Phạm Đỉnh: Tập sách mới nhất của Bùi Tín có tựa đề Chia sẻ tình yêu thương là
sách nhắm riêng vào giới trẻ trong và ngoài nước muốn tìm hiểu về những
vấn đề của đất nước ta hôm nay. Sách được viết thành năm phần, mỗi phần
bàn bạc về một đề tài nóng mà đất nước phải đối mặt, chẳng hạn đề tài
“Vận động Dân chủ hoá ở nước ta” (phần IV) cung cấp cho bạn trẻ một cái
nhìn tổng quan về công cuộc vận động dân chủ hiện nay, hoặc là đề tài
“Dân chủ và Nhân quyền” (phần V) cung cấp những thông tin cốt lõi về
hai phạm trù này> Ngoài những đề mục có tính cách thông tin như
trên, tác giả còn dành một vài đề mục dành cho những mẩu tâm tình của
một nhà hoạt động dân chủ đương thời dành cho thế hệ tương lai. Đó là ý
nghĩa của đề mục “Thái độ của người trở về” (phần II) và “Chung sức
chung lòng” (phần VI).
Tập sách nhỏ được hình thành từ những cuộc trao đổi tâm tình của tác
giả với những bạn trẻ. Do đó, có thể xem tập sách mỏng này như một thứ
cẩm nang cần thiết, một cuốn sách gối đầu giường của các bạn trẻ. Và
cũng là một món quà tâm tình của một người dấn thân hoạt động cho công
cuộc dân chủ hoá nước nhà.
Dưới đây là một trích đoạn từ sách Chia sẻ tình yêu thương của Bùi Tín. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Bắt đầu của “đổi mới”
Đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986, với Đại hội VI của đảng Cộng
sản. Tình hình mười năm sau “toan thắng và thống nhất”, từ 1975-1985 là
vô cùng bi đát về mọi mặt; đói kém, xác xơ, lạm phát 400 đến 600% mỗi
năm; do sự kiêu ngạo sau chiến thắng của các vị lãnh đạo tự cho phép
tha hồ bốc đồng. Ông Lê Duẩn cao hứng về Nam hà hứa hẹn chỉ 5 hay 7 năm
nữa dân ta mỗi nhà có tủ lạnh, vô tuyến. Họ kéo quân vào Căm-bốt, xua
đuổi người Hoa, đánh trả quân Tàu, đổi tiền, quét tư sản, ngăn sông cấm
chợ, đốt sách cũ, thách thức thế giới cấm vận.
Bế tắc, dân ta tự xé rào, phá lỏng hợp tác xã, thế là họ phải lùi, chịu khoán sản phẩm, nới lỏng thông thương. Đường lối Perestroika (đổi mới) và Glasnost (minh bạch) của nhà lãnh đạo Gorbachev ở Liên Xô thôi thúc thêm, để nhà bảo thủ Trường Chinh thốt lên: Đổi mới hay là chết.
Khác hẳn với Liên Xô và Trung quốc, đổi mới sớm từ những năm 1974 và
1978, có nhà tư tưởng đổi mới là Gorbachev và Đặng Tiểu Bình cầm cương,
có lý luận, học thuyết hẳn hoi, đặc điểm đổi mới của Việt Nam là không
chủ động, không có người đề xướng, không có lýluận và bài bản, lấy đôi
chút của Liên Xô, lấy nhiều hơn của Trung Quốc, chắp vá, dè dặt, vừa
làm vừa sợ, đến đâu hay đến đấy, cho đến nay. Báo chí quốc tế đến Hà
Nội hỏi: ai là kiến trúc sư của đổi mới, ai là nhà lý luận của đổi mới,
ai là nhân vật có thể coi là người phát ngôn, người giải thích có uy
quyền về đổi mới? không biết, không có, không cần! cho đến nay không có
một bộ óc nào ở Hà Nội chuyên suy nghĩ về đổi mới cả. Nghĩ mà kinh!
