Đã hơn mươi lăm năm qua, tôi chưa hề biết Xuân, biết Tết là gì.
Cứ
mỗi lần thấy mấy cái tiệm Việt Nam hay Ba Tàu chào mời mua hàng nhiều
nhiều để được tặng lịch năm mới, là tôi biết lại một năm nữa sắp qua và
một mùa Xuân nữa sắp đến.
Thế nào mụ vợ tôi cũng ôm về một lô lịch đủ loại của các chợ biếu. Để rồi không biết treo chỗ nào Atrong nhà cho hết.
Dưới
bếp một tấm. Phòng khách môt tấm. Phòng tắm, phòng ngủ cũng hân hạnh dự
phần. Còn những hai, ba tấm nữa, kêu mấy đứa con cho bớt. Ai dè chúng
nó cũng có máu “ham”, đã đi môt vòng chợ, quơ về nhiều hơn mẹ nó nữa.
Cuối năm, thanh toán rác rến cho sạch nhà, sạch cửa để đón “Ông Bà về
ăn Tết năm mới” tôi khám phá ra hai tấm lịch năm cũ còn mới nguyên,
cuộn tròn, nằm sau hốc tủ thờ.
Không những một năm. Mà tôi nhớ không lầm thì hình như năm nào cũng có y chang như thế. Lại ra thùng rác để “ri xai cồ”.
Cứ
đêm ba mươi cuối năm ở Mỹ là sáng mồng một Tết bên Ta, mụ vợ tôi pha
trà mới, dâng bánh ngọt, hoa quả lên bàn thờ, rồi trịnh trọng đốt ba
cây nhang, lấy bàn tay quạt quạt cho lửa tắt ngọn, xong trịnh trong
đứng khom khom, hai tay dâng nhang ngang trán, miệng thì thầm lời khấn
vái :
- Mời Ông Bà về ăn Tết với con cháu!
Lần nào cũng vậy, mời xong câu trước là câu sau năn nỉ, xin xỏ:
- Xin Ông Bà phù hộ cho con cháu mạnh khoẻ, làm ăn phát tài, phát lộc bằng năm, bằng mười năm ngoái.
Nghe
mụ vái, tôi cứ cười thầm trong bụng, không dám cười lớn tiếng vì tôi
biết mụ vợ tôi hễ mỗi lần lim dim đôi mắt trước bàn thờ tổ tiên, ông bà
là mụ quên hết mọi thực tế hiện tại. Cái thực tế bao nhiêu năm nay là
hai vợ chồng đi cày cho hãng xưởng, lương ba cọc, ba đồng cố định.
Thỉnh thoảng nhân lễ lớn như Lễ Độc Lập “Du lai Pho”, lão “Má na giơ”
kêu lên văn phòng, đóng cửa kín mít, thì thầm khen mấy câu “lao động
tốt” và tăng cho 25 xu/giờ, đã mừng húm rồi. Chớ có làm “Bíu di nịt”
hay buôn bán gì đâu mà được phát tài bằng năm, bằng mười năm ngoái.
Tội
trân trọng lòng thành của mụ. Tôi sợ cười lớn tiếng sẽ làm tan đi mất
cái hy vọng chứa chan trong lòng mỗi khi thành khẩn khấn vái.
Cái
hy vọng mua vé số cũng y như vậy. Ai ai cũng biết trúng cái số độc đắc
SuperLoto cỡ 100 triệu đô còn khó hơn vói tay lên trời bắt sao. Vậy mà
ai cũng cứ ngày đêm đi mua. Và nuôi hy vọng.
Có cái buồn cười là
mụ vợ tôi tiếc tiền mua vé số lắm. Chẳng mua bao giờ mà cứ vái cho
trúng số. Môt hôm tôi giả vờ “lên đồng” phán cho mụ hay rằng:
-
Này con mụ kia! Mày chẳng bao giờ bỏ ra một đô để mua một tấm vé số thì
Thánh A La cũng chịu bó tay nói chi đến tao chỉ là Thần Tài thì làm sao
giúp cho mày trúng số!
Chờ cho mụ vợ làm xong thủ tục “Tối ba
mươi giơ tay bồng Ông Phúc vào nhà”, tôi mở cát xét nghe nhạc Xuân, đón
mừng năm mới. Vẫn cái băng cũ mười lăm năm trước, vẫn những bài hát cũ.
Mấy niên đầu mới xa quê hương, lòng còn nóng bỏng nỗi nhớ nhà, khi nghe
Duy Khánh rền rỉ “Xuân này con không về” thì hai hàng nước mắt cứ “ô tô
ma tích” chảy ra giống y như con chó chảy nước miếng khi nghe tiếng
chuông rung của ông Pá Láp Pá Lốp nào đó.
Đến cái năm thứ mười
trở về chiều, nỗi “nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi
miệng cái gia gia” cũng ngày càng thêm mỏi mệt lắm rồi, nên cái “xen
xò” trong tim không còn đủ mạnh để cảm ứng hạch nước mắt tự động chảy
ra nữa.
Tôi đi vòng vòng ngắm mấy cái lịch treo khắp nơi trên
tường, vẽ hình con cò, con cuốc, mũi ngửi mùi thơm hương trầm nhẹ tỏa
trong căn phòng ấm cúng, miệng ư ử ngâm mấy câu Kiều:
Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì!
