(tặng Mai Minh và Tịnh Nhiên)
Trong
kho tàng văn chương Trung Hoa, bộ Tây Du Ký diễn nghĩa của Ngô Thừa Ân
tiên sinh (1500-1541), được xếp vào hàng lục tài tử và phổ biến rất
rộng rãi. Đọc truyện, ai cũng ưa thích các nhân vật Tôn ngộ Không, Trư
bát Giới, Sa ngộ Tịnh và nhất là Đường Tăng Tam Tạng. ...
...
Tác phẩm vừa chọc cười duyên dáng nhưng cũng không kém phần triết lý
cao siêu với nhiều ý tưởng thâm trầm, được chôn dưới những câu chuyện
thần kỳ bí hiểm. Do giá trị trên mà Tây du Ký đã được dịch ra nhiều thứ
tiếng, lại được soạn thành kịch bản, tuồng hát và đưa lên màn bạc.
Đường Tăng hay Tam Tạng dưới ngòi bút của Ngô thừa Ân là một nhân vật
huyền thoại nhưng trong dòng sử Tàu, nhận vật này lại chính là nhà sư
Trần Huyền Trang sống vào thời Đại Đường. Ông được các sử gia xếp vào
hàng vĩ nhân của thế giới, qua cuộc hành trình đơn độc từ Trung Hoa tới
Ấn Độ, ròng rã suốt mười mấy năm dài như đã kể lại trong “Đại Đường từ
ân Tam Tạng phóng sự truyện”. Ngoài ra ngài cũng đã mang về nước ba
tạng kinh Phật nguyên bổn vô cùng giá trị.
1- Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân :
Chuyện
thỉnh kinh Phật tại Thiên Trúc của Thầy Huyền Trang, là một việc có
thật trong lịch sử và tất cả cuộc hànbh trình đều được viết lại, để
dâng lên vua Đường Thái Tông, qua tác phẩm Đại Đường Tây Vực ký. Nhưng
tại sao lại có bộ Tây du ký với nội dung gần như mâu thuẫn hoàn toàn
với sự thật ? Theo nhận xét của những nhà phê bình văn học, thì hiện
tượng này cũng chẳng có gì để ngạc nhiên và thắc mắc vì thời trung cổ
tại nước Tàu, hầu hết các tác phẩm nổi tiếng trước khi được hoàn thành,
đều phải trải qua giai đoạn văn chương truyền khẩu xuất phát từ dân
gian. Cũng vì vậy ngay thuở Đường Tăng còn sinh tiền, chuyện thỉnh kinh
của ông cũng đã được thần thông hóa, bằng chứng còn tìm thấy trong tác
phẩm của nhà sư Tuệ Lập, một cao đồ cuả Huyện Trang đã viết về sư phụ
mình.
Về xuất xứ, truyện Tây Du ký hiện đang lưu hành của tác
giả Ngô thừa Ân dựa theo cốt truyện của Dương Chí Hòa đời nhà Minh, rồi
thêm bớt cho hợp lý, thuận theo trào lưu, giống như các tác phẩm Tam
Quốc, Thủy Hử... Về tác giả cũng đã thấy nhiều tranh cãi giữa Ngô thừa
Ân và Khưu xứ Cơ. Thức tế có hai bộ truyện đều mang tên Tây du ký, một
của Khưu xứ Cơ viết về cuộc đi xứ tới Tây Vực thời Nguyên Thái Tổ và bộ
khác của Ngô thừa Ân kể chuyện bốn thầy trò Đường Tăng vâng lịnh vua đi
thỉnh kinh Phật tại Thiên Trúc. Ngoài ra ngay chính tác phẩm của Ngô
thừa Ân cũng đã có nhiều dị bản nhưng chỉ có bản in do Kim Lăng Thế Đức
Đường thư quán, thời vua Vạn Lịch 20, đời nhà Minh, ấn hành năm 1592,
mới được công nhận là nguyên bản.
** thân thế tác giả :
Ngô
thừa Ân người đời Minh, tự Như Trường, hiệu là Xạ Dương Chân nhân, sinh
khoảng năm 1500 và mất năm 1582. Nguyên quán Phú Hòa An, huyện Sơn
Dương nay thuộc tỉnh Giang Tô. Ông xuất thân từ một gia đình tiểu
thương nhưng từ thuở nhỏ đã nổi tiếng khắp vùng là văn hay, chữ tốt,
học rộng, tài cao. Thảm thay học tài thi phận, cái vòng danh lợi lẩn
quẩn của thế nhân luôn hành hạ những bậc đại tài, nên ông lận đận mãi
trong chốn trường thi, chỉ đổ được cử nhân vào năm 45 tuổi (1544 đời
Gia Tĩnh thứ 23), nên sau đó phải bán chữ nuôi miệng. Vào những ngày
cuối đời mới được bổ làm một chức quan nhỏ tại Huyện. Lúc đó đã 66
tuổi, nên chỉ được một vài năm thì cáo lão. Tác phẩm Tây Du ký được
viết trong giai đoạn này, ngoài ra tiên sinh còn lưu lại tập Xạ Dương
tôn ca.
