Mấy
ngày gần đây, đúng vào dịp Tết dương lịch 2006, gần như đồng loạt
42,000 công nhân ở các doanh nghiệp có vốn FDI tại thành phố SG và
tỉnh Bình Dương tổ chức đình công. Không phải công đoàn, cái thiết chế
vẫn mang danh đại diện cho quyền lợi của người lao động, đứng ra tổ
chức mà những con người can đảm ấy đã tự đứng lên đòi hỏi quyền lợi
chính đáng của mình. Họ đã vượt qua nỗi sợ hãi để hiên ngang đối đầu
với giới chủ và qua đó, với chế độ đầy rẫy những bất công và tráo trở.
Diễn tiến của sự việc (nguồn: vnexpress.net)
Từ ngày 28.12.2005:
Đại diện Liên đoàn Lao động TP SG cho biết, các vụ đình công xảy
ra dồn dập từ ngày 28/12/2005 phần lớn thuộc ngành dệt may và da giày.
Tất cả đều có quy mô lớn, với ít nhất vài nghìn người tham gia và nhiều
nhất gần 18,000 người.
Ngày 03.01.2006:
Tại TP SG và Bình Dương xảy ra một số cuộc đình công, chủ yếu ở
các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, với tổng số người tham gia lên
tới hàng chục nghìn. Theo đại diện Liên đoàn Lao động TP SG, nguyên
nhân là do mức lương tối thiểu ở các doanh nghiệp này quá thấp.
"Đình công đang lây lan nhanh. Ngày mai tình trạng này còn tiếp
diễn và có đơn vị định đóng cửa để bảo toàn cơ sở vật chất. Nếu Chính
phủ không ban hành ngay quyết định điều chỉnh lương thì khó ngăn chặn
đình công", đại diện Liên đoàn Lao động TP SG nhận định.
Ngày 04.01.2005:
Ngày 4/1, đình công đã lan thêm 5 doanh nghiệp trên địa bàn TP
SG và 8 doanh nghiệp ở Bình Dương. Trong số đó có một đơn vị trong nước,
còn lại là công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngày 05.01.2005:
Trước tình trạng đình công trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) tiếp tục căng thẳng, sáng 5/1, ông Phạm Minh Huân, Vụ trưởng Tiền
lương và Tiền công, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, cho VnExpress
biết, ngay tuần tới, Chính phủ sẽ ra nghị định về điều chỉnh lương tối
thiểu khối doanh nghiệp này.
Cũng trong ngày 5/1 ông Lê Trung Nghĩa, Chủ tịch công đoàn các Khu
chế xuất TP SG, nói: "Điều kiện làm việc chưa tốt, tiền lương thấp...
khiến công nhân ở nhiều doanh nghiệp nước ngoài suy sụp và khi có tác
động bất kỳ, họ dễ đình công. Công đoàn hiện không kiểm soát nổi tư
tưởng họ nên khó vận động chỉ bằng lý lẽ".
Ngày 06.01.2005:
Trong bối cảnh hàng loạt cuộc đình công diễn ra căng thẳng ở phía
Nam, Chính phủ quyết định nâng lương. Theo đó, từ 1/2, lương tối thiểu
của lao động Việt Nam trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
sẽ được nâng với mức cao nhất là 870,000 đồng một tháng, tăng
244,000
đồng so với hiện nay.
Nguyên nhân và hệ lụy:
Theo lộ trình, từ ngày 1/1/2006 Chính phủ sẽ điều chỉnh lương
tối thiểu đối với lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI). Tuy nhiên, đến nay phương án thay đổi do Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội trình vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt. Nguyên nhân chưa thể
điều chỉnh lương theo lộ trình là một số doanh nghiệp nước ngoài đã
kiến nghị Thủ tướng cho lùi thời điểm áp dụng để có thời gian chuẩn bị
kế hoạch tài chính cho năm 2006, trên cơ sở tính toán chi phí đầu vào.
Và ông Thủ tướng đã vội vã gật đầu! Các cơ quan hoạch định chiến lược quốc gia đã vội vã gật đầu!