Thành tích và ý nghĩa của đổi mới
Qua 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã có bước phát triển rõ rệt. Nông
nghiệp phát triển mạnh nhất. Lương thực không còn khan hiếm, xuất khẩu
mỗi năm đạt 4 đến 6 triệu tấn gạo. Cà phê, tiêu, hạt điều, ca cao, rau
quả, hoa tuơi đều xuất ngày thêm nhiều. Hải sản, thuỷ sản cũng bán được
hang tỷ đô la/năm. Hàng may mặc, dày dép, đồ gỗ, mây tre, đồ thủ công,
mỹ nghệ đều là hàng xuất khẩu có giá. Ngành du lịch đón khách nước
ngoài cũng như du lịch nội địa phát triển khá. Công cuộc xây dựng đô
thị, từ các cơ sở công cộng đến nhà ở tư nhân đều tiến mạnh. Sự nghiệp
giao thông vận tải mở rộng, cầu cống, đường bộ đường sắt đều được nâng
cấp, kéo dài. Giao lưu hàng hoá, nhất là buôn bán, dịch vụ tư nhân phát
triển mạnh. Đời sống nhân dân, nhất là dân đô thị được nâng cao. Tiền
lương cán bộ, viên chức, bộ đội, công an được cải tiến và cải thiện rõ
rệt.
Nếu so với cuộc sống khắc khổ trong chiến tranh, so với 20 năm trước,
trước đổi mới, có thể nói đất nước đã có bước phát triển dài, một cuộc
đổi đời theo nghĩa nào đó.
Nguyên nhân của những thành tích to lớn trên đây chính là sức lao động
bền bỉ sáng tạo của nhân dân lao động ta ở mọi miền của đất nước, cộng
với tài nguyên phong phú đa dạng của nước ta ở mọi miền: ruộng đồng,
rừng núi, vùng trung du và biển cả.
Bài học lý thú có ý nghĩa sâu sắc nhất có thể rút ra từ những thành
tích ấy là cứ khi nào, ở đâu nhà nước và đảng không can thiệp thô bạo,
để cho nhân dân quyền tự do lao động và kinh doanh thì ở đó, lúc đó
kinh tế phát triển mạnh mẽ. Nếu như nông dân ta không bị ép buộc vào
hợp tác từ năm 1960, nếu như quyền tự do kinh doanh (xin nhớ tự do cá nhân chứ không phải tự do tập thể)
được tôn trọng ngay từ năm 1975 – khi có hoà bình và thống nhất, thì ta
đâu có kém xa Thái Lan và Philippines đến thê thảm như hiện nay.
Những vấn đề tồn tại của “đổi mới”
Do đổi mới ở Việt nam ta không có “nhà kiến trúc” (như Gorbachev ở Liên
xô, Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc), thiếu viễn kiến, nặng về kinh tế, gần
như bất động về chính trị, không đồng bộ nên có nhiều nhược điểm, nhiều
mâu thuẫn; hậu quả là mặt này triệt tiêu kết quả mặt kia, bất công xã
hội nặng nề hơn trước, người ngay thẳng gò lưng làm cho kẻ gian manh ăn
hết, xã hội trở nên hỗn tạp, xuống cấp chưa từng có, lòng dân không
yên. Dưới đây là những vấn đề cấp bách nhất:
Vấn đề tốc độ phát triển: Hiện tốc độ phát triển là
khoảng 7% mỗi năm. Sản phẩm quốc dân GDP theo đầu người của Việt nam
năm 2004 là gần 500 US$ (theo tổng cục thống kê ở Hà Nội là 480 US$,
theo ngân hàng thế giới WB là 440US$); trong khi của Thái lan là
2.500US$, của Nam Hàn là 16.000US$, của Singapour là 25.000US$, Trung
Quốc là gần 1.000US$. Dù cho duy trì tốc độ 7 đến 8% thì không htể nào
rút ngắn khoảng cách với các nước trên vì dù cho tốc độ của họ rất thấp
thì 3 hay 4% của họ vẫn lớn hơn ta rất nhiều. Do vậy, muốn vươn lên thu
hẹp dần khoảng cáchvới Thái lan chẳng hạn, ta nhất thiết phải đạt mức
từ 10% trở lên. Đây là mộ khả năng hiện thực, nhưng với những điều kiện
là chống tham nhũng thật có hiệu quả, luật pháp đủ và nghiêm cho mọi
người, thu hút đầu tư cao hơn nhiều, huy động vốn tư nhân trong nước
dồi dào hơn, hoà nhập hẳn vào thế giới với luật chơi chung. Mấu chốt
nhất làphải có dân chủ đa nguyên đa đảng trong trật tự và luật pháp.
