Vụ án xâm hại tình dục
lao động Việt Nam – Văn phòng đại diện
Việt Nam ép
Trung Hoa thời báo - 31/5/2005
Vụ án bố con môi giới họ Hồng xâm hại tình dục mấy chục nữ giúp việc Việt Nam đã nằm trong quá trình tư pháp, song lại có thông tin Văn phòng Đại diện Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc (gọi tắt là Văn phòng Việt Nam) đe dọa ép buộc người bị hại.
Sáng nay nghị sĩ Lôi Sảnh của Quốc Dân đảng Trung Hoa, Quỹ hỗ trợ pháp luật, các đoàn thể lao động và phụ nữ đã cùng kháng nghị Văn phòng Việt Nam không chăm lo đến đồng bào của mình, lại còn uy hiếp người bị hại phải “ngậm miệng”, thi hành bạo lực ngôn ngữ và tinh thần đối với người bị hại, đồng thời đặc biệt nghi ngờ “phải chăng Văn phòng Việt Nam có móc ngoặc lợi ích ở đây”.
Ngày 18 tháng 5, dưới sự trợ giúp của Quỹ hỗ trợ pháp luật, Trung tâm Thiên Chúa giáo chăm sóc linh hồn người nước ngoài và Hiệp hội lao động quốc tế Đài Loan, các nạn nhân giúp việc nữ người Việt đã trình bày lại chuyện tủi hổ bị bố con môi giới liên tiếp làm nhục. Sau cuộc họp báo, dần dần có thêm một số lao động Việt Nam chủ động liên lạc với phía kiểm sát và Trung tâm chăm sóc linh hồn, hiện giờ số người bị hại đã liên lạc được là 12 người.
Chính trong lúc con số những người bị hại tăng dần lên, thì lại có rất nhiều cuộc điện thoại “quan tâm” từ Văn phòng Việt Nam, Quốc hội, Bộ ngoại giao (Đài Loan) gọi đến Quỹ hỗ trợ pháp luật, yêu cầu Quỹ này không được hợp tác với linh mục Nguyễn Văn Hùng của Trung tâm chăm sóc linh hồn, nói rõ rằng “linh mục Nguyễn là phần tử phản loạn”. Trưởng ban Quản lý lao động Văn phòng Việt Nam Trần Đông Huy lại còn tìm trước đến nhà chủ người bị hại, uy hiếp người bị hại không được ra mặt làm chứng, yêu cầu “nhận tiền cho qua chuyện”, thậm chí còn ám chỉ sẽ đưa tin tức người bị hại này bị hiếp dâm truyền về tận quê ở Việt Nam.
Người đứng đầu Quỹ hỗ trợ pháp luật Lâm Vĩnh Tụng cho rằng Văn phòng Việt Nam đối với những người bất hạnh của đất nước mình gặp nạn tại Đài Loan không những không quan tâm hỏi han, không giúp đỡ, lại còn muốn “việc lớn hóa thành nhỏ, việc nhỏ hóa thành không”. Đây chính là hành vi dụ dỗ, đe dọa người bị hại. Lâm Vĩnh Tụng chỉ rõ, ở Đài Loan, tội xâm hại tình dục là không được phép tiết lộ, việc Văn phòng Việt Nam yêu cầu phía kiểm sát cung cấp danh sách người bị hại, rõ ràng đã can thiệp vào tư pháp của Đài Loan. Các đoàn thể quan tâm đến vụ việc này yêu cầu Văn phòng Việt Nam chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật.
Tu Thục Phần / tin từ Đài Bắc
http://news.chinatimes.com/Chinatimes/newslist/newslist-content/0,3546,130503+132005053100836,00.html
2005.06.05 - Thanh Trúc, phóng viên đài RFA
Ngày 13 tháng Năm vừa qua, một hội nghị quốc tế của các tổ chức ngoài chính phủ Châu Á đã diễn ra tại thủ đô Đài Bắc của Đài Loan. Hội nghị thảo luận để tìm hiểu về vấn đề phụ nữ di cư và nhập cư vào Đài Loan.