Ngô thừa Ân sống trong khoảng 1500-1582 nên trải qua
nhiều thời vua đời Minh từ Chánh Đức tới Vạn Lịch. Qua thân thế của tác
giả, ta cảm thương cho thân phận bọt bèo của những tài danh phi thường
nhưng trót sinh lầm thế ky, giống như những hoàn cảnh của Nguyễn công
Trứ, Cao Bá Quát, Từ diễn Đồng, Tú Xương, Tản Đà... của Việt Nam. Đã
mang phận nghèo, lại bất đắc chí nên suốt đời gần như bị xã hội ruồng
bỏ.
Đứng bên lề cuộc sống, chứng kiến được những mục nát bất
công của triều đình nhà Minh, cộng thêm sự bạo ngược tàn ác của vua
chúa đương thời nên Ngô tiên sinh đã ký thác tâm sự của mình qua từng
nhân vật trong tác phẩm, sử dụng lối văn ngụ ngôn để phản ảnh cuộc dời
gian ác bất công, bể dâu trầm thống, chì vì tranh ngôi, đoạt danh, ham
lợi lộc tiền tài... Con đường thỉnh kinh từ Trung Hoa tới cõi Thiên
Trúc Tây Phương xa lắc đầy hiểm nguy trắc trở, cũng chính là con đường
mà ông và nhân sinh đã trải qua nơi trần thế hằng hằng đau khổ. Còn bốn
nhân vật chính trong truyện như Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng, Tam Tạng
trong dụng ý của tác giả, cũng chính là bốn bản tính cố hữu của con
người : Thiện, ác, long tham sân si và đức hiếu sinh của con người.
Chính cái sâu sắc đó đã làm nổi bật niềm tâm sự ký thác của tác giả với
hậu thế qua quan niệm “ ai là người chính nhân chính thống, ai là kẻ
bất lương gian tà ?”
Tóm lại Tây Du ký có tất cả 100 hồi, phần
đầu giới thiệu cuộc đời của Tôn Ngộ Không và thân thế Đường Tăng. Từ
hồi thứ 8 trở về sau, kể lại hành trình đi thỉnh kinh của 4 thầy trò
Tam Tạng. Nói chung, tác giả rất thành công khi mượn nhân vật Tôn Ngộ
Không dùng tài trí để dẹp yên bọn cầm quyền bất tài, xôi thịt dưới dạng
yêu quái. Cuối cùng tác giả cũng không tiếc lời ca tụng sự hợp nhất của
tam giáo, đề cao Phật Pháp vô biên, nói về thuyết định mệnh và sự báo
ứng nhân quả.
2- Thánh tăng Trần Huyền Trang trong lịch sử :
Chính
con đường tơ lụa ngày xưa cũng là lộ trình thỉnh kinh của Đường Tăng.
Mấy năm gần đây, điện ảnh của Trung Cộng đã thực hiện bộ phim Tây Du ký
tại vùng tự trị của dân tộc Hồi Hồi ở xứ Ô Lỗ Mộc Tế (Tân Cương). Sở dĩ
người ta chọn vùng này làm bối cảnh cho bộ phim vì những tình tiết
trong bộ truyện Tây Du, đều có liên quan tới Tân Cương. Điểm quan trong
nhất ở đây là lộ trình đi thỉnh kinh của 4 thầy trò Đường Tăng trong
truyện hay của nhà sư Trần huyềnTrang ngoài đời, cũng là hình bóng của
con đường tơ lụa ngày xưa. Theo tài liệu còn lưu trữ, thì từ thời
thượng cổ người ta đã làm con đường trên. Sau khi đã ra khỏi biên địa
Trung Hoa, con đường được phân thành hai nhánh, một đi về hướng tây bắc
đến Ba Tư, Trung Đông sang tận Âu Phi. Nhánh còn lại rẽ về hướng tây
nam qua La Bố Bạc (Tây Tạng), A Phú Hãn tới Ấn Độ. Chính Huyền Trang đã
theo lộ trình này để tới Thiên Trúc thỉnh kinh... Còn nhà du hành người
Ý là Marco Polo hơn 700 năm về trước, đã căn cứ vào tài liệu của Huyền
Trang để lại, thực hiện chuyến du hành bằng con đường tơ lụa xưa, từ Âu
qua các nước Trung Á tới tận Viễn Đông. Ngày nay, đối với con đường
huyền thoại xưa, đó là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, vì nó
chạy qua hầu hết các quốc gia Á Âu đang sản xuất dầu lửa và khí đốt...
