Viet Bao - MƯỜNG GIANG - 03-01-2006
Kính tặng hai ân sư Nguyễn Thanh Tùng và Lê Khắc Anh Vũ để hoài niệm về những ngày xưa thân ái tại trường Trung Học PBC/PT
Ngay
từ thế kỷ XVIII, nhờ sự phát triển của hàng hải và kỷ thuật, nên nhiều
nước Âu Châu, như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan..tha hồ
cướp bốc lãnh thổ đất đai của cả thế giới, trong đó có Trung Hoa và Ấn
Độ là hai nước lớn, đã có một nền văn minh cổ lâu đời , trải qua nhiều
thời oai hùng rực rỡ. Thoát tai liếp trên, chỉ có Thái Lan may mắn được
Anh-Pháp chọn làm trái độn giữa hai đế quốc và Nhật sớm tỉnh ngộ canh
tân đất nước, sau khi bị Hạm Đội Hoa Kỳ làm nhục năm 1853. Bởi vậy dù
Nhà Nguyễn có chọn đúng lối đi, không cấm đạo Thiên Chúa và chẳng bế
quan tỏa cảng, thì thực dân Pháp vẫn tìm đủ ngàn lý do khác để xâm
chiếm VN, như chúng đã hành động tại một phần trái đất từ Phi sang Á
tới tận Tân Thế Giới, bởi nước ta lúc đó còn lạc hậu, không đủ sức
chống lại súng đạn Tây Phương.
Xưa nay các sử gia khi viết về
các trang vong quốc sử thời Pháp thuộc, từ lúc đồn Kỳ Hòa thất thủ năm
1862, mở đầu việc ba tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường bị Pháp tạm
chiếm. Lúc đó, các phong trào chống Tây gần như bùng nổ khắp vùng giặc
đóng, do các sĩ phu yêu nước Trương Công Định, Hồ Huân Nghiệp, Thiên Hộ
Dương, Trần Văn Thành, Nguyễn Trung Trực cầm đầu, quyết tâm liều chết
chống giặc xâm lăng tới cùng, để dành lại quê hương xứ sở. Nhưng tại
triều đình Huế, vua Tự Đức vì nhu nhược, đã nghe lời phe chủ hòa, nên
không chịu gởi viện binh vào Nam Kỳ, để hợp sức với các lộ nghĩa quân,
đánh chiếm lại các tỉnh đã mất. Đứng đầu phe chủ hòa lúc đó là Phan
Thanh Giản, nguyên Phó sứ Kinh lược Nam Kỳ kiêm Tuàn phủ Gia Định, coi
ba tỉnh Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long Vì vậy ông được vua cử giữ
chức Toàn quyền đại thần chánh sứ, cùng với phó sứ Lâm Duy Hiệp, vào
Sài Gòn, với mục đích chuộc lại vùng đất Miền Đông đã mất.
Thế
nhưng không biết lý do nào, mà Phan-Lâm lại chuyên quyền, tự ký với
Bonard ( Pháp) và Palanca (Y Pha Nho), hòa ước Nhâm Tuất vào ngày
5-6-1862, cắt 3 tỉnh miền đông và bồi thường chiến phí cho Pháp. Theo
sử liệu còn ghi trong Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, cho biết
lúc đó Vua Tự Đức phẫn nộ vô cùng, nên đã gọi Phan-Lâm là "Tội Nhân
Thiên Cổ". Riêng dân chúng Nam Kỳ và người cả nước, đã không chịu nổi
cảnh quốc phá gia vong, nên căm hận, kết tội Triều Đình và Phan Thanh
Giản là 'Phản Quốc'. Năm 1867 khi Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây còn
lại, khiến Phan Thanh Giản uất ức vì biết mình khờ khạo bị thực dân
phỉnh gạt, nên ông đã uống thuốc độc tự tử, để mong tạ tội với quốc
dân, triều đình và hậu thế. Tuy vậy bia đời vẫn không bao giờ xóa sạch,
dù vua Bảo Đại vào năm 1933, đã ban chỉ phục hồi chức tước và danh dự
cho ông.
'Phan-Lâm phản quốc
Triều đình khi dân
Thà thua xuống láng, xuống bưng
Kéo ra đầu giặc, lỗi chung quân thần' .
Vì
lịch sử không phải là một thứ dĩ vãng chết, mà là sự đúc kết qua các
nghiên cứu và lý giải tất cả những kinh nghiệm sử học, với mục đích làm
gương soi chung cho hậu thế. Lịch sử cũng là một cuộc đối thoại liên
tục giữa quá khứ và hiện tại, mà chính trị đã gọi là thời thế, trong đó
mỗi hoàn cảnh đều dành ra môt khoảng trống khách quan, để thị phi không
ai có quyền cấm cản được. Bởi vậy cho nên Tibor Mender, một triết gia
Pháp mới viết 'thế giới này khọng còn là thế giới của hôm qua, vì đã có
một thế giới khác thay thế nó rồi '.
Nhưng đối với người VN
muôn đời với một nền văn minh,lấy đạo đức làm trung tâm, nên suốt dòng
Việt sử,bao giờ cũng diễn tiến với những ý niệm của đạo đức. Bởi vậy đã
có Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu 'thà làm quỹ nước Nam, không thèm làm
vương đất Bắc' . Nguyễn Đình Chiểu vừa mù vừa điếc vẫn làm thơ giết
giặc, ca tụng các anh hùng liệt nữ đất Nam Kỳ chống giặc Pháp xâm lăng.
Nguyễn Thái Học và các thủ lãnh khác của VN Quốc Dân Đảng,trên đoạn đầu
đài của giặc Pháp vẫn cười vui dũng liệt, làm cho giặc phải kinh sợ về
tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt. Đó là đạo đức, đã theo
dòng lịch sử chan hòa trong trái tim Việt, thà chảy máu rơi đầu, chứ
không để cho giặc xâm lăng chiếm đất đai của Tổ tiền bao đời gầy dựng.