Thay vì nhiều năm trước tôi rên lên một cách não nùng:
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang. (Thế Lữ)
Và
còn bảnh chọe, hùng tráng, bi phẫn hơn nữa, sau khi làm một ly “Quích
Ky X.O” phừng phừng chí khí, giơ cao tay lên trời, than môt câu y như
tráng sĩ Kinh Kha lúc trước mang kiếm sang Tần thích khách Thỉ Hoàng,
nơi bờ sông Dịch:
Giang sơn hữu chủ, thùy vi khách!
Thiên hạ trường xuân, ngã độc thu!
Và
cái thời tiết tréo ngoe, tréo ngỗng ở cái miền Đông Bắc Huê Kỳ này nó
ngược với xứ ta. Trong lúc mấy o ca sĩ cứ hớn ha, hớn hở vang giọng
trong máy cát xét:
Xuân đã đến rồi, gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời…
Vui trong bình minh, muôn loài chim hát vang mọi nơi…
Thì
ngoài trời tuyết cứ rơi lả tả, trắng xóa cả không gian. Chẳng có cái
hoa nào còn sống nổi, cũng chẳng có con chim nào hót nổi trong những
ngày đông, tháng giá này.
Sáng hôm sau, lò mò thức dậy ra sân,
loi ngoi lóp ngóp cào tuyết để “de” cái xe ra đường cái. Đi làm. Y như
ngày hôm qua. Thế là xong cái Tết tha phương.
Nhưng năm nay, tôi quyết chí phải về quê ăn Tết mới được.
Kể
từ cái ngày tôi được Đảng và Nhà nước đào tạo môt khóa dài hạn sáu năm
thành môt “anh hùng lao động” và đi thực tế mười năm để trui rèn trở
nên “thép đã tôi thế ấy” đúng lúc Đế quốc Mỹ ký hiệp thương với Nhà
Nước ta xuất khẩu lao động trong chương trình H.O. Tôi được gửi đi
trong đám người đông vui ấy. Từ ấy đến nay, trong đội ngũ công nhân áo
xanh, tôi hăng say lao động tốt, học tập tốt, làm tròn cái bổn-phận-sự
của “cái khúc ruột ngàn dặm” để làm tốt chuyện xây dựng quê hương giàu
đẹp là hàng năm gửi đô về quê nhà.
Ấy vậy mà, chỉ có mỗi nguyện
vọng nhỏ, xin về thăm làng, thăm xóm cũng chưa được “trển” cho phép.
“Trển” là cách nói thân thương, như người trong gia đình, của các cán
bộ ta khi nói về cấp trên. Cũng như không gọi chức vụ, quyền uy của
lãnh đạo e rằng xa cách quần chúng nhân dân nên cán bộ ta cứ gọi Chủ
tịch nước, Bí Thư Đảng, Chủ Tịch Thành phố là Chú Bảy Y, Thím Ba X, anh
Tám Cống … một cách bình dân, xuề xòa chứ không có kiểu cách quan liêu
“Ngài nọ, Ngài kia…” như phong kiến hồi xưa.
Thiệt là cách mạng có khác!
“Trển” ở đây là mụ bí thư “chi bộ hai người” của chi bộ tôi.
Rút
kinh nghiệm nhiều năm trước, cứ mỗi lần đệ đơn xin về nước đón Xuân cho
bỏ những ngày nhớ thương, nhung nhớ là y như rằng đơn bị trả lại với
lời phê của mụ bí thư:
- Tình hình trước mắt còn nhiều khó khăn.
Chưa có dự trù ngân sách cho tài khoá này. Đề nghị đồng chí chồng chờ
sang năm. Ta sẽ nhất định đánh thắng giặc đô la, đồng chí nhất định sẽ
được diện ưu tiên cứu xét.
Mụ hứa rồi mụ hẹn. Tôi ngóng cổ chờ đã mười lăm cái hứa hẹn ấy rồi.
Quí
Cụ ơi! Cái mụ bí thư này chính là mụ vợ tôi. Mụ đã nắm hết nền kinh tế
và quyết định mọi chi tiêu trong gia đình đó quí vị ạ. Mụ nhất quyết
bảo thủ cho rằng nền kinh tế chỉ huy là số dách, là vô địch. Qui chế
bao cấp tem phiếu là hoàn toàn đứng đắn. Mặc dù mấy năm trước khi còn ở
cái đất nước vinh quang, mụ cũng bắt chước ông Tổng Bí Linh cởi trói
cho giới văn nghệ chút đỉnh, mụ cũng cới trói cho tôi. Mừng quá, tôi
đánh một lèo theo mấy thằng bạn đi nhậu mút chỉ quắc cần câu mấy ngày
không về nhà cho hả cái bụng bấy lâu nay. Ai dè ông Tổng Bí Linh, mới
cởi buổi sáng, buổi chiều rét quá vội cột chặt lại ngay. Mụ vợ tôi cũng
theo đà, thừa thắng xông lên, trói nghiến tôi tức khắc. Từ ấy đến nay,
tôi không nhúc nhích đi đâu được một ly ông cụ.
Tôi hầm trong bụng lắm và cũng hăm trong bụng:
- Có ngày mụ sẽ biết tay ta!
Và tôi chờ đợi. Chờ đợi cái ngày mụ “sễnh” ra là tôi “thăng” ngay.