Nhiều vấn đề đã được nêu lên, liên quan đến vịêc phụ nữ Việt Nam đi lao động hay lấy chồng ở Đài Loan đã bị ngược đãi, xúc phạm nhân phẩm, rồi lại bị mất việc, bơ vơ nơi xứ người.
Hội nghị tìm hướng giải quyết, và chỉ đạt được một số giải pháp tạm thời, tuy nhiên cũng đã gióng lên được tiếng nói thống thiết, gợi cho dư luận Đài Loan chú ý đến hoàn cảnh thương tâm của nhiều phụ nữ Việt Nam phải xa quê huơng vì muốn lo cho gia đình, hay vì muốn tìm một cụôc sống dễ dàng hơn ở nơi xa xứ.
Việc giải quyết những vấn đề này còn tùy thuộc sự hiểu biết của chính quyền bản xứ và năng lực cùng thiện chí của những giới chức, cơ quan có trách nhiệm về phía Việt Nam, sau khi các tổ chức nhân đạo, thiện nguyện đã gắng làm hết sức mình như đã chứng tỏ trong hội nghị.
Sau những vấn đề của phụ nữ Việt ở Đài Loan như đã trình bày cùng quý vị trong nhìêu phóng sự trước đây, Thanh Trúc cũng có dịp tiếp xúc tìm hiểu về tình trạng các cô dâu Việt Nam ở Hàn Quốc, một xứ sở mà nam giới cũng ưa chuộng phụ nữ Việt Nam trong vai trò làm người hôn phối, chăm lo hạnh phúc gia đình.
Phụ nữ Việt Nam lập gia đình với người Hàn Quốc là đề tài của mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay.
Góp mặt tại hội nghị quốc tế về phụ nữ Châu Á Di Cư Và Nhập Cư có bà Kim Min Jeong, cán sự xã hội người Hàn Quốc. Bà Min Jeong trình bày trong phần thuyết trình của bà là theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê Quốc Gia Nam Hàn, từ năm 2000 đến giờ, con số phụ nữ Việt lập gia đình với đàn ông Hàn Quốc tăng vọt một cách đáng chú ý.
Vẫn theo lời bà, đa số đàn ông thanh niên Hàn Quốc lấy vợ Việt Nam là cư dân ở nông thôn, có người ly dị, có người goá vợ, và hầu như không mấy kẻ thuộc vào thành phần khá giả trong xã hội.
Nói chuyện với Thanh Trúc qua điện thọai từ Trung Tâm Phúc Lợi Xã Hội ở Kyonggi, cách Seoul không bao xa, bà Kim Min Jeong cho biết phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc và theo chồng về nước tăng rất nhanh trong vòng ba năm qua:
(Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Bà nói là hồi năm ngoái, cứ trong 25 cuộc hôn nhân với người nuớc ngoài thì hết 10 lần là cô dâu từ Việt Nam tới. Năm 2000. số phụ nữ Việt lấy chồng Hàn chỉ vào khỏang bốn năm trăm, nhưng đến năm 2004 thì tăng thành năm ngàn cô.
Nhiều cô gái Việt Nam hãy còn rất trẻ mà chịu lập gia đình với những ông Hàn Quốc đáng tuổi cha chú của họ: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Bà nói hoàn cảnh của cô dâu Việt ở Hàn Quốc cũng chẳng khác nào hoàn cảnh oái oăm của cô dâu Việt ở Đài Loan. Được yêu cầu giải thích lý do, bà nói: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên)
Đó là vì những công ty môi giới hôn nhân ở Hàn Quốc nối kết với hệ thống trung gian bằng nhiều hình thức lẫn nguồn cung cấp từ Việt Nam. Lại nữa, bà nói tiếp, những công ty môi giới ở Hàn Quốc thường ra sức quảng cáo là phụ nữ Việt Nam xinh đẹp, dể bảo, biết quí trọng gia đình.