Vốn lớn ở đâu? Hiện vốn ta thiếu nghiêm trọng để đạt tỷ
lệ phát triển cao. Các nước phát triển hiện xuất vốn giúp ta mỗi năm
gần 3 tỷ US$, tính ra chưa đến 40US$ đầu người. Để đạt ý định phát
triển theo theo tỷ lệ trên 10%, xây dựng lại đàng hoàng hơn, to lớn
hơn, đổi mới đồng bộ cơ sở hạ tầng, thừ hệ thống phân phối điện thật
hiện đại từ nguồn điện đến từng hộ, hệ thống cống rãnh đô thị đến hệ
thống tưới tiêu toả rộng, từ hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông,
đường biển đến các bến xe, bến cảng, sân bay, từ mạng lưới giáo dục đến
mạng lưới y tế, các cơ sở công nghiệp, nghiên cứu khoa học v.v…, chúng
ta cần ít nhất từ 120 đến 140 tỷ US$ trong mười năm(chừng 1.500US$/mỗi
người trong mười năm, mỗi năm 150US$). Chỉ có đa nguyên đa đảng, có dân
chủ và nhân quyền là bài toán gay gắt này mới được giải quyết, vì sẽ
giải toả được ngay sự e ngạidè dặt từ các nước phát triển cao: Hoa Kỳ,
Liên Âu, Úc, Nhật bản, Canada, Đông Nam Á, đồng thời hoà giải thật sự
với cộng đồng sẽ mời gọi bà con ta vui vẻ mở rộng hầu bao và nô nức trở
về tham gia xây dựng lại quê hương thực sự của mình ( hiện bà con ta ở
nước ngoài vẫn chưa cảm nhận được đất nước đã thuộc hoàn toàn của chính
mình). Vấn đề vốn lớn sẽ không còn nan giải.
Giải quyết quốc nạn tham nhũng: Tệ tham nhũng hoành hành
trên đất nước ta như một bầy quỷ dữ ma quái dai dẳng. Quốc nạn, nạn nội
xâm, phải ra tay, thẳng tay, phải tuyên chiến với nó. Luật tham nhũng,
sắc lệnh chống tham nhũng, uỷ ban quốc gia chống tham nhũng, phong trào
quần chúng chống tham nhũng,tất cả đều vô hiệu, làm trò cười, như phủi
bụi. Các vụ động trời: Épcô Tăng Minh Phụng, Tân Trường Sanh, dầu khí,
viễn thông, hàng không, xây dựng cơ bản, thương nghiệp, nhà đất…vụ sau
lớn hơn, tinh vi hơn, liên quan rộng hơn, từ 1triệu lên đến 10 triệu
US$, từ hang trăm tỷ lên hang vài nghìn tỷ đồng Việt nam; vụ Lã thị Kim
Oanh (190 tỷ đồng)chưa dứt thì vụ ngân hàng thành phố Hồ chí Minh vọt
lên 2.500 tỷ. Chủ tịch thủ đô Hà Nội Hoàng Văn Nghiêm dùng công quỹ xài
ô- tô loại đặc biệt sang Lexus giá 5 tỷ đồng (bằng 3.000 con trâu), còn
cậy thế mua rẻ biệt thự 200 mét vuông chỉ phải trả có 53 triệu đồng VN
(bằng 8 lạng vàng), trong khi giá trị thật là 4.000 lạng! Một vụ cướp
trắng tài sản của nhân dân mà cả nước đều nhắm mắt cam chịu. Các báo
chỉ nêu lên cho vui rồi lại câm như hến. Một mối nhục cho làng báo luôn
bị khóa mồm, với hơn một nghìn nhà báo hình như cũng có được học chút
ít về cái nghề “cao quý” này. Nếu ở bất kể nước dân chủ có tự do báo
chí và luật pháp nghiêm nào, ong Nghiêm sẽ phải ra hầu toà và phải nhả
ra hết những của cải xã hội đã cướp đoạt phi pháp, lại còn bị xử tội
nữa.