Mang
tội chủ hòa để mất Nam Kỳ vào giặc Pháp, mở đầu một thế kỷ quốc phá gia
vong nhưng Phan Thanh Giản không phải như bọn Việt gian phản quốc Tôn
Thọ Tường, Đổ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, một lũ khoa bảng trí thức nhưng
không có trái tim người, vì vinh hoa phú quý, cam tâm làm tay sai cho
giặc Pháp đề tàn hại quê hương và đồng bào mình. Bởi vậy lịch sử tuy có
khe khắc với Phan Thanh Giản về những lỗi lâm quá khứ, nhưng vẫn nghiêm
minh trọng kính ông như bao bậc sĩ phu khác vì liệt nghĩa dám tự chết
để rửa nhục cho con cái và thanh danh liêm chính trung thần của chính
mình..
1-THỰC DÂN PHÁP XÂM LĂNG VN VÀO THỜI NHÀ NGUYỄN :
Trong
dòng sử Việt, mỗi khi nhắc tới sự nghiệp mở đất dựng nước của dân tộc
Hồng-Lạc, không ai là không ca tụng tới công đức của Các Vị Chúa Nguyễn
ở Đàng Trong, từ Nguyễn Hoàng tới Nguyễn Phúc Khoát, đã cho chúng ta
một giang sơn cẩm tú ngày nay. Năm Nhâm Tuất (1802), Chúa Nguyễn Phúc
Ánh đã thống nhất được đất nước sau 300 nội chiến loạn lạc. Cũng từ đó,
trải qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Nhà Nguyễn
đã mở mang kinh tế đất nước, bằng chính sách doanh điền và dinh điền,
đắp đê ngăn ngừa lụt lội tại vùng đồng sông Hồng và Thái Bình, giúp dân
chúng phát triển nông nghiệp vốn là nguồn lợi chủ yếu của người Việt cả
nước.
Đời vua Minh Mạng, ngoài những chiến công hiển hách, làm
cho đất nước VN lúc đó cơ hồ chiếm trọn bán đảo Đông Dương. Vua còn cho
thử nghiệm thuyền chạy trên sông, gắn máy hơi nước. Khắp nơi nhất là ở
Nam Phần đã xây dựng được một hệ thống kênh đào chằng chịt, nới liền
các nhánh sông Cửu Long, Vàm Cỏ và Đồng Nai, vừa dẫn nước tưới ruộng
vườn, đồng thời cũng là thủy lộ thông thương các tỉnh tới Gia Định
thành. Đường bộ cả nước cũng được mở mang nhất là Quan Lộ hay Đường
Trạm, được mở rộng chạy thông suốt từ Hà Nội vào Huế và Gia Định. Các
đơn vị đo lường và tiền tệ cũng được thống nhất, giúp cho việc buôn bán
trong nước thêm phát đạt.
Nhà Nguyễn cũng là triều đại đã phát
hành nhiều văn hóa phẩm nhất VN trong dong lịch sử, với đủ thể loại từ
văn chương, địa lý, biên khảo, các tài liệu liên quan tới y học, luật
pháp ngoại giao..do Sử quán triều Nguyễn biên soạn ngày nay còn lưu lại
hơn vài trăm bộ trấn quý giá trị ,như bộ Đại Nam Nhất Thống Chí biên
soạn địa lý lịch sử cả nước. Những đỉnh cao trong nền văn học VN, phần
lớn đều phát từ Nhà Nguyễn như Vua Minh Mạng, Tự Đức, Nguyễn Du, Tuy Lý
Vương, Tùng Thiện Vương, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ,
Nguyễn Thông, Phan Thanh Giản, Nguyễn Tư Giản..Ngay tại kinh đô, thời
vua Minh Mạng đã có mở Dịch Quán, chuyên dạy các ngoại ngữ của đồng bào
sắc tộc trong nước lúc đó như các thổ âm Mướng, Mán, Nùng, Thổ, Thái,
Mèo, Chàm và Khờ Me cho các quan lại, để dễ giao tiếp với các địa
phương khi tới trấn nhậm.
Về quân sự, quân đội của nước ta bao
đời phải lo ngăn chống giặc Tau phương Bắc, nên lúc nào cũng được đặt
trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu để đương đấu với mọi bất trắc hiểm
nguy. Tuy là một dân tộc đa dạng nhưng biết tổ chức, linh động, có kỹ
thuật tác chiến cao, cộng với tinh thần yêu nước nồng nàn của triệu
người dân cả nước, nên luôn thực sự là một lực lượng hùng hậu, đã chu
toàn trách nhiệm dựng, giữ nước và bảo vệ tài sản cùng đời sống hạnh
phúc của đồng bào.
Quân đội nhà Nguyễn là sự nối tiếp quân đội
của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Thời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu
(1614-1635), quân sĩ đã tăng từ 30.000 lên tới 160.000 người. Về tổ
chức, từ thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), quân đội được
phân thành ba loại: Quân Cấm Vệ đóng tại kinh thành Phú Xuân, quân
Chính Quy đóng thường trực khắp lãnh thổ Nam Hà, từ 5 dinh ban đầu - 12
dinh sau khi bình định xong Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp. Tại các địa
phương còn có Thổ binh lo giữ an ninh bản địa. Quân túc vệ từ năm 1744
được Nguyễn Phúc Khoát chia thành 2 tiệp 'tả và hữu' và được gọi là Dục
Lâm Quân, được tuyển chọn trong hàng ngũ dành cho con cháu các quan
lại, quý tộc họ Nguyễn và Tống, có gốc từ Tống Sơn-Thanh Hóa.