Dự án tái tạo con đường liên lục địa cũng được LHQ tài trợ. Lộ trình
cũng vẫn như cũ, vào Trung Cộng tại Tây An và tới biển đông ở Giang Tô.
Vào
thời mà Đường Tăng Huyền Trang đi thỉnh kinh, con đường tơ lụa Nam
tuyến còn là một tử lộ, với ngàn muôn bắc trắc hiểm nguy, qua nhiều
quốc gia, bộ tộc có ngôn ngữ và nền văn hóa hoàn toàn khác biệt với
người Hán. Sự tuyệt diệu ở điểm tương đồng giữa cảnh thực ngoài đời và
tình tiết trong truyện đã tìm thấy tại nhiều nơi. Điều này chứng tỏ tác
giả khi đặt bút thành văn, đã dày công nghiên cứu ngoại cảnh hoặc từng
trải qua, chứ không phải hư cấu bừa bãi, vu vơ như ta hằng tưởng trước
đây. Để minh chứng, hãy đem vài đoạn trong truyện so sánh với thực tế
như hồi Tôn ngộ Không đánh với Thiết Phiến công chúa để cướp quạt lôi
phong, quạt tắt hỏa diệm sơn. Căn cứ vào bản đồ, thì vùng đó tương ứng
ở một địa điểm nằm về phía bắc tỉnh Tân Cương, nơi đây khi trước có núi
lửa nhưng đã ngưng hoạt động từ lâu. Ở đây vào mùa hè, ánh nắng gây gắt
rọi vào các vách núi tạo bởi nham thạch màu đỏ, phản chiếu thành màu
sắc long lánh, từ xa nhìn khiến ta có ấn tướng núi lửa đang hoạt động.
Về việc Sa Tăng tại Lưu Sa Hà, tuy rằng tìm trên bản đồ không thấy địa
danh này nhưng các nhà viết sử vẫn dựa vào thiên Vũ Cống trong kinh thư
để chứng minh “Đạo nhược thủy chi ư hợp lệ, du ba nhập lưu sa hà“ để
xác quyết vùng sa mạc Tân Cương có một con sông cát tên là Lưu Sa. Theo
lời kể, khách khi vượt qua sa mạc, thường gắp phải những hiện tượng cát
chạy, từ xa nhìn không khác gì một con sông đang cuồn cuộn nước... Cũng
do hiện tượng phản chiếu này, nhiều lữ khách đã bị cát vùi khi vô tình
bước vào tử lộ này. Về địa danh Cao Lão Trang, nơi Bát Giới cưới vợ
cũng là một địa danh có thật. Theo sách Hà Hương Quản Tỏa Ngôn có ghi
rõ, trên đất Tây Tạng nơi con đường tơ lụa chạy ngang qua, có rất nhiều
quán trọ dành cho khách lữ hành, cách đó 40 dặm về hướng tây nam, có
xóm Cao Lão Trang. Sau rốt là câu chuyện về trái nhân sâm, cũng không
phải là sự tưởng tượng. Theo sách Thuật Kỳ Dị phần đề cập tới nước Đại
Thục, có một thung lũng kỳ bí, nơi đó mọc một loại cây cành đỏ lá xanh.
Mỗi cành lại kết tụ nhiều quả có hình giống như ấu nhi, dài tới 6-7
tấc. Trái biết cười với người nhưng nếu đụng vào, trái sẽ rụng tức
khắc. Đặc biệt cành nào có một trái rụng, toàn bộ ấu nhi trên cành đó
sẽ khô héo và chết theo.
** Đường Tăng trong lịch sử Trung Hoa :
Trong
Tây Du ký, Ngô thừa Ân viết rằng Đường Tăng là con của Trạng nguyên
Trần quang Nhụy và Ôn Kiều. Trên đường tới nhiệm sở nhậm chức, tại
Giang Châu bằng đường thủy, gia đình Trần trạng nguyên bị cướp. Cha ông
bị giặc giết, mẹ ông vì lúc đó đang mang thai ông nên chịu sống nhục
tới khi sanh thì gói lại và đặt trên một mảnh ván thả trôi sông. Nhờ sư
cụ chùa Kim Sơn vớt và nuôi dưỡng, qui y Phật pháp và trở thành Đường
tăng Tam Tạng hay thánh tăng Trần huyền Trang.