Đúng
cái dịp Tết, không biết ai xúi dại, xui khôn, nói rằng “mấy con ngựa đi
biểu diễn bên Úc trong chương trình Duyên Dáng VN xấu ình hà. Xấu hơn
chị Hai nhiều. Tuy chị lớn tuổi môt chút nhưng coi bộ còn ngộ hơn cái
đám ngựa đó nhiều lắm”.
Kể từ đó, mụ vợ tôi nuôi hy vọng sẽ
trở thành “Hoa hậu” để có cơ hội đổi đời, giả từ kiếp công nhân cán dài
để có ngày sẽ được đội cái vương miện bằng vàng (giả) lên mái tóc đã
pha muối gần hết.
Cái ngày tôi chờ đợi đó đã tới. Một hôm, bỗng nhiên mụ âu yếm nói với tôi bằng cái giọng ngọt như đường hoá học:
-
Anh yêu à! Em nói cái này, anh đừng giận em nghen! Hôm trước em với mấy
bà bạn đi trắc nghiệm để coi thử có triễn vọng dự thi Hoa Hậu không. Em
được xem như có khả năng, chỉ ngặt một nổi, ba vòng đo đều bằng nhau,
không cái nào chịu nhường cái nào. Bác sĩ khuyên em chỉ còn cách đi hút
mỡ vòng giữa là sẽ ăn chắc. Lúc đó em sẽ trao cái vương miện cho anh
làm kỹ niệm.
Tôi nghe mụ thỏ thẻ mà như nghe tiếng sét bên tai.
Nhưng sực nhớ ra đây là cơ hội bằng vàng ròng 4 con số 9 đã đến. Thay
vì tái mét mặt mày như những ông chồng chân chỉ hạt bột khác khi nghe
vợ đòi đi hút mỡ bụng, tôi biến nổi sợ thành niềm hân hoan thực sự, bèn
hớn hở mà rằng:
- Chao ôi cơ hội ngàn năm môt thuở! Vợ tôi trở
thành “Hoa Hậu thế giới” thì quả thật anh sướng còn hơn lên Thiên Đàng
gặp Ông Mác, Ông Lê. Sao anh lại giận em. Anh ủng hộ em hết mình!
Mụ
nghe tôi nói, tỏ ra chiều khoan khoái “như cởi bỏ tấm lòng”, ôm tôi hôn
đánh chụt một cái rõ kêu, rồi chụp lấy cái ống nghe gọi tới văn phòng
bán vé máy bay, lấy vé để bay qua Cali, đến Thẩm Mỹ Viện làm cái việc
ớn lạnh xương sống là xẻ da, mổ bụng, hốt đống mỡ bầy nhầy, lúc la, lúc
lắc trước bụng.
Ngay hôm đó, tôi cũng dọt lẹ lên hãng, lấy hai
tuần “vây-cấy-xân” và mượn nhẹ vài ngàn đô trong cái “Pho Ô Oanh Cây Bờ
len” để ẳm cái vé máy bay về Việt Nam ăn Tết.
Quả thật cái câu
“Ông ăn chả thì bà ăn nem” không áp dụng được trong trường hợp này.
Nhưng trong lúc vội vội vàng vàng thu xếp bao nhiêu thứ trong đầu cho
ngày “vinh qui bái tổ”, “áo gấm về làng” tôi chưa kịp nhớ ra câu gì
khác để thay thế.
Cái ngày đưa mụ vợ ra phi trường đi Cali ở hai tuần thì cũng là cái ngày tôi tếch về Việt Nam sau đó hai tiếng đồng hồ.
Tôi
về tới Nha Trang đúng ngày mồng một Tết. Năm nay có dịch cúm gà, con vi
trùng “Hát một Rờ năm” hoành hành dữ quá, lan tới mấy chục tỉnh từ Nam
tới Bắc, đám Việt Kiều Yêu Nước rét co vòi, không dám về, trả lại vé
hết, nên sân bay vắng như chùa Bà Đanh. Tôi môt mình một chợ. Thong
dong như chỗ không người. Thiệt là tự do không đâu bằng.
Xóm
làng tôi bây giờ không còn nữa. Tôi như con chim không tổ. Con chó
không nhà. Tôi lên xe đò về Ninh Hoà Hòn Khói là quê nội để ăn Tết với
bà con.
Gần tới Ninh Hòa, tôi nghe khách trên xe kháo nhau đi
coi Hội Chợ của mấy ông bà Việt Kiều tổ chức. Tò mò, tôi cũng háo hức
đi xem thử.
Tôi mơ màng quay về quá khứ, mấy chục năm trước tôi
đã từng có lần ra đây xem “đánh bài chòi” và gặp người con gái dễ
thương, nhưng thương không dễ, để rồi mối ân hận cứ dày vò mãi.
Biết chừng đâu, trong dịp này, cơ trời xui khiến gặp lại người xưa chăng?
Có ai cấm xãy ra hai lần chuyện “Nhị độ mai”!
Hội
chợ cũng được tổ chức ở sân vận động cũ. Sau lưng Quân. Chỉ khác một
điều là toà nhà hành chánh Quận Ninh Hòa nay đổi tên thành Ủy Ban Nhân
Dân Huyện với nhiều cờ đuôi nheo ngũ sắc và cờ đỏ sao vàng treo rợp
trời.