Về
quân Chính quy được phân thành Dinh, Cơ, Đội, Thuyền,được cấp nhiều
ruộng hơn dân thường. Riêng Thổ binh được miễn sưu thuế. Quân đội lại
chia thành nhiều binh chủng, được trang bị đầy đủ và hùng hậu. Ngay từ
thời Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên, đã có xưởng đúc súng, trường bắn và
trường huấn luyện voi ngựa trong chiến trận. Tại kinh đô, đã lập ra Ty
Nội Pháo Tượng, phụ trách việc đúc súng thần công đại bác và các loại
súng hỏa mai. Về Hải quân, có khoảng 300 chiến thuyền và Hải Quân Đại
Việt, do Thế tử Nguyễn Phúc Tần chỉ huy, đã từng đánh bại Hạm đội Y Pha
Nho tại hải phận Hội An vào năm 1643, làm đắm 3 tàu chiến của giặc.
Quân
đội Nhà Nguyễn (1802-1858) được tổ chức theo các cơ cấu của Nam Hà buổi
trước nhưng có phần qui mô hơn vì đất nước đã thống nhất . Quân đội
được chia thành 5 quân (trung, tiến, hậu, tả, hữu) , chỉ huy bởi các
quan võ Chưởng Phủ Sứ Đô Thống, Thống Chế và Chưởng Vệ. Tại kinh đô Huế
có Doanh và Vệ, gồm 10 đội. Tại tỉnh có Cơ. Lính cũng chia thành ba
loại: Thân binh bảo vệ Hoàng gia, Cấm Binh phòng thủ Hoàng Thành và
Tinh Binh, thường trực tác chiến từ kinh đô tới các tỉnh Bộ binh được
tổ chức phức tạp, đứng đầu có các quan Thương Thơ, tả hữu Tham Tri, Thị
Lang và các Võ tướng, có trách nhiệm điều động quân đội cả nước. Trực
thuộc Bộ binh, còn có các Ty Vũ tuyển, Kinh kỳ, Trực tỉnh, Binh Trực sử
và Khảo Công.
Về các binh chủng, bộ binh có chừng 113.000
người, trong số này có 30 Vệ pháo và 16 Vệ tượng binh, chừng 200 voi
trận. Về Thủy quân có 17.000 người, với 200 chiến thuyền, được trang bị
từ 16-22 khẩu đại bác trên mỗi chiếc. Còn có 100 tàu lơn, đặt nhiều
súng đại bác và súng bắn đá + 500 tiểu thuyền, mỗi chiếc chỉ có 1 đại
bác nhưng nhiều súng bắn đá . Theo nhận xét của các sử gia sau này, tuy
quân đội nhà Nguyễn rất mạnh so với các nước trong vùng, nhưng thiếu
luyện tập, còn vũ khí đem so với thực dân Pháp và các nước Tây phương
thời đó thì lạc hậu, nên nước ta mau chóng mất chỉ sau một vài cuộc
đụng độ với giặc.
Thực tế lịch sử đã minh chứng 'Vua Tự Đức và
triều đình Huế ' lúc đó đã khiếp nhược trước súng đạn của giạc Tây, nên
chưa đánh đã chủ hòa, đầu hàng, trong lúc toàn dân cả nước không hề
chịu sống nhục nhã dưới gót giầy đô hộ của ngoại xâm. Nên gần như cả
nước đứng dậy chống Pháp qua các phong trào Văn Thân, Cần Vương, mà mở
đầu là Trương Công Định, Võ Duy Dương..nối tiếp Phan Đình Phùng, Đinh
Công Tráng, Hoàng Hoa Thám, Ung Chiếm, Bùi Hàng, Nguyễn Thái Học, Phan
Bội Châu..
Nói chung nhiều thế hệ VN chen vai nối tiếp quyết tử
chiến, đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước mình.. Được như vậy là vì
dân tộc VN tự ngàn xưa đã có truyền thống về một niềm tin lịch sử, phát
sinh tình yêu nước nồng nàn trong mọi trái tim nhân ái của nòi giống
Việt. Một nhà văn Ý, A.
Pazzi trong tác phẩm 'Người Việt cao
qui' đã không tiếc lời ca tụng Dân Việt tự cường bất khuất, đã khiến
một nước bé nhỏ, lại trở thành mạnh nhất ở Nam phương, khiến Trung Hoa
to lớn, qua các triều đại cường mạnh như Tống, Nguyên, Minh, Thanh..đều
đại bại nhục nhã khi tới xâm lăng gây chiến tại non sông Hồng-Lac. Hầu
hết kẻ thù của dân tộc Việt sau khi chiến bại, mới bắt đầu thấy được
cái sức mạnh phi thường ấy, nhất là lúc dân chúng lầm than khổ hận, lại
bị chèn ép vào sát tường, là lúc cái sức mạnh quãt khởi oai hùng nhất
của dân Việt tự phát, sẽ không có một sức mạnh nào ngăn cản được.
'gươm mài đá, đá núi cũng mòn
voi uống nước, sông nào cũng cạn
đánh một trận sạch không kinh ngạc
đánh hai trận tan tác chim muông ..'
Đó
là ý chí quyết thắng mà Nguyễn Trãi đã gợi lại trong thiên hùng ca '
Bình Ngô Đại Cáo', đã giúp Bình Định Vương Lê Lợi quét sạch giặc Minh
ra khỏi bờ cõi Đại Việt. Ý chí quyết thắng đã giúp cho Hưng Đạo Vương
và các vị vua Trần, tiêu diệt được đè quốc Nguyên-Mông, hùng mạnh nhất
thế giới thời đó, mà biểu tượng còn ghi trong lời thơ sang sảng cao
ngất hùng khí của Thượng tướng Trần Quang Khải, ngất ngưởng ngâm vang
giữa chốn ba quân trong ngày vui chiến thắng:
'Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan ..'
Ý
chí đó chẳng riêng gì nam giới, mà người Chinh phụ Việt cũng ấp ủ trong
hồn, đã có sẵn từ thời mở nước ' Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Chàng sầu xa tìm cõi thiên san, Múa gươm rượu tiễn chưa tàn, Chỉ ngang
ngọn giáo vào ngàn hang beo ..' Chính ý chí tất thắng của dân tộc Việt,
đã bao đời xây dựng thành Nam Quốc Sơn Hà., như một sức mạnh giúp cho
mọi người bám lấy đất, qua hai cuộc đô hộ của Tàu và Pháp, nên không bị
đồng hóa và tiêu diệt.