Đàn ông Hàn Quốc muốn cưới vợ Việt Nam không khó, nhưng khi va chạm thực tế thì khỏang cách tuổi tác giữa chồng già vợ trẻ, rồi thì ngôn ngữ bất đồng, văn hoá dị biệt, những mâu thuẩn nẩy sinh và lớn dần lên. Bà Kim Min Jeong còn phân tích là những ông chồng Hàn Quốc ở thôn quê đi lấy vợ Việt Nam thường là người ít học, lại thêm cái định kiến bỏ tiền ra đi mua vợ về như một món hàng nên không có sự tương kính, từ đó bạo hành gia đình xảy ra mà nạn nhân là người vợ xa lạ kia.
Tại Trung Tâm Phúc Lợi Xã Hội ở Kyonggi, nơi bà Kim Min Jeong làm việc, có một nhà trú ẩn cho nạn nhân của bạo hành gia đình. Sau đây là câu chuyện mới nhất về một cô dâu Việt Nam trong ngôi nhà này, từ quê nhà ở Đồng Nai theo theo ông chồng Hàn Quốc 54 tuổi về thành phố Usan được hơn một tháng.
Mời quí vị nghe phần trao đổi giữa Thanh Trúc và người này như sau: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) Qua cuộc đối thọai vừa rồi thì quí vị có thể hiểu rằng gần như không một cô dâu Việt Nam lỡ bước sa cơ nào muốn trở về nước.
Về trường hợp cô Liêm trong bài này, hy vọng ở lại Hàn Quốc để kiếm việc thật mong manh, nhất là khi cô mới theo chồng về nước chưa được hai tháng, chưa được nhập quốc tịch theo chồng. Là người chuyên trách giúp đỡ về mặt tâm lý nhưng quan trọng nhất là mặt pháp lý, bà Kim Min Jeong giải thích là theo luật lệ Hàn Quốc, một khi cô Liêm đòi ly hôn và chồng cô đồng ý thì cô không còn lý do chính đáng nào để lưu lại Hàn Quốc mà phải về nước ngay.
Huống nữa, bà nói tiếp, khi lên gặp cán sự xã hội, ông chồng 54 tuổi của cô Liêm nói là ông chấp nhận yêu cầu ly hôn của cô và sẽ mua vé máy bay cho cô trở về Việt Nam.
Câu hỏi mà Thanh Trúc muốn nêu lên ở đây là hà cớ gì đàn bà con gái Việt Nam thời này cứ đua nhau tìm mọi cách đi ra khỏi nước, hoặc lấy chồng, hoặc ở đợ, hoặc làm công việc nặng nhọc nơi xứ người. Vì nghèo túng, vì muốn trả hiếu cho cha mẹ, muốn bằng chị bằng em, hay là vì bị môi giới gạt gẫm.
Trong luân lý, đạo đức và tập quán gia đình của người Việt Nam, người con gái liều mình trả hiếu cho song thân và lo cho các em là điều thuờng được ca ngợi và gây lòng trắc ẩn cho xã hội.
Nhưng Thanh Trúc nghĩ là không thể đổ tội cho cái nghèo, cũng không thể viện lẽ con gái phải trả hiếu cho cha mẹ, bởi lẽ các cô không thể vì lo cho cha mẹ và các em mà làm cho gia đình phải mất đi một người con hiếu thảo, lúc các cô bị lâm vào những hoàn cảnh có thể đưa đến tuyệt mạng hay ê chề tủi nhục cả thể xác lẫn tinh thần. Thêm nữa, tuy đã từng đưa ra nhiều lời giải thích trong các lọat bài trước đây, mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi vẫn không sao lý gỉai được giấc mộng thọat đầu là gái thị thành lấy doanh gia Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, để tìm sự giàu sang, nhưng rồi lại đến hàng lọat cô gái quê sau này chịu lấy những người đàn ông con trai quê mùa ít học không phải là người mình.