Trong khi đó công đoàn, một tổ chức vẫn được coi là sinh ra để bảo
vệ quyền lợi của người lao động, thì hoàn toàn thờ ơ trước đòi hỏi của
công nhân. Vậy là người lao động không còn biết trông chờ vào ai khác.
Vượt qua sự sợ hãi, họ can đảm đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng
của mình, một động thái mà giới chức Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ và
đang tìm mọi cách để loại trừ.
Nhưng dù muốn hay không thì giới lãnh đạo Việt Nam cũng phải thừa
nhận những đòi hỏi của công nhân là hoàn toàn chính đáng. Họ đang phải
lao động cực nhọc để nhận lấy đồng lương chết đói, còn thấp hơn cả
lương công nhân tại Campuchia! Đã thế đồng lương còm cõi của họ lại còn
bị bớt xén bởi các giao kèo thiếu tính toán và vô trách nhiệm trước đây
của chính phủ với giới chủ nước ngoài, bị mất giá bởi tỉ lệ lạm phát
gần 10% (?) một năm. Họ đã hi vọng biết bao vào mức lương mới, cái mà
chính phủ hứa sẽ thực hiện từ cả năm trước, thế mà bỗng chốc gạt đi.
Đó là gì nếu không phải là sự coi thường, rẻ rúng trí tuệ và sức
lực của người lao động? Nó bộc lộ nguyên hình bản chất tráo trở của chế
độ đương thời. Núp dưới mĩ từ “cạnh tranh để phát triển” là sự bóc lột
cùng kiệt sức lực của người lao động. Lợi nhuận có được từ sự phát
triển ấy chảy vào 2 túi: túi của các ông chủ tư bản và cái túi
nhân-danh-nhà-nước. Và từ đó lợi nhuận đi đâu? Ai cũng biết rằng Việt
Nam là nước tham nhũng hàng đầu thế giới, như thế lợi nhuận từ cái túi
nhân-danh-nhà-nước ấy còn đi đâu khác được: Một phần hết sức đáng kể
chảy thẳng vào túi của những kẻ tham nhũng! Người lao động càng khốn
khó thì túi của họ càng đầy.
Sự việc trên một lần nữa cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam đã không
còn đủ sáng suốt để phán đoán và làm chủ tình hình, không còn đủ tỉnh
táo để biết được hậu quả của các chính sách họ đưa ra. Một hệ thống đã
xa rời thực tiễn đến mức không còn khả năng nhìn nhận và giải quyết kịp
thời và đúng đắn các phát sinh từ thực tiễn.
Một điều đáng chú ý là tuy không có tổ chức chính thức nào đứng
đằng sau những người công nhân ấy nhưng họ lại hành động một cách rất
nhịp nhàng ăn ý, và dường như rất có tổ chức. Họ đã có được một sự đồng
thuận hiếm thấy từ trước tới nay để tổ chức đình công với qui mô lớn
trong một khoảng thời gian rất ngắn. Thời đại của khoa học kĩ thuật,
của thông tin tri thức, của những giá trị toàn cầu đã cất tiếng nói uy
quyền của nó. Thông tin từ truyền hình, radio, điện thoại, internet
ngày càng tràn ngập và không một thế lực nào có thể ngăn trở được.
Những bản messages qua điện thoại di động giục giã nhau xuống đường
hoàn hảo hơn nhiều so với những truyền đơn và những lời hiệu triệu xưa
kia.
Nhân danh Marx, những người cộng sản dạy cho họ về lý thuyết giá
trị thặng dư, về tình trạng người bóc lột người, về bất công xã hội… để
giờ đây trúng ngay phải đòn “hồi mã thương” một cách đích đáng. Họ lúng
túng chống đỡ nhưng đã không thể tránh được đòn này, và nên nhớ, đó mới
chỉ là những đòn đánh đầu tiên.
Tại sao giới lãnh đạo Việt Nam, những người vẫn tự cho mình là tinh
hoa, là trí tuệ của dân tộc, lại có thể dính đòn dễ dàng đến vậy? Bởi
vì hai lẽ.