Rốt cục, vì thiếu ý chí phấn đấu, nên
Vua Tự Đức và triều đình Huế khiếp nhưọc run sợ trước sức mạnh của Pháp
nên đầu hàng giặc, biến thành bọn vua chúa bù nhìn từ sau Hòa ước Giáp
Thân 1884 khi vua Tự Đức băng hà. Cũng từ đó, khắp mọi nơi trên đất
Việt, chỉ còn những cuộc kháng chiến chống giặc Tây của đồng bào mà
thôi. Mất ý chí, trí thức khoa bảng trở thành hèn mạt mà tiêu biểu là
Tôn Thọ Tường, đã thố lộ trong bài Tự Thuật 1 ' Giang sơn ba tỉnh hãy
còn đây. TRời đất xui chi đến nỗi này ? Chớp nhoáng thẳng bon dây thép
kéo. Mây tuôn đen kịt khói tàu bay. Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc.
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay'.
2-THÁI ĐỘ CHỦ HÒA CỦA PHAN THANH GIẢN LÀM MẤT NAM KỲ:
Theo
các nguồn sử liệu còn lưu trữ tới ngày nay, thì Phan Thanh Giản suốt
đời làm quan, trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, chỉ
biết có tận tụy, phục vụ cho dân nước với đức tính thanh liêm cần mẫn.
Ông là người Minh Hương, tổ phụ vì không tuân phục nhà Mãn Thanh, nên
sang VN lập nghiệp tại phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau đó vào Nam
sinh sống. Phan Thanh Giản là con của Phan Thanh Tập và Lưu thị Bút làm
thư lại ở Vĩnh Long.
Ông sinh tại làng Tạn Thạnh, phủ Định
Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri-Bến Tre), vào ngày 12-10 năm
Bính Thìn (1796). Dù me mất sớm lúc lên bảy nhưng ông vẫn được ăn học
và rất chăm chỉ siêng năng. Năm được 20 tuổi thì cha bị người vu cáo
phải vào tù, ông lên tỉnh xin quan Hiệp Trấn cho mình lãnh tội thế cha
già. Cảm động trước tấm lòng hiếu đễ, nên vị quan đó đã nuôi ông ăn học
thành tài. Năm 1825, Phan Thanh Giản thi đổ cử nhân tại Gia Định thành
và là người đầu tiên của đất Nam Kỳ lục tỉnh đậu Tiến sĩ tại Huế khoa
thi 1826.
Ông tự là Tịnh Bá, hiệu tư Đạm Như và Lương Khê, biệt
hiệu Mai Xuyên, bắt đầu con đường họan lộ vào thời vua Minh Mạng, với
chức vụ đầu tiên là Hàn lâm biêm tu rồi Lang trung bộ Hình (1627). Cũng
từ cuộc phong trân trong chốn quan trường đưa đẩy Phan lần lượt đi khắp
cõi Đại Việt, từ Bắc-Trung-Nam,Phó sứ sang Thanh (1832), Cơ mật viện
đại thần 1834) nhưng gần như sạch láng, vào năm Minh Mạng 17 (1836),
khi đang làm Tuần Vũ Quảng Nam thì bị nịnh thần Võ duy Tạo vu cáo tham
nhũng, bị vua giáng chức xuống làm lính quét dọn bàn ghế ở nơi công
cộng. Thời Thiệu Trị, ông được vua trọng vọng, sung chức Phó chủ khảo
trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô Sát viện (1847) rồi Hình
bộ thượng thư.
Khi vua Tự Đức trị vì (1847-1884), đất nước gặp
nhiều khó khăn vì thiên tai bão lụt mất mùa, giặc giã nổi lên như ong
khắp nơi, nhất là sự xâm lăng của thực dân Pháp, lấy cớ nước ta cấm đạo
và giết hại giáo dân đạo Thiên Chúa. Vì là một đại thần từng trải qua
ba đời vua, nên vai trò của ông nổi bậc hơn bao giờ hết, khi được vua
tin tưởng phong chức Phó sứ kinh lược Nam kỳ,kiêm Tuần phủ Gia Định,
coi luôn ba tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Vĩnh Long và Định Tường.
Tháng
2 năm 1859, quân Pháp chiếm được thành Gia Đinh, nhưng Trương Công Định
đã đem dân quân, từ đồn điền Gia Thuận (Gò Công), lên Thuận Kiều cứu
viện. Ngày 25-2-1861, đồn Chí Hòa bị quân Pháp chọc thủng, quân triều
đình phải rút về Biên Hòa. Riêng Trương Định cũng lui quân về lập chiến
khu chống giặc tại Tân Hòa, Gò Công.
Đây là một căn cứ kháng
chiến mạnh nhất thời bấy giờ tại Nam Kỳ, dù không có được vị thế hiểm
trở như các chiến khu Đồng Tháp của Võ Duy Dương hay các nơi khác tại
Trung và Bắc Việt. Do tấm lòng yêu nước nồng nàn, Trương Định đã chống
lại lệnh của Triều đình Huế bãi binh và tới An Giang làm lãnh binh. Ong
ở lại củng cố và biến Tân Hòa thành một mồ chôn xác giặc.
Chiến
khu bao gồm một vùng đất rộng, phiá tây lên đến Giòng Ông Huê, phiá bắc
có chiến lũy Đông Sơn, nằm dọc theo Rạch Lá, Sông Tra. Về phía đông
nam, tới tận cửa Tiễu và bờ biển. Đại bản doanh đóng tại Giòng Sơn Quy
có chiến lũy đắp bằng đất cao hơn 1m bao quanh, tiếp nối với tiền đồn
Dung Giang, chạy vòng theo rạch Gò Công, bảo vệ Sơn Quy.