Chính vì cứ liều thân mưu tìm những hạnh phúc xa xôi nên mới lâm vào cảnh bị bọn người bán rẻ lương tâm lường gạt, trong khi chính quyền cũng bất lực hay chưa có được biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và cứu vớt người phụ nữ nước Việt truớc những hoàn cảnh này.
Một giải pháp toàn diện liên quan đến xã hội, kinh tế, văn hoá, là điều còn cần khá nhiều thời gian để cho các giới hữu quan biết lưu tâm và sau đó mới bắt đầu thực hiện có hiệu quả.
Trong lúc đó thì việc đầu tiên chị em phải làm là đừng trở thành những nạn nhân tự nguyện của tệ nạn mà Hội Nghị Quốc Tế Về Vấn Đề Phụ Nữ Di Cư Và Nhập Cư ở Đài Loan gọi là nạn buôn người thời hiện đại.
Các gia đình cũng cần tìm phương cách khác để thoát khỏi tình cảnh thiếu thốn, không để cho những đứa con gái yêu lấy chồng xa xứ qua sự môi giới không đáng tin cậy của nhiều công ty, tổ chức chỉ biết lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động. Mục Đời Sống người Việt Khắp Nơi đến đây tạm ngưng. Thanh Trúc sẽ trở lại đề tài cô dâu Việt ở Hàn Quốc với nhiều khía cạnh cạnh khác trong những chương trình tới.
Phúc trình về nạn buôn người trên thế giới năm 2005
2005.06.05 - Thanh Trúc, phóng viên đài RFA
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố phúc trình thường niên về nạn buôn người trên thế giới, cho thấy Việt Nam vẫn giữ vị trí của bậc hai tức là những quốc gia tuy có tiến bộ nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách tích cực.
Có mặt tại Bộ Ngoại giao ở Washington vào lúc Ngoại trưởng Condoliza Rice lên tiếng với báo chí khi công bố bản phúc trình, Thanh Trúc tường thuật chi tiết.
Bản phúc trình thường năm về tệ nạn buôn người trên thế giới do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ soạn thảo được công bố vào lúc trưa ngày thứ Sáu giờ địa phương tại Washington.
Lên tiếng với báo chí tại Bộ Ngoại giao Mỹ trước khi đi vào chi tiết của báo cáo buôn người 2005, nữ Ngoại trưởng Condoleeza Rice tuyên bố rằng phúc trình thường niên về nạn buôn người trên thế giới phản ảnh sự quan tâm của chính phủ Hoa Kỳ đối với hành động gọi là xúc phạm đến nhân phẩm, tự do và nhân quyền của con người.
Vẫn theo lời bà, Hoa Kỳ từng cam kết và có bổn phận lưu ý thế giới rằng buôn người là một hình thức nô lệ trong thời hiện đại.
Bà nói Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước lượng mỗi năm hơn 800,000 người từ các nước trên thế giới bị buôn từ nước nọ qua nước kia, và hơn một triệu người khác thì bị buôn ngay trong đất nước của họ.
Bà Ngoại trưởng Rice nhấn mạnh là nạn nhân của kỹ nghệ buôn người phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Bà nói họ bị lừa, bị dụ dỗ hoặc bị bắt buộc phải qua nước khác để lao động cực nhọc trong những nhà máy hay chỗ làm việc tồi tàn, hoặc bị bán vào những đường dây mãi dâm để trở thành những nô lệ tình dục không hơn không kém.
Bên cạnh vấn đề lao động thiếu nhi, Ngoại trưởng Mỹ nói tiếp, trẻ em tại nhiều nước trên thế giới còn bị ép buộc cầm súng chiến đấu, trở thành những người lính bất đắc dĩ. buộc cầm súng chiến đấu, bị biến thành những người lính bất đắc dĩ.
Dưới mắt bà Ngoại trưởng Condoleeza Rice, ở đâu có tệ nạn buôn người bùng nổ thì ở đó luật pháp không được tôn trọng, ở đó những tổ chức tội phạm thao túng và kiếm lợi bằng món hàng trao đổi là con người, là phụ nữ và trẻ em.