Ngoài đời, thánh
tăng tên thật là Trần Vĩ, sanh năm 596 (sau tây lịch), nhằm đời Tùy
Dưỡng Đế thứ 16 tại huyện Câu Thị, Lộ Châu, nay là thành phố Yêm Sư,
tỉnh Hà Nam. Riêng về năm sinh của Huyền Trang, nhà sử học người Pháp
là R.Grousset ghi trong tác phẩm Sur les traces du Boudha, thì năm sinh
là 602. Dòng họ Trần Gia nhiều đời ngụ tại Du Tiên Hương, Khổng học Lý,
Phụng hoàng cốc kế cận chùa Thiếu Lâm tự, vốn là một gia tộc bao đời
thấm nhuần Khổng học. Nay ngược lại thời gian hơn 1400 năm về trước,
quê hương của Đường Tăng chỉ là thôn ấp hẻo lánh, nghèo nàn nhưng về
cảnh sắc thì vô cùng thơ mộng và xinh đẹp. Đây cũng chính là nơi hai
con sông Y và Lạc gặp nhau. Theo sử Tàu, thì Câu Thị là quê hương của
Hoàng Đế, quốc tổ của người Hán, cũng là nơi mà nữ thần xinh đẹp Lạc
Thủy cùng đám tiên nữ thường xuống tắm gội vào những đêm trăng. Yêm Sư
quả là địa linh nhân kiệt nhưng bao đời cũng vẫn chỉ là một huyện thành
nhỏ nhoi vắng người. Từ năm 1993 nhờ Trung Cộng đổi mới kinh tế, Yêm Sư
được nâng cấp là thành phố với diện tích 943 km2 và dân số 700.000
người. Hiện nơi này đang phát triển mọi mặt nhất là ngành du lịch vì
Yêm Sư từ 4000 về trước đã là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế
của nhà Hạ. Thế kỷ thứ 5 (STL), Yêm Sư là kinh đô của nhà Bắc Ngụy,
hiện còn sót lại ngôi mộ của Lã Bất Vi (?-235 TrTL), nguyên là nhà
buôn, tướng quốc cũng là cha ruột của Tần Thủy Hoàng... Kế bên còn có
phần mộ của nhà đại thư pháp đời Đường là Nhậm thân Khanh (709-786)
nhưng điẻm đặc biệt và quan trọng nhất của Yêm Sư hôm nay là công trình
kiến trúc mang tên Vạn Quốc lịch hiến cung, trong đó mô tả lại con
đường thỉnh kinh gian nan cực khổ của Trần Huyền Trang thuở trước.
Riêng ngôi nhà củ của Trần Gia ở Trần Hà cũng được trùng tu và giữ gìn.
Đây là điểm thu hút nhiều khách du lịch và Phật giáo đồ từ khắp nơi tới
hành hương và chiêm ngưỡng một thắng tích lịch sử.
** Huyền Trang trốn vua, một mình đi Thiên Trúc thỉnh kinh :
Tuy
xuất thân từ Nho giáo nhưng Trần gia đồng thời cũng rất sùng mộ đạo
Phật. Do trên năm lên 13 tuổi, Huyền Trang nối gót theo trưởng huynh,
xuất gia tại chùa Tịnh Độ, Lạc Dương, Hà Nam.Trong thời gian này, Trung
Hoa đang hỗn loạn, giặc giã nổi lên khắp nơi chống lại nhà Tùy. Do
trên, để lánh nạn, anh em ông phải rời Lạc Dương, tới tu ở chùa Không
Túc tại Thành Đô, Tứ Xuyên. Năm 618 Lý Uyên tiêu diệt được nhà Tùy, lập
nhà Đường, vãn hồi lại an ninh, kỷ cương trong nước... Vì thế, Huyền
Trang một mình trở lại Trung Nguyên, đến tu tại Trường An, Thiểm Tây.
Đời Đại Đường (618-713), kinh đô Trường An là chốn phồn hoa đô hội, một
thành phố thanh lịch, nơi qui tụ hàng tao nhân mặc khách mà danh thơm
muôn thuở vẫn còn lưu tới ngày nay như Lý Bạch, Hạ Trí Chương, Đỗ
Phủ... Ngoài ra đây cũng là cái nôi của Phật Giáo Viễn Đông nên qui tụ
đầy các bậc thức giã từ bốn phương trời, cộng với các Đại sư các nước
Trung Á, Cao Ly, Nhật Bản, Tây Tạng... Cũng vì thế nên Phật giáo Trung
Hoa bị phân hóa trầm trọng, phân chia thành nhiều phe phái và tai hại
nhất là các kinh sách, luật lệ, giáo lý nhà Phật rất mâu thuẫn và chứa
đầy dị biệt, trong lúc được dịch thuật từ nguyên bổn Ấn Độ. Vốn mang
sẵn chí lớn và tâm nguyện hiến trọn đời mình cho Phật Pháp, nên Huyền
Trang rời kinh đô chu du khắp nước, tới các chùa chiền suốt hai bờ đại
giang nam bắc nhưng nơi nào Ông cũng thất vọng não nề, gần như bế tắc.
