Edmund Burke và chính thuyết Bảo Thủ 

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

     Vào đầu thế kỷ 17 và 18, các tư tưởng về nhân quyền thiên nhiên (con người thiên nhiên vốn đã có sẵn nhân quyền trước khi gia nhập tổ chức xã hội quy củ) có ảnh hưởng rất mạnh tại Tây phương, đặc biệt là ở Anh, Pháp và Hoa Kỳ. Chính triết lý nhân quyền thiên nhiên đã châm ngòi cho những cuộc cách mạng đòi cải cách xã hội và chính trường. 

  Tưởng cũng cần nhắc đến ở đây là ngành thương mãi bắt đầu phát triển mạnh từ giữa thế kỷ 17 và dần dần lấn chiếm địa vị độc tôn kinh tế (vốn thuộc nghành nông nghiệp trước đây) ở các quốc gia Tây phương. Giai cấp doanh thương bắt đầu muốn có tiếng nói trên chính trường để có thể ảnh hưởng các chính sách liên quan đến quyền lợi của họ. Những thế lực kinh tế mới được hướng dẫn bởi tư tưởng nhân quyền thiên nhiên bắt đầu ủng hộ các yêu cầu cải tạo xã hội, thay đổi cơ cấu chính quyền để phản ảnh được cấu trúc mới của xã hội, nới rộng sự tự do cho nhân dân, v.v. Dĩ nhiên giai cấp địa chủ cầm quyền luôn luôn tìm cách chống lại các nổ lực đòi cải cách bởi vì giai cấp này sẽ bị thiệt thòi nhiều nhất khi cơ chế chính quyền bị thay đổi. Tuy vậy, giai cấp thống trị cũng hiểu rằng nếu các đòi hỏi cải cách không được giải quyết thỏa đáng thì quốc gia có thể bị cách mạng hóa hoàn toàn, và cơ cấu chính quyền đương thời sẽ bị lật đổ như giai cấp cầm quyền Pháp đã bị cuộc cách mạng năm 1789 đào thải. Ðể tránh nguy cơ bị trào lưu cách mạng tiêu hủy, giai cấp thống trị Tây Phương mong muốn có được một chủ thuyết đủ khả năng đánh bật tư tưởng nhân quyền thiên nhiên vốn khuyến khích luồng cách mạng canh tân. Edmund Burke là một trong các triết gia nổi tiếng đã cung cấp cho giai cấp cầm quyền Tây phương một triết thuyết cần thiết: chính thuyết Bảo Thủ. . . . . . . . . . . . 

  Chủ Nghĩa Bảo Thủ
  Tác phẩm Những Suy Nghĩ về Cuộc Cách Mạng Pháp của Burke được xem như là cẩm nang của phe Bảo Thủ. Những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Bảo Thủ cũng được Burke trình bày trong các tác phẩm khác của ông chứ không hẳn chỉ trong quyển Reflections on the Revolution in France. Triết lý quốc trị của Burke được đề cập sau đây phản ảnh những nguyên lý của chủ thuyết Bảo Thủ được trình bày trong tất cả các tác phẩm đó. 

  Nguyên lý căn bản của tư tưởng Bảo Thủ là nguyên lý trật tự. Burke tin tưởng rằng vũ trụ do Thượng Ðế sắp đặt cho nên xã hội của loài người cần phải sinh hoạt theo các luật lệ về luân lý đạo đức của Thượng Ðế. Những nguyên tắc thần luật đều tương tự ở khắp nơi trên thế giới; nhưng mỗi xã hội có thể có luật pháp hiện hành phản ảnh thần luật khác nhau bởi vì các đặc điểm khác biệt của từng địa phương. Cơ cấu chính quyền và luật pháp hiện hành của mỗi xã hội sẽ thay đổi theo thời gian nhưng luôn luôn theo đúng luật lệ của Thượng Ðế. 

  Những nguyên tắc thần luật về luân lý đạo đức của Thượng Ðế đã kết tụ trong luật pháp hiện hành. Luật pháp hiện hành phát triển theo dòng thời gian. Những điều luật này không hoàn toàn đúng theo nghĩa trừu tượng nhưng lại rất hữu dụng như các nguyên tắc hướng dẫn cho con người bởi vì luật lệ hiện hành phát triển theo sự thăng trầm của lịch sử và phản ảnh thực tế xã hội của con người. Burke phủ nhận lối suy nghĩ phỏng đoán (speculate) bởi vì, theo ông, lối suy luận phỏng đoán đưa ra những kết luận không thể kiểm chứng và không phù hợp với thực tế cũng như kinh nghiệm của nhân loại. Nếu không kiểm chứng được các kết luận phỏng đoán, con người chạy theo lý tưởng có thể hành động một cách độc đoán, thiếu cẩn thận và nguy hại. 