Bà tuyên bố tiếp là chính phủ Hoa Kỳ cũng như Tổng thống Bush tự nguyện đi tiên phong trong cuộc chiến chống tệ nạn buôn người, và năm ngaói chính phủ Mỹ đã chi ra hơn 96 triệu mỹ kim để giúp các nước trong những chương trình phòng chống cũng như giúp đỡ nạn nhân của tệ buôn người.
Sau bài nói chuyện của Ngoại trưởng Condoleeza Rice, đến lượt ông John Miller trình bày chi tiết hơn về phúc trình buôn người 2005. Ông John Miller là đặc sứ chuyên trách chương trình phòng chống tệ nạn buôn người trong Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Trong phúc trình 2004, Việt Nam nằm trong danh sách Tier 2 Watch List, tức những nước nằm ở bậc thứ hai cần được theo dõi về tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em qua biên giới, mà nhiều nhất và tai tiếng nhất là qua Đài Loan và qua Cambodia.
Trong phúc trình 2005 mới được công bố, Việt Nam vẫn giữ vị trí bậc hai nhưng không còn bị theo dõi sát như năm trước.
Trả lời câu hỏi của Đài Á Châu Tự Do, đặc sứ John Miller nói bởi vì Việt Nam có nhiều nổ lực đáng kể trong năm qua, điển hình là trước đó Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ rất chú trọng đến tệ trạng khai thác sức lao động của con người ở Việt Nam, về tệ trạng xuất khẩu lao động rồi bị ngược đãi lạm dụng như trường hợp trước đây ở đảo Samoa, thế nhưng trong năm qua Việt Nam đã bắt tay vào việc, đã khởi sự rà sóat cũng như cộng tác với các giới liên hệ để giảm thiểu tệ trạng buôn người.
Thế nhưng nếu nhìn vào phần mở đầu của bàn báo cáo 2005 về tệ nạn buôn người, thì Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng Việt Nam vẫn là nơi chốn, là nguồn cung cấp phụ nữ trẻ em xuyên biên giới để bị khai thác vào đường lao động thiếu nhi hoặc mãi dâm.
Báo cáo 2005 nói rõ phụ nữ trẻ em Việt Nam không chỉ bị bán qua Cambodia, Trung Quốc, Đài Loan mà còn đến những đặc khu hành chánh kinh tế như Hongkong, Macau, kế đó là Malaysia, hay xa hơn nữa là nước Cộng Hòa Czech.
Có thể nói hai quốc gia láng giềng với Việt Nam mà tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ từ trong nước sang đã và đang gây nhiều tai tiếng nhất hiện giờ là Đài Loan và Cambodia .
Những chi tiết liên quan đến tệ buôn người từ Việt Nam qua Đài Loan, Việt Nam qua Cambodia cũng được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề cập tới trong từng phần phúc trình riêng về hai nước này.
Năm 2004, Đài Loan là nước bậc một trong phúc trình buôn người thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ, có nghĩa là không có vấn đề nổi cộm. Năm nay, Đài Loan tụt xuống bậc hai vì Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá là chính phủ nước này không cố gắng giải quyết vấn đề, không đề ra luật phòng chống tệ buôn người.
Nói về Cambodia, nơi mà nhiều thiếu nữ và trẻ gái Việt Nam bị bán vào những động mãi dâm ở những khu vực nằm sát biên Việt Nam, thì nước này vẫn nằm trong bậc hai như năm ngoái vì không tiến bộ, không áp dụng luật lệ để chống lại những tổ chức buôn người.
Phát hiện đường dây lừa phụ nữ sang Nga làm gái mại dâm
Theo Đời sống & Pháp luật - 08/06/2005
Mới đây, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương đã khởi tố và ra lệnh truy nã Nguyễn Thị Ảnh trú tại Hải Dương đã sang Nga làm ăn và lập đường dây lừa phụ nữ sang Nga làm gái mại dâm.