Đây chính là động lực thúc đẩy Huyền Trang phải đến tận Ấn Độ, chính
mắt đọc cho được các nguyên bổn kinh sách, cũng như sưu tầm thêm tài
liệu, đồng thời chiêm bái các Phật tích nơi miền Thiên Trúc. Năm ba
mươi mốt tuổi, một cơ duyên khác lại đến, càng làm nung nấu thêm ý chí
tây du sẵn có. Đó là sự hiện diện của một nhà sư Ấn Độ nổi tiếng đương
thời tên Ba Phả Mật Đà La, đệ tử giỏi của Học giả Giới Hiền, kẻ quyền
uy đang lãnh đạo chùa Na Lan Đà (Thiên Trúc), đến thăm kinh đô Trường
An bằng đường biển. Chí đã quyết, Huyền Trang cùng bạn bè dâng sớ xin
phép vua Đường Thái Tông đi Thiên Trúc thỉnh kinh và tu học. Chẳng
những không chấp thuận, nhà vua còn xuống chỉ nghiêm cấm, không cho
phép bất cứ ai xuất ngoại.
Do đó Huyền Trang phải lén lút đi
Cam Túc, một tỉnh cực bắc của Đại Đường. Rồi cũng nhờ cơ duyên, ông lần
mò tới được Lương Châu là cửa ngõ phát xuất con đường tơ lụa từ Trung
Hoa đi các nước Tây Vực. Đây là một đô thị lớn của Hà Tây, nay thuộc
huyện Uy Viễn, tỉnh Cam Túc, một địa danh thường đước nhắc nhớ trong
văn học qua bài phú Lương Châu :” Bồ đào mỹ tửu dạ lương bôi, dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi, túy ngọa sa trường quân mạc vấn, cổ nhân chinh chiến kỹ nhân hồi ?”.
Rồi chờ một thời gian ngắn, cuối cùng cũng tới được thành Lan Châu và
nhờ viên thủ thành là kẻ ngoan đạo nên đã giúp ông phương tiện, trốn
khỏi Ngọc Môn Quan và đồn Ngũ Phong là hai biên ải vô cùng cẩn mật nơi
biên địa. Trước những hiểm nguy và khó khăn chồng chất, những người
đồng hành lần lượt bỏ về. Cũng may Ông đước một thương gia người Hồi,
đổi cho con ngưa già đã từng qua lại nhiều lần hai vùng biên ải hiểm
trở trên. Nhờ vậy Huyền Trang thoát được, từ đó một mình nhờ con ngựa
quen đường, dấn thân vào vùng sa mạc mông mêng cát nóng.
Trên
đại sa mạc Gobi, thuộc Nội Mông từng được người Hán ví là dòng sông
cát, để diễn tả cái cùng tận của đất trời. Cũng chính tại đó, Huyền
Trang ngày ngày với con ngựa già chỉ thấy bao la một màu trắng xóa, đó
đây la liệt những đống xương vô định của người, lừa, ngựa kể cả lạc đà,
tuyệt nhiên là nổi trống vắng rùng rợn của nắng, gió và cát mà thôi.
Tóm lại đây là tử địa, không có nước, bóng cây và tiếng người... Thêm
vào đó đường mòn càng lúc càng chia trăm nẻo, cũng may nhờ có con ngựa
già đã quen lối trên nẻo đường tơ lụa, nên không bị lạc. Nhưng ví ý chí
sắt đá, thà chết chớ không bao giờ quay trở lại Đại Đường khi tâm
nguyện chưa đạt thành, nên Huyền Trang lặn lội trong sa mạc chết suốt
năm ngày đêm với đói, khát và tuyệt vọng. Nhưng giữa lúc người ngựa sắp
ngã quỵ thì bỗng từ dâu, trời thổi một trận gió lạnh buốt, cũng con
ngựa già cũng đang nằm quị bất động, bỗng vùng dậy, cõng Huyền Trang
phi nước đại suốt hai ngày nữa mới tới được một ốc đảo xanh tươi có ao
nước ngọt trong veo, mát lịm.
Từ đó, qua cơ duyên trời ban,
Huyền Trang tới được nước Y Ngô (Ulghur) và được tiếp đón trọng thể.
Trong lúc đang ở nước này thì có sứ thần của Cao Xương Quốc (Quôse)
vâng lịnh Quốc vương Nhã Nhĩ Thành đến thỉnh. Cao Xương là một nước lớn
và quan trọng nhất ở Tân Cương. Nhà vua cũng như triều thần và dân
chúng rất mộ đạo Phật. Do trên khi Đường Tăng tới, vua rất kính trọng
và khẩn khoản mời Ông ở lại làm quốc sư để truyền bá đạo pháp nhưng
Huyền Trang một mực từ chối, cuối cùng tuyệt thực thà chết hoặc được đi
thỉnh kinh. Trước ý chí sắt đá của nhà sư, vua đành chấp thuận nhưng
lưu thêm một tháng để thuyết pháp. Ngày ra đi vua Cao Xương cấp cho
Huyền Trang 30 con ngựa chiến, 25 người tùy tùng với đầy đủ lương thực,
nước uống và quần áo ấm để đoàn người vượt qua đỉnh Thiên Sơn cao ngất
mây xanh, trùng trùng hiểm nguy băng giá. Nhà vua còn viết 24 lá thư
gửi 24 nước lân cận, yêu cầu giúp đỡ Huyền Trang lúc cần thiết, nhờ vậy
nhà sư mới an toàn trên đường thỉnh kinh.