Tướng
Palanca, chỉ huy liên quân Pháp-Tây Ban Nha, nhận xét rằng, chiến lũy
Gò Công có hai vị trí kiên cố và hiểm trở, đó là Dung Giang và Đông
Sơn, đã gây rất nhiều thiệt hại cho quân viễn chinh. Còn một sĩ quan
người Nga trong đơn vị Lê Dương Pháp cũng viết: "Gò Công là một đồn
trại lớn, được xây doing kiên cố, trong căn cứ có 40 doanh trại và
nhiều hầm tránh."
Nguyễn Thông, trong Độn Am văn tập, có viết
Lãnh Binh Trương Định truyện. Đây là một tài liệu lịch sử rất giá trị,
vì Nguyễn Thông, chính là người đương thời, viết về các nhân vật yêu
nước lúc đó, đang kháng chiến chống Pháp như Trương Định, Hồ Huân
Nghiệp. Ong viết: "tại các nơi hiểm yếu, đều có quân phòng giữ, còn
Trương Định lãnh đại quân, đóng tại Gò Công. Những ngã đường dẫn vào
chiến khu, đều có đồn bót canh giữ cản giặc Pháp. Trong đồn có súng đại
bác. Tóm lại qua tài trí của Trương Lãnh binh, quân dân đã chiến đấu
với giặc Pháp thật dũng mãnh, tạo nhiều chiến công hiển hách làm quân
địch khiếp sợ. Cuối cùng thực dân phải dồn hết lực lượng viễn chinh mới
hạ được phòng tuyến.
Ngày 20-8-1864 Trương Định đền xong nợ
nước, lúc vừa mới 44 tuổi. Danh tiếng và nghĩa khí của ông lưu danh
thiên cổ: 'Trong Nam tên họ, nổi như cồn Mấy trận Gò Công để tiếng đồn
Dấu đạn làm rêm tàu Bạch quỹ Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn..'
Giữa
lúc quân lính và nghĩa binh còn đang nức lòng tử chiến tại sa trường,
thì trong triều đình Huế bàn cãi xôn xao giữa hai phe chủ hòa và chủ
chiến. Cuối cùng vua Tự Đức vì nhu nhược nên ngả theo phe chủ hòa, do
Phan Thành Giản làm thủ lãnh. Vì vậy Tự Đức mới cử ông giữ chức Toàn
quyền đại thần, làm chánh sứ cùng Lâm Duy Hiệp là phó sứ, vào Gia Định
thương thuyết với cấp chỉ huy của Liên quân Pháp-Y Pha Nho, để xin
chuộc lại ba tỉnh miền Đông bị Pháp tạm chiếm lúc đó là Gia Định, Biên
Hòa và Định Tường.
Chiếu lệnh của vua và triều đình là vậy
nhưng không biết vì lý do nào xui khiến, Phan Thanh Giản cùng Lâm Duy
Hiệp, đã ký với Bonard (Pháp) và Palanca (Y Pha Nho), Hòa Ứơc NHÂM
TUẤT, vào ngày 5-6-1862. Hòa ước này có 12 khoản, trong đó Điều 3 'VN
cắt ba tỉnh Miền Đông là Gia Định, Biên Hòa, Định Tường' nhượng đứt cho
Pháp. Ngoài ra còn ký thêm Điều 8 'phải bồi thường cho giặc, chiến phí
4 triệu Phật lăng (Franc), trả trong vòng 10 năm. Sự kiện trên, chẳng
những làm mất đát đai của tổ tiên đã gầy dựng bằng núi xương sông máu,
suốt 300 năm qua, khiến cho vua Tự Đức, nổi trận lôi đình, nên đã xỉ vả
Phan-Lâm là ' Tội Nhân Thiên Cổ '.
Sau khi hòa ước Nhâm Tuất
(1862) được công bố, nhượng ba tỉnh miền đông cho thực dân Pháp, làm
cho dân chúng cả nước và nhất là tại Nam Kỳ rất phẫn hận trước cảnh
quốc phá gia vong. Mọi người kết tội Triều đình Huế nhu nhược và Phan
Thanh Giản là người đã chủ hòa dâng đất cho giặc, nên đã có câu vè
truyền tụng khắp dân gian:
"Phan-Lâm mãi quốc
Triều đình khi dân"'
Tháng
8-1867, toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, Phan Thanh Giản
uống thuốc độc tử xử, để tạ tội với quốc dân vì sự lầm lẫn của mình.
Lịch sử sau này có phê phán nặng về ông nhưng không hề xếp Phan Thanh
Giản vào chung với bọn phản tặc thời đó như Tôn Thọ Tường, Đổ Hữu
Phương, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, vì ông không
hề có ý định phản bội đất nước, mà chỉ vì quá khiếp nhược trước sức
mạnh cơ khí của giặc, nên đi theo con đường hòa nghị. Rốt cục giặc vẫn
hung hăng cưỡng chiếm hết Nam Kỳ bằng võ lực.
Mới đây tại kho
lưu trữ hồ sơ mật của Pháp ở Paris, các nhà nghiên cứu VN tìm được ba
bức thư, mang ký hiệu Fonds Berryer - 223AP.17.d.2, đề ngày 19-9-1863,
28-9-1863 và 10-10-1863, từ Nam Kỳ gởi cho Nghị sĩ Berryer, vốn là một
luật sư, phát ngôn viên chính thức của Hạ Viện Pháp. Đại ý cả ba bức
thư, yêu cầu Hoàng đế Pháp đừng triệu hồi quân viễn chinh Pháp đang
trên đà chiến thắng về nước. Đừng cho Phái bộ Phan Thanh Giản chuộc lại
ba tỉnh đã mất. Đưa ra những nguồn lợi và tài nguyên của Nam Kỳ và kết
luận phải chiếm toàn bộ 6 tỉnh miền Nam, nêu không các nước khác sẽ đến
tranh phần. Nói tóm lại, thái độ chủ hòa của triều đình Huế lúc đó chỉ
là một hành động dư thừa và nhẹ dạ trước một nước đại thực dân như Pháp.