  Sự suy luận có chính trị tính phát triển theo dòng lịch sử của nhân loại và phản ảnh tinh thần luật lệ của Thượng Ðế sau một thời gian lâu dài. Biểu hiện của sự suy luận này là cơ cấu tổ chức trong xã hội loài người. Theo Burke, nếu những cơ cấu tổ chức này không hữu dụng thì con người đã không gầy dựng lên. Ông cho rằng lỗi lầm của những người theo chủ nghĩa luận lý với các kết luận phỏng đoán nằm ở chổ họ đánh giá cơ cấu xã hội theo một số quy tắc tiền định mà không hề xem xét giá trị của sự khôn ngoan được cơ cấu xã hội hiện hữu tích trữ theo dòng thời gian. Chính kinh nghiệm quý báu được tích trữ đã giúp cho nhân loại gầy dựng lên một tổ chức xã hội phức tạp và hoàn mỹ. 

  Xã hội biến chuyển theo thời gian và đây là một hiện tượng thiên nhiên. Tuy vậy, sự biến chuyển luôn luôn chậm và từ từ để có thể bảo đảm sự liên tục giữa quá khứ và tương lai. Burke chống lại các lời kêu gọi cách mạng toàn bộ với kết luận là những thay đổi trong tương lai phải theo nhịp độ chậm và từ từ như sự biến chuyển của xã hội trong quá khứ. Tất cả các thay đổi kể cả những chương trình cải cách nhỏ nhặt cũng phải được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi vì xã hội có thể bị xáo trộn. Theo Burke, các chương trình cách mạng toàn bộ dựa trên những quy tắc tiền định không phản ảnh thực tế sẽ tiêu hủy cơ cấu tổ chức xã hội. 

  Burke suy luận là con người ở trong tình trạng thiên nhiên có một đời sống dã man. Nhưng nhân loại vốn là sinh vật hữu lý cho nên đã xây dựng một xã hội văn minh nhằm thi hành luật lệ về đạo đức luân lý của Thượng Ðế. Tổ chức xã hội của con người tốt hơn tình trạng thiên nhiên trước đây bởi vì nó có mục đích giúp cho con người cải thiện để trở thành hoàn mỹ. Xã hội hiện tại được nhân loại xây dựng với mục đích cao hơn nhu cầu bảo vệ an ninh cá nhân (như các triết gia phái nhân quyền thiên nhiên chủ trương) bởi vì nó còn giúp cho con người trở thành hoàn mỹ theo đạo lý của Thượng Ðế. Vì vậy cho nên Burke kết luận rằng nhân quyền trong xã hội không đến từ thiên nhiên hay được tiền định mà đến từ tổ chức xã hội; ý nghĩa và giới hạn của nhân quyền hoàn toàn tùy thuộc vào các yếu tố của xã hội. Sự phúc lợi của cá nhân tùy thuộc vào sự phúc lợi của xã hội cho nên quyền lợi của xã hội phải được đặt lên trên quyền lợi của cá nhân. 

  Tự do là một quyền thiết yếu; tuy vậy nhân loại cần phải ý thức được là chính sự tự do có xã hội tính, thay vì tự do cá nhân, mới thực sự quan trọng bởi vì sự phúc lợi của cá nhân tùy thuộc vào sự phúc lợi của xã hội. Sự tự do mang xã hội tính không thể tồn tại nếu xã hội ở trong tình trạng mất trật tự. Con người phải biết tự chế ngự tham vọng cá nhân nếu muốn xây dựng trật tự xã hội. Con người càng biết kiềm chế tham vọng cá nhân thì xã hội càng trở nên trật tự hơn. Burke cho là xã hội phải chế ngự những công dân không thể tự kiềm chế bởi vì hành động của những kẻ này đưa xã hội đến tình trạng xáo trộn. 

  Hoàn cảnh của xã hội chớ không phải những nguyên tắc trừu tượng quyết định các giới hạn của sự tự do, và chính hoàn cảnh xã hội sẽ khiến một sách lượt chính trị trở thành có lợi hay có hại cho nhân loại. Burke chỉ trích nhóm triết gia chuyên dùng phương pháp trừu tượng hay siêu hình để đưa ra các nguyên tắc tự do. Theo ông, con người được hưởng tự do tùy theo hoàn cảnh cá nhân cho nên không ai cũng được tự do như nhau; vì vậy cho nên cơ cấu chính quyền sẽ thay đổi để phù hợp theo hoàn cảnh xã hội nhằm có thể đạt được những mục tiêu chính đáng của xã hội: giúp cho con người cải thiện để trở thành hoàn mỹ. 