Tham vọng làm giàu bất chính
Sau gần hai năm sang làm ăn, sinh sống tại Cộng hòa Liên bang Nga, nhưng Nguyễn Thị Ảnh (tức Nguyễn Thị Kim Anh) sinh năm 1976 trú quán tại 135 Cựu Thành, TP Hải Dương thấy cuộc sống cũng chẳng khấm khá lên là bao.
Sau nhiều ngày suy nghĩ cách làm ăn, thị nảy ra ý định kinh doanh thân xác phụ nữ để kiếm được nhiều tiền. Nghĩ là làm, giữa năm 2004, Ảnh điện về cho Nguyễn Thị Tuyến, sinh năm 1972 ở 6/41 khu 3, phường Cẩm Thượng, TP Hải Dương và Phạm Ngọc Hinh sinh năm 1952 trú tại khu 15 Thị trấn Lai Cách, Cẩm Giàng, Hải Dương. Ảnh nói rằng đang mở quán cà phê - karaoke cần tuyển nhân viên nữ để bưng bê, lương 500-600 USD/tháng, Ảnh nhờ Hinh và Tuyến tìm phụ nữ đưa sang Nga cho Ảnh, mọi thủ tục Ảnh sẽ lo, còn người đi tự làm hộ chiếu. Mỗi một người mà Tuyến và Hinh tuyển được Ảnh sẽ trả công 400 USD.
Lóa mắt trước số tiền mà Ảnh trả công, Hinh vội tìm mọi cách để tuyển người, Hinh tìm đến gặp Tống Thanh Hoàn sinh năm 1963 ở cùng thị trấn liên kết làm ăn, ngay lập tức Hoàn đồng ý hợp tác.
Vài ngày sau Hoàn trông thấy chị Nguyễn Thị Thuỷ, sinh năm 1983 trú tại thôn Ha Xá, xã Cẩm Đoài, Cẩm Giàng đi qua, Hoàn gọi lại, tỉ tê, gạ gẫm chị Thuỷ rằng được đi nước ngoài mà tốn kém chả đáng bao chỉ mất có 3 triệu đồng để làm hộ chiếu, lương lại cao. Nghe bùi tai, Thuỷ vội chạy về nhà bàn với mẹ là bà Tống Thị Tựa, hai mẹ con Thuỷ sang gặp Hoàn để hỏi chi tiết về chuyến đi, sau một hồi nghe Hoàn thuyết phục, mẹ con Thuỷ đồng ý nhờ Hoàn giúp, trước khi mẹ con Thuỷ về Hoàn còn nói với theo "cháu xem có đứa bạn nào thích đi thì rủ nó đi cùng cho vui".
Chị Thuỷ nghĩ, nơi đất khách quê người mà có thêm người đi cùng thì càng yên tâm, Thuỷ đã điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý sinh năm 1984 là cháu họ của Thuỷ rủ cùng đi. Sau khi dắt mối được hai con mồi, Hoàn sang nhà Hinh thông báo.
Hinh đã đưa cho Hoàn hai bản hợp đồng thỏa thuận tuyển người đi làm ăn sinh sống tại Nga, đại diện bên A là Phạm Ngọc Hinh, chức vụ: thường trực văn phòng, đại diện bên B là Nguyễn Thị Thuỷ và Nguyễn Thị Thuý, hai tờ hợp đồng này Hinh đóng dấu của Công ty cổ phần thương mại Đại Gia.
Sau khi nhận được hợp đồng, chị Thuỷ và Thuý mang 2 triệu đến đưa cho Hoàn làm hộ chiếu, còn 1 triệu còn lại khi nào các chị đi gia đình sẽ trả nốt.
Thấy số lượng người đi ít quá, Hinh muốn tìm thêm người để được hưởng thêm hoa hồng, giữa tháng 5/2004, Hinh gặp chị Nguyễn Thị Tú Oanh, sinh năm 1985 ở thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, Hinh thuyết phục Oanh sang Nga bán cà phê, Oanh thấy lương cao nên đồng ý ngay. Theo hướng dẫn của Ảnh, Tuyến cầm hộ chiếu của Thuỷ, Thuý, Oanh lên gặp Lê Thị Hồng Hạnh ở Hà Nội để làm thủ tục mua vé máy bay.