Trước
cảnh quốc phá gia vong, một số lớn sĩ phu Nam triều tại 6 tỉnh đã mất,
không chịu quy hàng và hợp tác với Pháp, nên đã ra Bình Thuận tị địa,
tiếp tục cuộc kháng Pháp. Tiêu biểu trong số này có Nguyễn Thông,
Trương Gia Hội, Trần Thiện Chánh, Trà Quý Bình.
Năm 1862, Triều
đình ký hiệp ước nhường đứt ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho giặc, đồng
thời ngăn cản quân dân tiếp tục chống quân thù. Hành động trên đã gây
nhiều căm phẫn trong nước nên các sĩ phu đã bất tuân lệnh và do đó cuộc
kháng Pháp đã tiếp diễn thật dữ dội, trong số này Lãnh Binh Trương công
Định là tiêu biểu nhất. Giai đoạn này, Nguyễn Thông đang giữ chức Đốc
học Vĩnh Long.
Ngày 19-8-1864, Trương Định bị tên việt gian
phản tặc Huỳnh Công Tấn sát hại. Thi hài Ong được chôn tại Gò Công
nhưng lại bị Pháp san bằng mồ mã, cho tới năm 1956 Chính phủ VNCH mới
trùng tu lại và chiếu theo sắc phong của vua Bảo Đại trước năm 1945 là
'Đại Nam, Thần Dũng Đại Tướng Quân'. Trong dịp này, nhiều sĩ phu trong
nước cũng như cụ Đồ Chiểu, có viết nhiều thi văn phúng điếu người anh
hùng bất khuất.
Năm 1867 Pháp lại tấn chiếm ba tỉnh miền tây
còn lại là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Uất hận vì bị Pháp lừa gạt
và dân chúng cả nước nguyền rủa vì thái độ chủ hòa khiếp nhược, Phan
Thanh Giản uống thuộc độc tự tử. Tuy Nam Kỳ đã mất về tay Pháp nhưng
cuộc kháng Pháp vẫn tiếp diễn khắp nơi, duới sự lãnh đạo của hai con
Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm, Nguyễn Xuân Phụng, Võ Duy
Dương, Thủ Khoa Huân, Nguyễn trung Trực..với nhiều chiến công rực rỡ,
nay vẫn còn lưu dấu: 'Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa Kiếm bạc Kiên
Giang, khấp quỹ thần.'
Như tằm ăn dâu, Pháp biết VN lúc đó rất
suy yếu về quân sự cũng như ý chí, nên lại tấn công Bắc Kỳ. Thành Hà
Nội thất thủ lần thứ I (1873), Nguyễn Tri Phương và con là phò mã Lâm
tử trận. Phần lớn các tỉnh lân cận đều lần lượt lọt vào tay Pháp. Ngày
15-3-1874, triều đình Huế lại ký với Pháp hòa ước Giáp Tuất, liên quan
tới Bắc thành, nhưng cuối cùng Pháp lại thất hứa và đánh chiếm Hà Nội
lần thứ 2 (1882), tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo gương Nguyễn Tri
Phương.
Giữa lúc nước nhà đang nguy ngập và rối ren bi thiết,
thì vua Tự Đức lại băng hà ngày 16-6-1883 (Quý Mùi), khiến triều đình
Huế trở thành vô chủ, mặc cho Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tự
chuyên phế lập các vị vua Dực Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi.
Ngày
nay nhắc tới Phan Thanh Giản, mọi người không quên Văn Xương Các ở Vĩnh
Long,được xây dựng trước khi ông uống thuốc độc tự vẫn năm 1867. Buôi
đó, Chiêu Anh Các ở Hà Tiên, Bình Dương thi xã ở Gia Định, Bạch Mai thi
xã ở Chợ Lớn và Văn Xương Các tại Vĩnh Long, là những thi đàn nổi tiếng
khắp nước.
Vào năm 1864, khi ba tỉnh miền đông rơi vào tay
giặc Pháp. Các sĩ phu yêu nước tại Biên Hòa, Gia Định và Định Từng
không chịu đầu hàng và hợp tác với kẻ thù, nên kéo hết về Vĩnh Long tị
địa. Từ đó mọi người xây dựng Văn Thánh Miếu, đồng thời thành lập Văn
Xương Các ở làng Long Hồ, thuộc tỉnh Vĩnh Long, hầu thay thế Văn Miếu
Gia Định. Công trình này do Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông khởi công
năm Giáp Tý 1864 và hoàn thành năm Bính Dần 1866.
Văn Thánh Miếu
và Văn Xương Các nằm chung trên một địa điểm, sau cổng tam quan, phía
trái là Miếu , bên phải là Văn Xương Các còn được gọi là Tuý Văn Lầu
hay Thơ Lầu, là nơi khách tao nhân tụ hội bình thơ, xướng họa và dạy
học. Thơ lầu lúc đầu làm bằng gỗ, về sau xây gạch, nóc lợp ngói ống, có
lầu nhỏ làm bằng gỗ quý, thờ các vị tiên hiền trong Khổng học. Tầng
dưới là nơi hội họp của các sĩ phu miền tây Nam Kỳ. Trong Văn Xương Các
còn là nơi thờ cúng Võ Trường Toản, là vị thầy đầu tiên của Đàng Trong
thời chúa Nguyễn Anh tẩu quốc. Ong đã đào tạo nhiều môn sinh sau này
trở thành đại quan của nhà Nguyễn như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê
Quang Định..
Bởi vậy khi mất ba tỉnh miền đông Nam Kỳ, Phan
Thanh Giản và Nguyễn Thông đã bốc mộ Võ Trường Toản, về chôn tại Ba
Tri, Bến Tre, đồng thời đem bài vị cụ vào thờ trong Văn Xương Các-Vĩnh
Long. Sau này, các vị Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phan văn Trị,
Huỳnh Mẫn Đạt..cũng được phụng thờ tại đây.
Hiện trong Các còn
lưu lại nhiều câu đối từ thời Vua Gia Long ban khen cho Võ Trường Toản
như 'Hoàng phong xử sỉ phong cao lão-Tự hiệu thơ sanh tiết liệt thần'.