Năm 630, sau khi vượt
qua hết các nước trong vùng Tân Cương, qua các kinh đô Qurashah,
Kutchs, núi Thiên Sơn và cuối cùng là hồ nước nóng Issik Koi là chỗ
dành riêng cho hoàng gia tới nghĩ mùa đông. Từ đây con đường lại ngược
về hướng tây nam, ngang qua thành phố Cheshia, nay là Teshkent, thủ đô
của nước cộng hòa hồi giáo Kirghzistan trong Liên bang Sô Viết cũ. Rồi
lại vượt qua sa mạc đất đỏ Qiuzil Qum mới tới thành phố Samarguard, là
giao điểm của con đường từ Ấn Độ đi Ba Tư và Trung Hoa. Đây là một ốc
đảo xanh tốt trên cao nguyên Ba Tư, nơi đã từng ghi dấu người ngựa của
Đại Đế A Lịch Sơn, từ Địa Trung Hải sang chinh phục Ấn Độ. Thành phố
này hiện thuộc A Phú Hãn, phía trước có Thiết Mộc Quan là một ngọn đèo
cao ngất mây xanh. Qua khỏi đó sẽ tới thung lũng mặt trời Bamiyan, một
kỳ quan của nước này với vô số tượng Phật đủ kích thước, được tạo hay
khắc sâu trong vách núi. Tại đây có hai tượng Phật khổng lồ cao 53m và
35m. Đây cũng là nơi Huyền Trang nán lại nhiều ngày để hành hương và
chiêm bái. Tiếc thay bao nhiêu công trình vĩ đại của Thượng đề và tiền
nhân đã bị bọn hồi giáo cực đoan Taliban, trong khi cầm quyền tại A phú
Hãn phá hủy nhưng ngày nay đã được một số chuyên gia quốc tế đến tái
tạo sau khi Taliban bị Hoa Kỳ tiêu diệt vào năm 2001.
Cuối
cùng nhà sư cũng đạt được tâm nguyện khi đặt chân tới Kapisa thuộc Ấn
Độ, dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, nơi có nhiều tu sĩ Bà La Môn đang hành xác
giữa trời đông lạnh lẽo. Tóm lại từ lúc rời Đại Đường tại đồn biên giới
Ngũ Phong, đến khi vào đất Ấn, nhà sư Huyền Trang đã đi qua 24 nước lớn
nhỏ của Trung Á, đi trên đỉnh cao nhất trong dãy Thiên Sơn (7200m), tới
Nhiệt Hà trong lãnh thổ Liên Xô cũ thuộc nước Đột Quyết. Vượt sông Ô
Hứa A Mẫu Hà (Amur Darya), qua Thiết Mộc Sơn (Iron Gate) nay là đèo Bá
Đạt Khắc Sơn (Budakkhason) vô cùng hiểm trở của nước A Phú Hãn, không
thua gì đỉnh Thiên Sơn tại Tân Cương. Sau đó lại phải vòng qua Đại
Tuyết Sơn (Hy Mã Lạp Sơn). Nhiều nơi Huyền Trang chỉ đi có một mình vì
các đoàn hộ tống không thể vượt qua biên giới nước khác.
** Huyền Trang vào Đất Phật :
Lãnh
thổ mà Huyền Trang đặt chân đầu tiên tại Ấn Độ là nước Kiện Bà La
(Granhala) nay là tỉnh Peshawar, nầm trên bờ đông Ấn Hà, đối diện với
Pakistan, nơi có nhiều di tích của Phật giáo Bắc Tông. Sau đó Ông đi
dần xuống các tiểu quốc vùng đông nam như Taksasila, Nagrahra và xứ Ca
Tập Di La tức là vùng Kasmir ngày nay, nầm dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn
(vùng này từ năm 1947 tới nay là vùng tranh chấp đẫm máu giữa hai nước
Ấn và Pakistan. Đây cũng là nơi phát tích của Phật giáo đại thừa, nên
ông được các sư sãi ở đây trọng đãi. Tại đây, Huyền Trang thụ giáo Phật
pháp với Quốc sư Xứng Lão, là một bậc thầy tinh thông tất cả kinh sách,
giáo lý và sự huyền diệu của Phật môn. Nơi này còn có chùa Am Đa Nhân
Đà, được coi như một tàng kinh các, chứa tới ba chục vạn kinh Phật. Vì
vậy ông lưu lại đây hơn hai năm mới học hết số kinh điển trên... .