Ngày đầu Xuân, trời êm, lặng gió. Cờ không bay phất phới mà cứ rũ xuống trông thật buồn bả.
Vẫn là bình cũ nhưng rượu mới. Còn rượu có ngon hay không thì có uống lâu mới biết được mùi vị.
Quang
cảnh đập vào mắt tôi trước tiên là ngay cổng ra vào Hội Chợ có một băng
rôn màu xanh da trời bằng vải, khổ lớn, trên viết sáu chử bằng sơn, màu
xanh nước biển: HÔM QUA - HÔM NAY - NGÀY MAI.
Bước vào bên trong
bỗng nhiên tôi thấy lòng mình thơ thới, hân hoan như rộng mở với rừng
người đang vui tươi, hớn hở chen nhau đi xem các gian hàng của Việt
Kiều về nước trưng bày.
Đám con nít xúng xính trong bộ quần áo
mới, đầu tóc mới cắt trông tinh tươm như quần áo. Có đứa còn để tóc ba
chòm trông như tiên đồng trong truyện cổ tích. Mấy bé gái thì thắt nơ
hai trái đào trông càng xinh xắn dễ thương.
Mỗi đứa trẻ đi ngang
qua gian hàng đầu tiên ngay cổng ra vào đều được các chị, các cô trao
cho nắm kẹo. Nhìn những nét mặt thơ ngây sung sướng, tôi lại nhớ đến
đám trẻ con Mỹ nắm tay cha mẹ đi xin kẹo trong đêm “ Ha Lô Quin” lễ Ma
quĩ của Mỹ, mồm cứ líu la, líu lo “ trick or treat”.
Mấy ông
già, bà già được tặng mỗi người một thỏi kẹo cao su nhai nhót nhép thay
cho trầu cau. Tặng vật không đáng giá là bao nhưng thắm tình người. Ai
ai lòng cũng vui như gió xuân nhẹ nhàng, mát mẻ.
Người ta đang kéo nhau về hướng có tiếng trống, tiếng kèn, lúc thì inh ỏi, lúc thì dìu dặt tùy theo các ca khúc trình diễn.
Tôi
chú ý đến một gian hàng khá lớn, người ta đang coi đông nghẹt. Tôi lách
mình giữa đám người chật như nêm cho sát gần chỗ trưng bày coi cho mãn
nhãn là cái gì.
Ồ! Đó là môt cái sa bàn khá lớn. Trên đó có đủ
cả núi non, sông hồ, nhà cửa, chợ búa, trường học, đường đi, lối lại…
của toàn quận Ninh Hòa. Phía rìa mép sa bàn còn có biển Dốc Lết và cầu
tàu Hòn Khói quê tôi nữa.
Thiệt khen ai đã có bàn tay mỹ thuật
và trí óc sáng tạo, cố công làm nên chiếc sa bàn này. Nhiều tiếng trầm
trồ thán phục của người xem vang lên khi người thuyết trình cầm cái que
dài bằng I nốc, nhỏ như chiếc đủa, chỉ vào đâu để giải thích và sơ lược
về sự tích, nguồn gốc nơi ấy thì đèn màu nơi đó bật sáng lên, nhấp nháy
liên hồi.
Hai người đứng hai bên thay nhau thuyết trình. Người
này vừa dứt thì người kia tiếp nối, ăn khớp, nhịp nhàng. Hình như đã
luyện tập cái màn này lâu lắm rồi. Mà hai anh chàng này tôi thấy quen
mặt quá. Cố moi óc suy nghĩ đã gặp ở đâu rồi thì phải. Nhưng mãi vẫn
không nhớ ra. Bà vợ thường hay chế diễu tôi, mỗi khi có trường hợp này
xãy ra:
- Ai mà ông chẳng quen! Nhất là các cô xinh xinh, đẹp đẹp một chút thì ông đã kêu lên là hình như…liền.
Đó
là cái bịnh kinh niên, trầm kha không thuốc chữa của tôi. Tôi không
chối. Hồi còn ở tù chung với mấy ông Bác sĩ trẻ như Trân, Oánh, Kỳ,
Hồng… tôi có kê khai cái bịnh này và cầu cứu mấy ông đó cho toa, hốt
thuốc. Không ngờ mấy ổng cũng đều nói như nhau “ Tụi này cũng mang cái
bịnh đó đây. Tự mình không chữa cho mình được thì còn chữa cho ai.”
Nhưng
bây giờ là hai anh đực rựa, tuổi cũng hình như năm, sáu bó rồi chứ có
phải gái, ghiếc gì mà cái bệnh Tề Tuyên của tôi nổi lên tơ tưởng?
A!
Tôi nhớ ra rồi! Cái anh chàng đẹp trai, to con, mập mạp có nước da ngâm
đen rám nắng kia đích thị là Nguyễn văn Thành có giọng nói đặc sệt
“Ninh Quà” rất mộc mạc, quê nhà mà cũng rất duyên dáng, dễ thương. Nhất
là sau mỗi câu nói lại kèm theo tiếng cười hà… hà… rất trẻ trung, phóng
khoáng.