Năm 1933, vua Bảo Đại phục hồi nguyên chức và danh dự cho Phan Thanh
Giản, đồng thời còn truy phong là ' Đoan túc dực bảo trung hưng tôn
thần'.
Lúc sinh thời, Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông thường
tới Thơ Lầu, để cùng các tao nhân mặc khách khắp sáu tỉnh Nam Kỳ, ngâm
vịnh xướng họa và luận bàn chính sự. Trong số này nổi bật hơn hết có
Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị.. Văn đàn
Vĩnh Long tan rã nhưng tinh thần văn học yêu nước vẫn được nuôi dưỡng
và phát triển thành một phong trào to lớn khắp dân gian. Nhờ vậy ngày
nay chúng ta mới có được những tác phẩm Lục văn Tiên, Dương Từ Hà Mâu,
Văn Tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Đồ Chiểu cũng như những bài thơ khí sắc
hào hùng chống giặc của Cử Trị, Thủ Khoa Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt..
Trải
qua hơn 135 năm. Văn Xương Các cùng chịu chung số phận thăng trầm của
vận nước nhưng chắc chắn ngàn đời sau vẫn không xóa nhòa nổi những tên
tuổi sáng lập như Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông và nhiều thế hệ nối
tiếp làm rạng danh sĩ phu Nam Kỳ mà ai cũng biết tới như Nhiêu Tâm,
Trần Ngọc Lầu, Nguyễn Hữu Đức, Thượng Tân Thị, Nhập Vương Thị, Tống Hữu
Định, Trương Duy Toản..
3- PHAN THANH GIẢN ĐI SỨ SANG TÂY CHUỘC LẠI BA TỈNH ĐÃ MẤT:
Tự
Đức thứ 16, nhằm năm Quý Hợi (1863), triều đình Huế cử Phan Thanh Giản
làm chánh sứ, hướng dẫn một phái đoàn sang Y Pha Nho và Pháp, xin chuộc
lại ba tỉnh miền Đông đã mất tại Hòa ứơc Nhâm Tuất (1862). Cùng đi còn
có Pham Phú Thứ (Phó sứ) và Ngụy Khắc Đản (Bồi sứ) , cùng đoàn tùy
tùng. Sứ bộrời Huế ngày mùng 6 tháng năm , Quý Hợi (21-6-1863). Ngày
13-9-1863 tới Paris, 15-11-1863 Madrid và rời Tây Ban Nha ngày
22-11-1863. Do đó Sứ bộ VN phải ăn Tết Nguyên Đán tại Hải cảng Aden
trên Hồng Hải, lúc đó là thuộc địa của Anh Cát Lợi.
Việc này
đã được Phó sứ Phạm Phú Thứ, viết tờ trình bằng chữ Hán, báo cáo lên
Vua Tự Đức. Theo sử liệu còn lưu trữ, thì sứ bộ của Phan Thanh Giản mục
đich sang Pháp, để gặp Hoàng Đế Nã Phá Luân đệ tam, để điều đình việc
chuộc lại 3 tỉnh miền Đông đã mất. Nhưng Phan Thanh Giản cùng Sứ bộ
chầu chực tại Paris hơn hai tháng, nhưng không có thâu đượm được kết
quả gì, vì dã tâm của thực dân lúc đó, là chỉ muốn chiếm trọn VN để làm
thuộc địa mà thôi.
Về nước dù bị mang tiếng làm mất đất và thất
bại khi đi sứ sang Pháp, Phan Thanh Giản vẫn còn được vua Tự Đức trọng
dụng, làm chức kinh lược sứ Nam Kỳ kiêm Tổng đốc Vĩnh Long. Theo tài
liệu còn ghi trong thơ văn của Phan Thanh Giản, Quốc triều chánh biên
toát yếu của Sử quán nhà Nguyễn, Bullentin des Amis du Vieux Huế
(1928), thì Thái độ của Phan Thanh Giản khi tự chuyên đặt bút ký Hòa
ước Nhâm Tuất (1862) nhưng đứt 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ cho Pháp là một
hành động có ý thức, xuất phát từ đường lối của phe chủ hòa do ông đề
xướng và ca tụng.
Hành động này càng lộ nét hơn sau khi đi sứ
thất bại từ Pháp trở về. Lúc này thì ý chí chiến đấu của một đại quan
nhận lãnh trách nhiệm đối với dân-nước, coi như đã tan biến trước sự
choáng ngợp, của nền văn minh cơ khí tại Pháp và Tây Ban Nha mà ông tận
mắt nhìn thấy khi đi sứ "Bá quan xảo kế tề thiên điạ. Duy hữu tử sinh
tạo hóa quyền . Trăm món khéo bằng tay thợ tạo. Duy còn sống chết chịu
thua trời' .
Bị nằm chờ chực trên đất Pháp suốt 2 tháng để ôm
thất bại về nước nhưng Phan Thanh Giản vẫn chưa tỉnh ngộ, trước dã tâm
cướp nước Việt của giặc Pháp. Đã vậy ông còn để nghị với vua Tự Đức
đừng gây chiến tranh mà phải nghị hòa với Pháp, mới mong giữ được nước.
Lời tâu này đã bị triều đình Huế cự tuyệt, cho nên ông mới thốt ra
những lời khiếp sợ 'Từ ngày đi sứ tới Tây kinh. Thấy việc Âu châu phải
giật mình. Kêu rủ đồng bang mau thức dậy. Hết lời năn nỉ chẳng ai tin
'.
Sau khi đã ký hòa ứơc, dù bị triều đình và dân chúng phẩn
nộ, Phan Thanh Giản vẫn biện minh ' Tôi cân nhắc hành động của tôi, vì
tình hình lúc đang thương thuyết gay go đến nổi, nếu tôi không nhận
những điều kiện đó, thì sự thương thuyết sẽ không còn nữa. Ông còn nói
với Nguyễn Tri Phương ' Ký hòa ước xong rồi, tứ nay ngồi mà hưởng phú
cường' . Rồi khi bị Vua quở trách và nhân dân ta thán, ông lại thanh
minh tại sao chon thái độ chủ hòa, trong lúc quân lính và toàn dân Nam
Kỳ đang tử chiến với giặc, nên viết 'Lo nổi nước kia còn phiến biến.