Sau
đó Huyền trang lại tiếp tục cuộc hành trình về hướng đông, dùng thuyền
lên thượng nguồn sông Hằng, để tới nước Nepal cũng ở dưới chân rặng Hy
Mã Lạp Sơn. Đây là quê hương của Đức Phật Như Lai, vì vậy Huyền Trang
được dịp đi khắp vùng để chiêm bái và hành hương khắp nơi từ
Kapilavastu cho tới vườn Lumbini là chỗ Đức Phật ra đời và vùng
Kusinagara là chốn Phật Tổ nhập niết bàn. Ông cũng tới Bénarès chiêm
bái gốc bồ đề trong vườn lộc uyển là nơi Đức Phật đắc đạo.
Từ
năm 637 tới năm 638, Huyền Trang tho. Giáo với pháp sư Giới Hiền
(Cilabhedra) trong tu viện Na Lan Đà. Đây là một trung tâm Phật giáo
Bắc Tông lớn nhất Ấn Độ lớn nhất thởi bấy giờ. Đây cũng là một khu đại
học gồm hàng chục tu viện với số tăng đồ theo học trên 10.000 người.
Ngoài ra trong chùa còn có một đại thư viện chứa đủ các loại kinh sách
của Phật giáo như kinh Vệ Đà, các sách khảo cứu về Y khoa, Dược phẩm,
Toán và Khoa học. Nhờ thế Huyền Trang đã hấp thụ hầu hết tinh hoa của
Phật môn cũng như bộ kinh Du Già Luận (Yagacara). Ông cũng nghiên cứu
cả kinh điển của Bà La Môn nhưng quan trọng nhất là Ông học được Phạn
ngữ, chìa khóa để ông có thể đi sâu vào thế giới tâm linh của Ấn Độ qua
kinh sách. Rời tu viện sau khi tranh luận với một tu sĩ Bà La Môn về
giáo lý của Phật giáo, ông tới thăm xứ Bengale ở phía đông Ấn Độ (Vùng
này nay là nước Bangladesh). Tại đây Huyền Trang muốn dùng thuyền đi
thăm đảo Simhala (Nay là Tích Lan), trung tâm của Phật giáo Nam Tông
nhưng bị ngăn cản vì sóng gió nguy hiểm nên cuối cùng ông dùng đường
bộ, băng ngang cao nguyên Dekhan, tới phía nam bờ biển đối diện với đảo
Tích Lan nhưng vẫn không thăm được vì nơi đó đang xảy ra chiến tranh và
nạn đói. Không thực hiện đước ý định, Huyền Trang lại đi ngược về hướng
tây bắc, vòng vịnh Oman lên tới thượng nguồn sông Ấn Hà, nay thuộc nước
Pakistan, để trở lại tu viện Na Lan Đà. Năm 642 Huyền Trang được vua
Kumara mời tới thuyết pháp ở Kamarupa (nay là vùng Assam) nầm sát biên
giới Trung Quốc. Ông lại được quốc vương Harsha, một đại quốc thời đó
mời làm quốc sư và hứa sẽ giúp ông trở về Đại Đường bằng đường biển
nhưng ông từ chối.
Tháng 4 năm 643 Huyền Trang trở về nước, mang
theo nhiều kinh điển và tượng Phật. Nhờ hai quốc vương Harsha và Kumara
giúp cho nhiều phương tiện chuyên chở như voi ngựa, lừa lạc đà cùng với
xe cộ thuyền bè và đoàn tùy tùng hộ tống đông đảo nên chuyến về vô cùng
thuận lợi.