Luận điệu nguỵ biện của giới cầm quyền là: tham nhũng thì thời nào
không có, nước nào không có, có gì mà làm to chuyện. Ở các nước, tham
nhũng lên đến 100 ngàn US$ đã là vụ nghiêm trọng. Ở Việt nam số vụ lên
đến trên 100 ngàn US$ kể ra không hết, số lên hàng triệu US$, hànng
chục triệu US$ đang xảy ra hàng loạt. Nước ta còn nghèo, nhiều vùng
nông dân chỉ thu thập có 300US$/năm, thì tham nhũng càng là bọn sâu bọ
tàn nhẫn, cần trừng trị và quét thẳng tay. Tham nhũng ở Việt Nam vừa
nhiều, vừa nặng, vào loại đặc biệt cao nhất của toàn thế giới.
Chỉ có tự do báo chí, có dân chủ đa nguyên đa đảng, có luật pháp
nghiêm, chấm dứt độc quyền cai trị, độc quyền báo chí, độc quyền luật
pháp của một phe đảng thì mới trị được tận gốc nạn tham nhũng.
Cần tiếp tục đổi mới như thế nào?
Tốc độ phát triển ở nước ta đã chậm lại. Các dự trữ do tiềm năng tự
nhiên cạn dần. Nguồn đầu tư quốc tế ODP cho vay nhẹ lãi và viện trợ để
phát triển rất có hạn. Theo ý kiến các chuyên gia có trình độ cao của
Liên Hợp quốc, ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế, cần sớm đổi mới
thêm một bước về kinh tế và mạnh dạn về chính trị, theo hướng: coi
trọng và mở rộng quyền tư hữu và quyền tự do kinh doanh của tư nhânđược
hiến pháp và luật pháp bảo đảm; thực hiện tự do báo chí, cho phép tư
nhân ra báo, xuất bản; bắt đầu thực hiện đa nguyên đa đảng để có cạnh
tranh, kiểm soát lẫn nhau; tách các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, từ bỏ khái niệm “thị trường tự do theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” vì chưa xác định được nội dung, lại có hại vì bị cho là sự can
thiệp của nhà nước xã hội chủ nghĩa vào kinh tế; nếu thay vào đó là
“thị trường tự do theo định hướng dân chủ “ thì hay nhất! Nên từ bỏ hẳn
cái khái niệm “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế”, vì có thể bị hiểu là nhà nước chèn ép, khống chế kinh tế tư nhân,
mâu thuẫn với khái niệm bình đẳng giữa các loại sở hữu trong cạnh tranh
lành mạnh.
Thực hiện đổi mới như trên, ta sẽ đưa nước ta lên một tầm cao văn hoá
mới, chấm dứt độc quyền nắm chính quyền (vì độc quyền ở đâu, bao giờ
cũng có hại), mở ra những tiềm năng mới của dân tộc , hoà nhập hoàn
toàn với thế giới dân chủ tiến bộ, hòa giải trọn vẹn với hơn 2 triệu ba
con ở hải ngoại, mở ra thời kỳ phát triển cao vững bền, cả nước sẽ được
hưởng lộc dồi dào của đổi mới do chính toàn dân tạo nên.
Bùi Tín