Thương bề dân nọ cuộc giao binh'.
Tháng 6 năm 1867, đương lúc
giữ chức Kinh lược sứ Nam Kỳ và Tổng đốc Vĩnh Long, thì nhận được tối
hậu thư của tên thực dân De Lagrandière, buộc ông phải nhường luôn ba
tỉnh miền Tây còn lại của Nam Kỳ cho giặc. Rồi giữa lúc đang nghị hòa,
thì thành Vĩnh Long đã bị Pháp chiếm ngày 20-6-1867, kế tới là Châu Đốc
(22-6-1867) và Hà Tiên (24-6-1867). Như vậy chỉ vỏn vẹn có 5 ngày, ba
tỉnh còn lại của Nam Kỳ mất hết. Tất cả chỉ vì trúng gian kế của giặc,
nên thờ ơ không phòng thủ, vì vậy Pháp mới chiếm được các thành trì của
ta quá dễ dàng, có nhiều chỗ không tốn một viên đạn.
Khi Phan
Thanh Giản tỉnh ngộ thì đã quá muộn, chỉ còn biết bó tay trước bạo lực
của kẻ mạnh. Phần hô thẹn trước đường lối nghị hòa thất bại, lại lo cho
nước nhà nguy khôn vì đất Nam kỳ đã mất. Cuối cùng để tạ tội với vua,
đồng bào và hậu thế, Phan Thanh Giản tự tử bằng độc dược, sau khi đã
nhịn đói 17 ngày mà không chết. Lúc đó nhằm ngày mùng năm tháng bảy,
năm Đinh Mão (1867), năm Tự Đức thứ XX, đúng 71 tuổi.
Ông mất
nhưng không yên mồ vì triều đình Huế nghị án, cả quyết Phan Thanh Giản
vì khiếp nhược nên mới nhượng đất Nam Kỳ một cách dễ dãi cho giặc Pháp.
Vì vậy vua Tự Đức đã xuống lệnh lột hết chức tước, kể cả tên khắc trên
bia tiến sĩ tại kinh thành Huế, cũng bị đục bỏ. Trong lúc đo, hai con
trai của Phan Thanh Giản là Phan Liêm (Phan Thanh Tòng) và Phan Tôn, đã
cầm đầu nghĩa quân tại Bến Tre để chống giặc Pháp. Cuối cùng hai người
đều hy sinh vì nước tại Giồng Gạch, cách Ba Tri chừng 2 cây số nhưng
tên tuổi của hai ông muôn đời vẫn sống mãi trong thanh sử.
Cảm
thương cho người vì nước, chỉ vì đi sai đường hướng mà mang nổi oan
khiên, nên năm 1886 vua Đồng Khánh đã ban chỉ khôi phục nguyên hàm của
Phan Thanh Giàn, đồng thời tạc lại bia tiến sĩ của vị đại thần dầy công
với nước. Năm 1933 vua Bảo Đại còn truy phong cho ông.
Nước còn
hay mất đều là trách nhiệm của sĩ phu và muôn người. Lần nữa lịch sử
thời Phan Thanh Giản đã tái diễn suốt 20 năm VNCH chống đế quốc cong
sản đệ tam quốc tế, cuối cùng vì trí thức đã mất hết ý chí quyết thắng,
nên người lính ngoài chiến trường phải buông súng rã ngũ trong uất
nghẹn hận hờn.
VC ngày nay đã mất hết lòng dân vì không có chính
nghĩa, cho nên để giữ đảng và mạng, chỉ còn cách đầu hàng giặc Tàu, cắt
đất nhường biển, để mong kéo dài quyền lực trên đầu súng, bốc lột và
khủng bố đồng bào mình. Nhưng chúng đã quên hay cố tình không muốn nhớ
bài học mất nước của đám quan lại trí thức khoa bảng thời Nguyễn, chỉ
biết học nhiều mà không hề thấu đáo bài học chính trị của tiền nhân để
lại. Theo sử liệu còn lưu trữ, khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông
Nam Kỳ, gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của nghĩa binh và quan quân.
Lúc đó tại Pháp, nội bộ trong triều đính Napoleon III đang bị dân chúng
phản đối kịch liệt, vì ngân khố kiệt quệ bởi cuộc chiến đang xảy ra tại
Mễ Tây Cơ. Do đó người Pháp rất sợ cuộc chiến bùng nổ tại VN, nên triều
đình không biết phải xử trí sao, để khỏi bị người dân phản đối.
Đúng
lúc Phan Thanh Giản qua Pháp, đặt vấn đề dùng tiền chuộc đất. Nã Phá
Luân đã vin vào đó, cho báo chí loan tin sẽ có 100 triệu tiền vàng của
Đại Nam, bỏ vào công quỷ. Kết quả trên giấy tờ Phan Thanh Giản nói là
chuộc được đất nhưng sự thật dâng cho Pháp thêm Vũng Tau, Côn Lôn, Thủ
Dầu Một, Sài Gòn-Chợ Lớn. Đúng là vừa dâng tiền lại mất thêm đất, cả
chì lẩn chài đều trôi mất trong dòng nước.
Bài học lịch sử VN đã
thấy tái diễn, sau chuyến tuần du Nam phương của Hoàng đế Hồ Cẩm Đào.
Bỗng thấy ngậm ngùi hận uất khi bên tai như văng vẳng lời dặn dò tha
thiết của Vua Lê Thánh Tôn 'Ta phải giữ gìn cẩn thận, đừng để cho ai
lấy một phân núi, một tấc sông của đất nước '.
Xóm Cồn
Chạp 2005
MƯỜNG GIANG