Thứ nhất, không phải như những lời họ vẫn thường tuyên
truyền, rằng họ xuất thân từ giai cấp công nhân và là đại diện ưu tú
của giai cấp công nhân Việt Nam, bởi vì nếu đúng như vậy thì giới lãnh
đạo Việt Nam đã đã hiểu được tâm tư nguyện vọng của những người mà họ
đại diện, hiểu được sức mạnh của giai cấp ấy. Nếu đúng như vậy thì họ
đã đứng về phía những người công nhân, khi đó làm sao có thể xuất hiện
đòn “hồi mã thương” kia. Giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay chẳng hề mang
bản chất của giai cấp công nhân như họ vẫn nói. Milovan Djilas đã nhận
định và chứng minh hết sức thuyết phục trong tác phẩm Giai cấp mới
của ông, rằng những người cộng sản cầm quyền thuộc về một giai cấp mới,
một giai cấp chỉ xuất hiện ở các nước cộng sản, trước đó chưa từng xuất
hiện trong lịch sử phát triển của nhân loại. Tự cho mình quyền năng
tuyệt đối, giai cấp mới này thâu tóm vào mình hết thảy các lợi ích kinh
tế và quyền lực chính trị của đất nước, nó thống trị đất nước chỉ để
duy trì sự tồn tại và các lợi ích ích kỉ của chính nó.
Thứ hai, Liên Xô đã tan rã, “Sư phụ” của họ đã qua đời trong
trạng thái “tâm phục, khẩu phục” từ hơn 10 năm trước, trong khi đó họ
lại chỉ là những học trò tồi. Còn Trung Quốc, “Sư phụ” duy nhất hiện
nay của họ, thì cũng đang phải đối đầu với những vấn đề tương tự và
chưa thể một sớm một chiều tìm ra “thuốc giải” hữu hiệu.
Tôi thực sự thích thú khi tưởng tượng ra cảnh điện thoại tại Văn
phòng Thủ tướng réo liên hồi. Những hung tin liên tục truyền về để rốt
cuộc vị Thủ tướng đã tuổi “xưa nay hiếm” của chúng ta phải lật đật cầm
bút vội vàng kí vào quyết định tăng lương cho những người công nhân can
đảm ấy, những người mà ông ta và thân hữu chỉ luôn coi như cỏ rác và
tưởng rằng họ không bao giờ dám phản kháng các quyết định do ông ta và
thân hữu soạn ra. Tờ giấy mà vị Thủ tướng đáng kính của chúng ta kí vào
không đơn giản là quyết định tăng lương: còn hơn cả một hòa ước, đó
chính là Bản-cáo-trạng-chính-thức-đầu-tiên của Nhân Dân đang trong cơn
thịnh nộ dành cho chính phủ của ông ta và qua đó, dành cho chế độ mà
ông ta đang là một trong những người “bắt phanh trần phải phanh trần,
cho may-ô mới được phần may-ô”.
Lời kết
Đất nước chúng ta cần phát triển thật nhanh, thật vững chắc, nhưng
không thể bằng cách như thế, không thể để người lao động ngày càng khổ
sở bần cùng khi mà sản phẩm họ làm ra ngày càng nhiều, khi mà túi của
các ông chủ ngày càng nặng và theo đó túi của những kẻ tham nhũng ngày
càng to.
Chúng ta không thể coi sự phát triển của đất nước như một canh bạc
đỏ đen và đặt cược vào đó tất cả tài nguyên, sức lực và phẩm giá của cả
một dân tộc. Giới lãnh đạo Việt Nam muốn đất nước phát triển trước hết
để bảo vệ cho quyền lợi kinh tế-chính trị ích kỷ của chính họ, sau nữa
để tiếp tục nuôi dưỡng cái ảo tưởng cầm đuốc soi đường cho nhân loại.
Không, không thể nào để họ đặt cược hết thảy những gì chúng ta có lên
chiếc đĩa của họ. Có cách khác để phát triển nhanh hơn mà vẫn giữ được
danh dự và phẩm giá: hãy học tập và làm theo những gì mà loài người
tiến bộ đang làm.
Thật tuyệt vời 42,000 công nhân Việt Nam!
© 2006 talawas