Còn cái anh bên kia có mái tóc bồng bềnh nửa muối, nửa
tiêu, nói năng ôn tồn chững chạc, nghiêm nghị kia đúng chóc là nhà thơ
Vinh Hồ. Chẳng thể trật vào đâu được. Còn nữa, phía sau sa bàn, chỗ đặt
dàn máy âm thanh, cái anh chàng đô con, nước da trắng trẻo, đang lúi
húi vặn tới, vặn lui cái nút điều chỉnh để âm thanh không bị hú, đích
thị là Trần thế Vinh. Chuyên viên tổ chức lễ lạc và chuyên trị món dàn
chào.
Tôi nhướng mắt nhìn tấm bảng nhỏ gắn phía trước sa bàn
để đọc cho rõ tên các chuyên viên góp tay vào việc xây dụng công trình
này. Hóa ra cả một nhóm người gồm có: Dương Tấn Long, Vinh Hồ, Nguyễn
văn Thành, Phùng Phương, Phó Quốc Lâm, Hà thị Thu, Lê bích Thủy, Nhà
Quê…
Định nán thêm một chút để nghe tiếp về lịch sử địa danh Hòn
Khói quê nội tôi, nhưng thiên hạ đã tản ra, đi xem các trò chơi dân
gian đang bắt đầu. Tôi cũng chảy theo dòng người. Mấy cái trò này hồi
xưa là món ruột của tôi. Thoáng cái đã hơn năm mươi năm rồi. Ghê thật
cho thời gian bay nhanh hơn phi thuyền con thoi. Trò chơi rồng rắn “Hỏi
ông Thầy đi ỉa dìa chưa?”, Trò đánh trỏng, Trò “Đúc cây dừa, chừa cây
mỏng”, Trò nhảy bao bố … rất tầm thường, con nít vẫn chơi hàng ngày đó
thôi. Bây giờ mình đóng vai ông cụ đứng xem, sao lòng vẫn thấy rưng
rưng cảm động với cái vui náo nhiệt, ồn ào hồn nhiên của đám trẻ thơ.
Chốc
chốc, cái đám rồng rắn bị ông Thầy rượt bắt cái đuôi, lính quính xô vào
nhau té dồn cục, kẻ cười hô hố, người khóc hu hu vì bị xướt tay, trầy
đầu gối.
Không sao! Đã có cái Trạm Y Tế do chính tay Bác Sĩ
Nguyễn Vĩ Việt chăm sóc. Sát trùng, bôi tí thuốc đỏ, dán băng keo là
các em nhe răng sún ra cười hề hề liền. Lại tiếp tục cuộc vui.
Trời
khá trưa. Nhưng tiết xuân mát mẻ. Lòng xuân phơi phới. Không ai thấy
nóng và mệt. Chỉ thấy nhúc nhích kiến bò trong bụng. Đi đến gian hàng
ăn uống kiếm chút gì bỏ trong bụng đã.
Chà! Thiệt là trăm hoa
đua nở. Toàn là người đẹp Bích La thôn (xin lỗi nói nhầm) là Ninh Hoà
thôn đảm trách. Mấy cái món đặc sản Ninh Hòa như : nem chua, cơm rượu,
bánh xèo, bánh căn, gỏi cá già, cánh gà chiên dòn, mắm suốt…món nào
cũng xông lên mùi thơm phức, khiến khách du xuân phải quay mặt đi chổ
khác, nuốt nước miếng đánh ực một cái cho đã thèm cái thần khẩu đang
rạo rực trong bụng cứ muốn nhảy chồm chồm ra đòi ăn.
Quí bà đang
lăn xăn tay chân phục vụ khách hàng, miệng mời, cười cười, nói nói tươi
như hoa đào trước gió. Khách ăn cứ tắm tắc khen ngon. Tôi nghĩ bụng
chắc ngon cũng nhờ một phần vào những cái miệng xinh như cánh đào hồng.
Trong
đám quí bà, quí cô “thần trù” đang ra tay nghĩa hiệp tại gian hàng ẩm
thực, tôi biết mặt, biết tên gồm có Nguyễn thị Tuyết Mai, Diệp Mai Lan,
Nguyễn Thùy Trang, Phương Lệ, Phùng thị Phượng… còn một vài người nữa
tôi chưa được biết quí tánh, phương danh.
Nhưng đặc biệt nhất là
món mắm suốt xúc bánh tráng do đầu bếp đực rựa Nguyễn văn Thành đang
xăn tay áo hành đạo. Giữa một đám phụ nữ chỉ mỗi mình anh lạc lỏng bơ
vơ. Thiệt tội nghiệp cho cảnh “gươm lạc giữa rừng hoa”.
Cũng là
một điều bất ngờ, cái món mắm suốt của anh lại quến (không phải quyến)
rũ cái cánh đàn ông ưa nhậu. Cái món đó nó bắt mồi lắm. Anh nào cũng
ghé vô xúc một miếng, tọp một ly rượu nếp than Cây Thị, khà một tiếng
nghe đã thì thôi. Có anh “lỳ tới hai ba lam” mới đã cái thần khẩu.
No
nê cái bụng rồi, tôi mon men qua mấy gian hàng văn nghệ, văn gừng để
thưởng thức vườn xuân văn hóa. Có thực mới vực được đạo. Ông bà ta đã
nói thì không trật vào đâu được. Đố có cô ca sĩ nào lên gân nổi một câu
ca khi trong bụng trống trơn không chút hồ, chút cháo. Đố có anh thi,
văn sĩ nào rặn ra được câu thơ hay bài văn khi tay chân run rẫy khi bị
“lửa cơ đốt ruột”.