Tú bà hiện hình
Sau khi hoàn thành mọi thủ tục, 1h ngày 14/7/2004 Thuỷ, Thuý, Oanh lên máy bay sang Nga. Đến Moscow, chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức sau chuyến bay dài, ngay ngày 16/7/2004 Ảnh đã bắt các chị bán dâm cho khách để Ảnh trừ vào khoản tiền 7.500 USD đã bỏ ra để đưa họ sang Nga.
Thị nói nếu ai có tiền trả cho thị thì thị cho đi chỗ khác, nếu không có tiền thì phải bán dâm đủ 180 điểm (tức 180 lần), mỗi lần 1.000 rúp (khoảng 500.000 đồng tiền Việt) thì mới được thả. Để ép các chị đi khách, Ảnh cho một bảo kê luôn theo sát các chị, nếu ai chống lại lập tức sẽ bị đánh.
Đêm 31/7/2004, lợi dụng sơ hở của tên bảo kê, ba chị đã bỏ trốn khỏi nhà Ảnh, rất may ba chị đã được một người Việt Nam tốt bụng tên Cường cưu mang giúp đỡ.
Ngày 13/8/2004, chị Oanh, Thuỷ với sự giúp đỡ của người quen đã lên máy bay về nước an toàn, còn chị Thuý do nhiều lý do nên không về cùng. Sau khi về đến Việt Nam, Oanh, Thuỷ liền đến ngay Công an tỉnh Hải Dương tố cáo hành vi buôn người của Tuyến, Hinh, Hoàn.
Trước những chứng cứ không thể chối cãi, cả ba tên đã cúi đầu nhận tội. Đối với Nguyễn Thị Ảnh, tức Kim Anh là người chủ mưu trong đường dây này đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố và ra lệnh truy nã. Một ngày gần đây tất cả bọn buôn người này sẽ phải nhận bản án nghiêm khắc của pháp luật.
Hành trình trốn khỏi động chứa Ma Cao của 2 cô gái VN
Theo Công An Nhân Dân - Thứ năm, 9/6/2005
Không hộ chiếu, không tiền, không người quen thân, hai cô gái Việt Nam liên tục chạy bộ, thay đổi nơi cư trú trong suốt 7 ngày liền để lẩn tránh sự truy bắt của chủ động chứa.
Vui làm nhân viên ở quán ăn Ngọc Hương, quận 6, TP HCM, từ 4 năm nay. Đầu tháng 4, một người bạn tên là Út Kiều rủ Vui đi làm thợ may bên Hong Kong. Đầu tháng 5, Út Kiều báo là đã hoàn tất thủ tục chờ ngày lên máy bay. Út Kiều được phía Hong Kong thưởng công cho 500 USD, còn khoản chi phí 2.500 USD, Út Kiều ứng trước, coi như Vui nợ, sẽ trừ dần vào tiền lương khi Vui qua Hong Kong làm việc.
Ngày 12/4, Út Kiều đưa Vui ra phi trường Tân Sơn Nhất đáp máy bay đi Quảng Châu, Trung Quốc. Sau đó, có người đón và đưa Vui bằng taxi thẳng đến một nhà trọ ở Ma Cao, ở đó đã có 3 cô gái Việt Nam tên là Thanh, Phương, Duyên đều là người TP HCM.
Bị ép bán dâm, các cô tìm cách bỏ trốn và liên lạc với gia đình. Gia đình Vui và Thanh đã tổ chức đưa người sang Ma Cao "giải cứu". Sáng 23/5, trong lúc bắt buộc đi thử máu, Vui và Thanh đã nhảy lên taxi bỏ trốn ra cửa khẩu theo đúng kế hoạch "giải cứu". Nhưng hộ chiếu bị "tú bà" Phương "tịch thu" nên cả hai bị Hải quan cửa khẩu Ma Cao ách lại, vì thế cuộc giải cứu bất thành.
