạo vẫn dùng những ngón đòn chia rẽ, kiểm soát với những người cầm
bút làm nhiệm vụ “ canh gác” như một loài chó săn một lòng phục vụ chủ.
Mấy chục năm qua, những bản án dù được xét lại nhưng vẫn còn tác dụng răn đe với người cầm bút.
Tôi
vẫn thường tự hỏi. Lúc ấy các nhà văn nhà thơ sẽ chọn đề tài ra sao
trong cái tâm thức ấy ? Và có những người can đảm biết bao khi dám đi
ra khỏi con đường mà lãnh đạo đảng đã vạch ra. Nhiều khi, viết kiểu
“một câu trung, một câu nịnh” là một phương cách né lách trong hoàn
cảnh khủng bố và đe nẹt. Dù đã có đổi mới, có nhìn lại nhưng những
người cầm quyền Cộng Sản vẫn luôn luôn nhìn người văn nghệ sĩ với cặp
mắt nghi ngờ đầ phòng. Họ cũng hiểu được tác dụng ghê gớm của chữ
nghĩa, nhiều chế độ chuyên chế bị sụp đổ vì những người cầm bút.
Nguyễn Mạnh Trinh