Ui chao ơi! Thiệt là chốn vườn Xuân muôn hồng
ngàn tía! Anh chị em tụ họp ở đây đông đảo náo nhiệt vô cùng. Con số
văn nhân “lỏng buông tay khấu”dám hơn tám chục là ít.
Tôi lạc
vào giữa cảnh “bách hoa đang tề phóng” mỗi người lên sân khấu ngâm một
bài thơ hay đọc môt đoạn văn đắc ý của mình kèm theo phần phụ họa của
đàn thập lục, sáo trúc nghe réo rắc du dương.
Lợi dụng trong lúc mọi người lắng tai thưởng thức tiếng nỉ, tiếng non, tôi lén đưa mắt tìm ngườI, thử có ai mình quen không.
Phải
nói là tôi hoa cả mắt. Ít nhất là có tới hơn ba chục nữ sĩ. Nữ sĩ nào
cũng tươi như hoa mùa xuân! (Khéo tán! Chẳng lẽ là hoa mùa đông?) Cái
điệu này, âm thịnh, dương suy rồi. Tôi nhẩm thầm, này là: Quang Dương,
Vinh Hồ, Đường Du Hào, Phạm Dạ Thủy, Dương Tấn Long, Điềm Ca, Linh Vũ,
Phạm Tín An Ninh, Lê Anh Dũng… còn nhiều, nhiều nữa mà tôi chưa biết
tên và cũng tại giấy thiếu trang nên chép không hết. Xin các anh hùng,
nữ kiệt đánh cho hai chữ đại xá nhé.
Đặc biệt có một anh tuy hãy
còn rất trẻ nhưng khi lên sân khấu phải chống gậy, và nói giọng khàn
khan. Cô “Em Xi” giới thiệu đó là nhà văn, nhà thơ, kiêm nhà biên khảo
Trần Việt Hải ở tận Lốt Ăng Gờ Lét.
Té ra là anh Việt Hải vẫn thường I-meo, I-mốc với mình đây mà. Thật là “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”.
Những
nhà văn, nhà thơ lớn… tuổi đi một màn biểu diễn, hay thì có hay đó, có
cảm xúc đó, nhưng nghe sao có mùi gừng già quá. Nghĩa là càng nghe, âm
điệu thấy càng cay và càng đắng.
Không khí đang lắng đọng theo
tiếng thơ, tiếng trúc du dương, trầm bổng, kẻ xướng người họa, đột ngột
chuyển sang phần trình tấu nhạc dân tộc cổ truyền. Khán giả thật bất
ngờ khi thấy một cô gái tuổi chừng đôi chín, duyên dáng trong chiếc áo
dài Việt Nam, lần lượt biểu diễn những khúc dân ca bằng đàn nhị (cò) và
đàn tỳ bà. Mỗi khi dứt tiếng nhạc, tiếng vỗ tay như pháo tết, vang lên
tán thưởng, tưởng chừng không dứt.
Không ai ngờ rằng đó là cháu
Nguyễn thị Kim Loan, ái nữ của anh Nguyễn văn Thành. Cháu được sinh ra
và lớn lên ở một đất nước xa cách quê cha nửa vòng trái đất mà lại có
một tâm hồn Việt Nam nguyên vẹn trong tim.
Bà con Ninh Hòa thật sự cảm động và vô cùng hãnh diện có được một người con, người cháu yêu quí như vậy.
Tôi
đã từng nghe tiếng đàn cò, đàn tỳ bà tuyệt diệu của ông nhạc sĩ trong
Paris by night nhưng không thấy lòng rung động và cảm xúc mãnh liệt như
hôm nay.
Tiếng đàn của cháu Loan khiến tôi nhớ lại tiếng đàn của Thúy Kiều tấu trong ngày gia đình Viên ngoại đoàn viên, xum họp một nhà:
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hòa!
Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình!
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu dỏ duyềnh duyên!
Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông!
Xin tặng cháu Nguyễn thị Kim Loan hai chữ: tuyệt vời.
Tôi
cũng thuộc loại gừng già có khi gần thối nữa là khác, nhưng vẫn thích
thú nghe mấy vần thơ trẻ của các cháu bé. Đúng là mầm non văn nghệ đang
lên để thay cho lớp tre già sắp tàn.
Xin đan cử vài cháu.
Cháu
Đỗ thảo Nguyên sinh năm 1986, lên ngâm bài thơ “Trong mơ” của mình để
nói lên khác vọng của tuổi trẻ. Bài thơ rất dễ thương như sau:
Trong Mơ
Nắng chiều, hắt xuống sông Dinh nhợt nhạt.
Cây cầu cũ,
giờ vắng bóng người qua.
Nước,
lững lờ trôi đưa những lục bình tím ngắt
dạt về đâu?
Dáng dừa cong như đời người nặng gánh.
Chiếc thuyền câu nhỏ nhoi khiêm tốn,
đã bao đời nuôi lớn những tuổi thơ.
Lũ trẻ của dòng sông vẫn vẫy vùng tắm gội....
Chiều ra đi để lại bóng tối
Rồi ánh đèn,
sẽ lóng lánh trên dòng sông....