Cũng trong buổi sáng đó, phát hiện bọn bảo kê nhà chứa đi lùng bắt lại, hai cô gái sợ quá cứ thế chạy bộ gần hai chục cây số để tìm nơi lẩn trốn. Cuối cùng các cô cũng tìm được một ngôi nhà hoang và chui vào đây ngủ. Đêm đến, lũ chuột và côn trùng hoành hành, Thanh, Vui giật mình tỉnh dậy, thấy những âm thanh kỳ quái trong màn đêm lạnh lẽo nên cả hai vùng chạy ra đường.
Sau đó, họ tìm ra cửa khẩu xin Hải quan Ma Cao cho ngủ nhờ qua đêm. Sáng hôm sau, các cô lại phát hiện thấy bọn bảo kê động chứa lảng vảng ở cửa khẩu. Vì thế, liên tiếp những ngày sau, ban ngày Vui và Thanh không dám ở cửa khẩu mà đi lang thang hàng chục cây số, mỗi nơi chỉ dừng lại năm bảy phút rồi lại đi chỗ khác, sợ bị bắt lại nhà chứa. Tìm thấy chỗ nào ẩn nấp được, kể cả nhà vệ sinh là các cô nhào vô. Bụng đói thì ăn bánh quy cầm hơi vì không còn tiền, nước thì uống ở vòi trong nhà vệ sinh công cộng, cả hai cô chân phỏng rát và sưng tấy, nhưng vì quá sợ bị bắt lại nên cả hai tiếp tục lẩn trốn.
Cứ như vậy, suốt 7 ngày đêm, họ không được tắm, không có quần áo thay, lại phải trốn chui trốn nhủi. Cô Vui cho biết, trong lúc lẩn trốn, chính mắt các cô chứng kiến cảnh “thanh toán” của một băng “xã hội đen” ở Ma Cao với một tài xế taxi làm các cô sợ hãi, xỉu ngay tại chỗ. Nhớ lại những lời hăm dọa của tú bà Phương: "Ma Cao và Quảng Châu nằm trong lòng bàn tay của tao, đứa nào trốn, tao bắt được thì cha mẹ không biết ngày giỗ đâu nhé…" càng khiến 2 cô khiếp đảm, tinh thần hoảng loạn. Rất may nhờ còn chiếc máy điện thoại đi động, các cô liên lạc với gia đình nên đã được động viên và hướng dẫn đến đồn Cảnh sát Măng Cụt ở Ma Cao trình báo vụ việc.
Gia đình nạn nhân đã đến Sở Ngoại vụ TP HCM nhờ giúp đỡ, sau đó gia đình hai cô đã gửi tiền sang Lãnh sự quán Việt Nam tại Hong Kong để mua vé và làm thủ tục giúp hai cô trở về Việt Nam. Đến ngày thứ 7, sau khi nắm chắc thông tin từ Việt Nam báo sang và liên hệ với Cảnh sát Ma Cao, ông Vũ Lê Hà, Phó Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Hong Kong đã trực tiếp sang Ma Cao để gặp gỡ Thanh, Vui. Do thủ tục xuất cảnh chưa hoàn tất, ông Hà đã gửi Thanh, Vui vào ở nhờ nhà chị Út, một người Việt có chồng là người Hong Kong. Thấy hai cô gái như vừa móc dưới cống lên, chị Út thương cảm và đã đồng ý cưu mang.
Theo cô Vui trao đổi qua điện thoại về Việt Nam thì bọn "mặt rô" ở động chứa đã trực tiếp tìm đến nhà chị Út gây sự với chị, buộc chị phải giao nộp 2 người. Chúng hăm dọa sẽ giết hai cô nếu không quay về động chứa. Chị Út đã nhờ Cảnh sát Ma Cao can thiệp, bọn bảo kê mới bỏ trốn và không dám tìm tới nhà chị Út nữa. Hai cô gái đang được chị Út đùm bọc để chờ ngày trở về Việt Nam.
* Tên một số nhân vật trong bài đã được thay đổi