** Huyền Trang trở lại Đại Đường :
Lúc
này nhà sư đã 48 tuổi. Trước khi nhập biên quan, Huyền Trang ghé nước
Khotan và nhờ thương đội nước này chuyển cho một tấu chương xin Đường
Thái Tông tha tội và cho được nhập cảnh, vì trước đó ông đã lén đi
thỉnh kinh. Do trên đoàn người khi về tới phải nán lại Sa Châu chờ
lệnh. Ngày 24 tháng giêng năm 645 (sau TL), nhằm đời Đường Trinh Quan
thứ 19, Trần huyền Trang về tới Trường An, được vua phái các quan đại
thần ra nghênh đón rất trọng thể. Tóm lại Huyền Trang rời Đại Đường
đúng 17 năm, đi gần 30.000 km, đã trải qua 138 nước lớn nhỏ, ngày nay
thuộc các nước Trung quốc (Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông), Liên Xô cũ,
Ba Tư, A Phú Hãn, Pakistan, Ấn Độ, Bhutan, Nepal và Bangladesh. Vượt
qua nhiều sa mạc hoang vu, bão cát chưa hề có người đặt chân tới. Đã
leo lên các đỉnh núi chọc trời, tuyết phủ vạn niên, lang thang các
thung lũng đầy thú dữ và mọi ăn thịt người. Nhưng tất cả các tai nạn
trên nhờ Trời Phật che chở nên cuối cùng đều qua hết. Chẳng những thế
Huyền Trang lại được các vị vua đương thời cũng như quan dân các nước
thương kính, giúp đỡ. Nhờ vậy ông mới được thành công và viên mãn, trở
thành một bậc vĩ nhân hiển hách muôn đời. Ông đã mang về Trung Quốc 159
xá lợi tử, 17 tượng Phật bằng gỗ quý, 675 bộ kinh Phật. Toàn bộ bảo vật
trên, Huyền Trang đều dâng cúng vào Hoàng Phúc Tự tại kinh đô. Cảm đức
độ của một bậc chân tu, vua Đường phong ông chức thượng thư nhưng ông
từ chối, chỉ xin cho mình được yên ổn để dốc lòng dịch các kinh sách đã
mang từ Ấn độ về. Ngoài ra để làm vừa lòng vua, ông viết bộ Tây Vực Ký,
ghi lại cuộc hành trình ròng rã 17 năm nơi xứ người trên đường thỉnh
kinh. Bộ sách gồm 12 tập. Đây là một tài liệu thật quý giá, giúp các sử
gia cũng như nhà biên khảo muốn khảo sát về miền Trung Á mênh mông,
hiểm nguy và huyền bí.
Để thuận tiện trong việc dịch thuật các
kinh điển thỉnh về từ Thiên Trúc, Ông lập một tổ dịch thuật gồm 19
người thông thạo Hán lẫn phạn ngữ. Từ đó cho đến cuối đời suốt 19 năm,
Đường Tăng san định, dịch thuật và diễn giải các bộ kinh Phật quý giá
và quan trọng nhất, gồm đủ thể, loại, luật trong đó có bộ ĐẠI BÁT NHÃ
BA LA MẬT ĐA gồm 600 quyển. Ngoài ra ông còn viết bằng tiếng phạn các
bộ kinh như Hội Tông Luận, Chế Ắc Luận... Ông cũng dịch bộ Đạo Đức Kinh
và Đa Phước Khởi Tín Luận từ Hán Văn ra tiếng Phạn.
Năm 664, sau
khi hành hương từ thung lũng Lan Chi về, Đường Tăng cảm thấy mệt nên
trăn trối cùng đệ tử là sau khi chết, chỉ chôn ông bằng một manh chiếu
tại chốn hiu quạnh là đủ. Đường Tăng Tam Tạng, tức nhà sư Trần Huyền
Trang viên tịch ngày mùng 5 tháng 5 năm 664, nhằm năm Lân Đức nguyên
niên. Vua Đường Cao Tông khóc thương rất thảm thiết và ra lệnh cho toàn
quốc cư tang như một quốc phụ.
Tang lễ ông được cử hành trọng
thể, ngoại trừ bộ áo quan làm bằng tre như tâm nguyện của Thánh Tăng.
Hiện nay phần mộ của Tam Tạng vẫn cỏn tại Bạch Lộc Nguyên, ngoại thành
Tây An (Trường An cũ). Đám tang có hơn một triệu người khắp nơi về tham
dự. Sau đó có nhiều người đến cất chòi quanh mộ phần để thủ hiếu cư
tang trên ba năm mới dời đi nơi khác. Theo nhận định của các sử gia,
thì xưa nay kể cả các vị vua chúa, chưa có ai được mọi người kính trọng
và thương mến như Thánh Tăng Huyền Trang.
Điều này cũng dễ hiểu,
trước hết Thánh Tăng Huyền Trang là một vị chân tu, trọn đời chỉ nghĩ
tới Phật Pháp và Đạo Lý mà thôi Ngoài ra ông còn là một nhà thám hiểm
đại tài, một học giả uyên bác và trên hết là một người đã có công rất
lớn trong việc tạo mối liên hệ mật thiết giữa các Dân tộc dị chủng nằm
giữa ảnh hưởng của hai nền văn hóa Ấn-Trung./-
Xóm Cồn chạp
HỒ ĐINH
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
-Thú xem chuyện Tàu của Vườn Hồng Sển
-Réné Grousset trong “ Sur les traces du Bouddha “
-Paul Lévy – Les Pélerine Chinois en inde
-Thích Minh Châu-Hsuan Tsang The Pilgrim and Scholar
-Du lịch Trung Quốc của Hứa Hoành và Nguyễn Trong...