Chắc người ra đi,
giờ vẫn còn thấy
những hình ảnh xưa...
chập chờn... trong những cơn mơ.
(Đỗ Thảo Nguyên)
Một cháu khác, hai hình ảnh, hai cuộc đời: Hồi cháu còn đang thích chơi “rồng rắn” và “Chặt cây dừa, chừa cây mỏng” thì:
Hôm Qua, Hôm Nay, Ngày Mai
Hôm qua Ninh Hòa tôi được bước
Hôm qua chó rượt chạy rất nhanh
Hôm qua nắm tay em họ đi tới lớp
Hôm qua chọc tức ngoại tôi la
Hôm nay Ninh Hòa chân tôi vắng
Hôm nay Anh văn nói rất hay
Hôm nay gặp lại người bỏ quê đi
Hôm nay tôi nhớ người tôi bỏ lại
Ngày mai Ninh Hòa tôi sẽ bước
Ngày mai trưởng thành không còn thơ
Ngày mai tương lai sẽ sáng chói
Ngày mai Ninh Hòa nhớ tôi không?
Đến khi cháu mọc chiếc răng khễnh duyên dáng, bắt đầu mơ mộng thì cuộc đời bắt đầu có mùi cay đắng:
Dream
…
He loves me not; it's in his eyes
But I love him with all my body and mind
At least he taught me the lesson of love
I'm now happy, in a place above
(Nguyễn Phương Linh)
Bây
giờ thì tôi mới hiểu cái ý nghĩa của sáu chữ viết trên tấm băng rôn
trước cổng chào. Ban tổ chức Hội chợ đã dùng tựa bài thơ của cô bé để
chuyển tải mơ ước và hy vọng vào lớp trẻ sau này.
Một cháu nữa
cũng dễ thương không kém, cháu Phạm ngọc Sơn Đài, thấy phượng nở,
phượng tàn thì buồn rầu vì biết rằng sắp xa cách bạn bè. Sao giống tôi
hồi nhỏ quá vậy?
LÁ PHƯỢNG RƠI
Ngày Thu sao đến gần
Cho cây phượng hết màu đỏ thắm
Cho buổi sáng ngày hè bức oi
Nhưng không có gì buồn bằng
Những cơn mưa lá rụng đầu Thu
Như là nước mắt bạn bè lúc gặp nhau
Những lúc ấy sao mà thắm thiết
Mai đây xa rồi mái trường xưa
Cơn mưa lá phượng không còn nữa
Cố khắc ghi những kỷ niệm tuổi học trò
Nhưng bây giờ biết tìm lại nơi đâu ?
(Phạm Ngọc Sơn Đài)
Nhưng
tha thiết tình quê với những vần thơ nồng nàn chan chứa tình cảm thì
cháu Hà Mỹ Phụng mới mười lăm tuổi đã biết ca ngơi quê hương qua bài:
Ninh Hòa Đẹp Lắm Ai Ơi !
Ai ơi chớ vội cười chê !...
Ninh Hòa đẹp lắm vần thơ
Biết bao tuổi nhỏ làm thơ cho đời
Tuổi nhỏ quê ở Ninh Hòa
Làm thơ làm truyện để ca quê nhà
Quê hương thắm cảnh tuyệt vời
Làm ai cũng muốn đến thăm quê nhà
Website Ninh Hòa có đây
Là nơi phong phú của nhiều người quê
Có sông có suối có hồ
Có cây có cối có nhiều điểm tâm
Hôm nay tôi xa Ninh Hòa
Tôi nhớ tôi thương Ninh Hòa quê tôi
Quê tôi đẹp lắm ai ơi
Vui lòng ghé đến mà chơi hỡi người
Xin hãy đến quê tôi người nhé..
(Hà Mỹ Phụng)
Tuy
những câu thơ các cháu còn vụng dại, non nớt, chưa thành câu, thành cú
nhưng nghe sao vẫn cứ ấm lòng và thấy thân thương chi lạ. Rời chốn văn
thơ, tôi chú ý tới một gian hàng vẻ tranh của các em nhi đồng. Cũng
thật bất ngờ khi xem các tranh của các cháu. Những cháu Phạm Khả Doanh
8 tuổi, Ngô tài Trí 9 tuổi, Quỳnh Châu 9 tuổi, Thùy Trang 9 tuổi, Bội
Uyên 9 tuổi, Ngọc Hân 10 tuổi đang thi nhau vẽ tranh Giáng sinh. Tranh
các cháu vẽ đẹp không thua gì mấy đứa con nít Mỹ chính cống mắt xanh
mũi lõ. Có khi còn đẹp hơn với cái nét thơ ngây Việt Nam nữa là khác.
Còn
một lô gian hàng khác nữa tôi định đi xem cho hết để “biết cái sự đời”
nhưng sực chú ý tới một gian đặc biệt, rất vắng người xem. Đến gần mới
hay là nơi trưng bày hình ảnh các văn nhân, nữ sĩ của cái đất Khánh
Hòa- Ninh Hoà. Trong môt lô lổn nhổn khuôn hình cái đứng, cái nằm, tôi
thấy có một khuôn mặt trông quen quen. (Cũng lại quen quen!) Lại gần,
hóa ra chính là tôi. Cái thằng tôi đang ngồi chò hỏ trong cái khuôn
hình chữ nhật đang nhe hai hàm răng giả ra cười duyên. (Chắc là với mấy
bà giá) Tôi mà cũng được chưng cái bản mặt ra đây à. Vinh dự nhỉ. Hãnh
diện gớm. Nhìn trước, nhìn sau không thấy ai, tôi sửa lại bộ nghiêm
trang, chỉnh lại áo quần ngay ngắn, chắp hai tay vái trước khung hình
mà rằng:
- Con kính chào Ngài! Chúc Ngài sống lâu muôn tuổi để
viết những áng văn thơ (bất) hủ để cho đời sau chiêm.. ngửi. Chúc Ngài…
muôn năm trường trị…
Tôi chưa kịp chúc hết câu thiệu bắt chước
của thằng lưu manh Vi Tiểu Bảo trong Lộc đỉnh ký ưa dùng để “nịnh mấy
anh trển” là : “Muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ” thì bỗng có
ai đứng sau lưng đập vào vai đánh chát một tiếng, đau điếng. Hết hồn,
tưởng công an tới gô cổ đi cải tạo vì tội phát ngôn linh tinh. Ngó
ngoái lại, không phải công an. Hóa ra mụ vợ đang đứng sau lưng với cái
giọng chua loét:
-Này! Sao không vô buồng mà ngủ, lại ngủ gục
trên cái còm piu tơ là sao? Mà còn mơ thấy con mụ nào ở trỏng sướng quá
nên cười sằng sặc rồi ú ớ lảm nhảm cái gì có cả giường cả chị nữa hả?
Mụ nghe hai tiếng trường trị tôi lảm nhảm thành ra giường với chị! Thiệt tình!
-
Tôi vừa mừng vừa hoảng hốt. Mừng là không phải bị công an còng tay.
Hoảng hốt là vì trốn vợ đi về Việt Nam ăn Tết bị mụ bí thư bắt gặp quả
tang.
Nhưng mụ nói cái gì là đang ngủ gục? Té ra là tôi nằm mơ
chăng? Tôi dụi mắt hai ba lần vẫn chưa tin mình đang mơ. Rõ ràng tôi
đưa mụ ra sân bay đi Cali hai tuần lễ để hút mỡ bụng mà. Có lý nào lại
về sớm đến thế. Tôi đưa tay rờ thử vào bụng mụ vợ để kiểm chứng mình
đang tỉnh hay mê. Cái khổ thịt ba chỉ to bằng cườm tay, vẫn còn nằm vắt
ngang bụng mụ bí thư. Quả thật là tôi đang nằm mơ. Nhìn lên màn hình,
thấy tờ báo Xuân năm Con Gà của Ninh Hòa đót com của anh Thành đang
nhấp nháy trước mặt. Hai con gà Trống Mái đang ngoéo cổ nhau âu yếm và
đôi mắt chúng hình như đang nhìn tôi diễu cợt.
Hóa ra tôi đang
dạo chơi trên website Ninh Hòa, lạc đường vào chốn thiên thai, thả hồn
về chốn quê nhà mong ước bấy lâu nay trong giấc mơ mà cứ đinh ninh là
thật. Ngẫm chuyện ông Trang Tử hóa bướm ngày xưa rồi hoang mang không
biết mình đang thực hay mơ.
Cái đập vai và giọng nói chua như
dấm của mụ bí thư y như “tiếng chày kình, làm khách tang hãi giật mình
trong giấc mộng”. Tôi ríu ríu theo mụ vào phòng ngủ mà lòng cứ tiếc
giấc mơ sớm tắt. Tôi chưa kịp đi về phía bờ sông Dinh nơi chân cầu có
dải cát trắng ngà, dọc bờ sông, có một làng quê nho nhỏ. Nơi đó có một
người con gái tên Trung hết lòng yêu tôi. Nàng yêu tôi “lắm lựng”.
Nhưng tôi đứng núi này trông núi nọ đã phụ tình nàng. Trong giấc mộng,
tôi hẹn lòng sẽ đi thăm nàng và nói lời tạ lỗi năm xưa.
Nhưng
các cụ ơi! Đàn bà họ có tới cái giác quan thứ bảy lận chớ không phải
sáu cái y như ta tưởng từ xưa tới giờ đâu. Lầm hết. Lầm chết người trên
cạn như chơi. Tôi nằm mơ mà mụ vợ tôi cũng đoán biết tôi đang mơ cái gì
trong đầu. Nhưng mặc. Đã lỡ thì liều luôn. Tôi nằm im bên cạnh mụ nhắm
mắt tơ lơ mơ để tiếp tục giấc chiêm bao tươi đẹp, ngon lành, dang dở.
Ai dè, hai mắt sụp suốt, la siết một giấc cho đến sáng bét. Đến chừng
nghe tiếng nước xối trong phòng tắm rào rào, giật mình phóng xuống
giường, ngó đồng hồ, hai cây kim đang ngấp nghé con số bảy. Chỉ kịp xỏ
bộ đồ xanh lao động, ba chân bốn cẳng phóng ra xe để tiếp tục một ngày
lao động vinh quang.
Tôi lại rõ thêm cái triết lý…cùn: Giấc mơ không đến hai lần!
Cám ơn Ninh Hòa đót com đã cho tôi có được một giấc mơ kỳ thú.
Nguyễn thanh Ty
ngày Giáp Chạp, 20/01/06