  Con người không có quyền tự quản trị và quyết định những sự việc liên quan tới mình (govern oneself). Theo Burke, quyền tự quyết của mỗi người là một ý nghĩ sai lầm đến từ tư tưởng nhân quyền thiên nhiên. Nhân loại sống trong tình trạng thiên nhiên dã man có thể có quyền tự quyết; nhưng nhân loại đã từ bỏ quyền tự quyết cá nhân cũng như các nhân quyền siêu hình khác khi bắt đầu tạo dựng tổ chức xã hội. Trong xã hội văn minh, chính quyền được thành lập trên sự đồng ý của các thành viên trong xã hội. Chính quyền phản ảnh sự tín nhiệm của nhân dân; tuy vậy, không phải sự tán thành của mỗi cá nhân trong xã hội đều có giá trị như nhau. Sự đồng ý về tổ chức chính quyền của một người vô học và nghèo nàn không thể được xem như ngang hàng sự đồng tình của một cá nhân có tài sản và được giáo dục. 

  Theo Burke, tổ chức xã hội biểu hiện hiệp ước xã hội giữa các thành viên trong quốc gia, nhưng hiệp ước xã hội này không giống như khế ước xã hội trong tư tưởng nhân quyền thiên nhiên. Ông quan niệm là hiệp ước xã hội của nhân loại quan trọng và bao quát hơn những khế ước bình thường như chúng ta thường thấy trong đời sống hàng ngày. Hiệp ước xã hội là một giao kèo giữa các thế hệ trong quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như bao gồm tất cả những lãnh vực như khoa học, văn hóa, đạo đức, v.v. Hiệp ước xã hội không thể bị hủy bỏ bởi vì một vài thành viên của hiệp ước bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng trừu tượng. Khác với quan niệm khế ước xã hội của Locke vốn cho phép con người làm cách mạng để cải tổ xã hội, quan niệm hiệp ước xã hội của Burke nâng cao quốc gia, những truyền thống lâu đời và chống lại những ý tưởng cách mạng bạo động. 

  Quốc gia không phải chỉ là một xã hội được con người tạo dựng lên để đạt một mục đích nhất định trong một khoản thời gian nhất định. Quốc gia biểu hiện sự kết tụ kinh nghiệm của nhiều thế hệ phát triển theo ý muốn của Thượng Ðế. Tất cả các cơ chế trong xã hội được xây dựng với mục đích hữu dụng bởi vì nhân loại sẽ không tổ chức quốc gia và các cơ chế này nếu nổ lực xây dựng không đem lại ích lợi gì cho nhân loại; vì thế cho nên nếu xã hội cần được cải cách, chương trình cải tiến phải được áp dụng từ từ trong tinh thần tôn trọng các thành tựu quá khứ. 

  Khi bàn về cơ chế chính quyền, Burke cho là mọi chính thể hoàn toàn tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội. Kinh nghiệm chính là sự chỉ đạo tốt nhất cho con người trong việc tổ chức hay cải cách chính quyền. Hoàn cảnh có thể khiến con người tổ chức một chính thể dân chủ nhưng Burke tin là việc này khó có thể xảy ra (độc giả nên biết là Burke chỉ trích cuộc Cách Mạng Pháp nhưng lại hết lòng ủng hộ phong trào Cách Mạng Hoa Kỳ); song song, theo Burke, một chính thể dân chủ mà trong đó đa số đàn áp thiểu số có thể trở nên tồi bại hơn chế độ độc tài do một lãnh tụ nắm quyền. Tóm lại, chính quyền nên được xây dựng trên kinh nghiệm thay vì những ý tưởng siêu hình thiếu thực tế. 

  Chương trình cải tổ chính quyền cần phải dựa trên những kinh nghiệm và sự khôn ngoan được tích lũy trong quá khứ. Không một chương trình cải cách nào nên được thực hiện nếu chưa được nghiên cứu kỷ lưỡng. Cách mạng phải được xem như là giải pháp cuối cùng bởi vì bạo lực cách mạng sẽ tiêu hủy nền tảng quốc gia vốn được xây dựng qua nhiều thế kỷ. Giải pháp cách mạng chỉ nên được sử dụng đối với những chính thể lạm quyền và xáo loạn khiến viễn ảnh tương lai trở nên thật kinh hoàng. Theo Burke, giải pháp cách mạng chỉ nên để các lãnh tụ có khả năng hướng dẫn như cuộc cách mạng Anh năm 1688 bởi vì cách mạng vốn để cải tổ xã hội chứ không phải tiêu hủy xã hội. 

  Burke ca ngợi cuộc Cách Mạng Anh bởi vì, theo ông, cuộc cách mạng này được hướng dẫn bởi thành phần hiểu biết (thành phần quý tộc) trong xã hội với chủ trương cải tổ chính quyền cũng như bảo vệ Hiến Pháp chứ không phải tiêu hủy Hiến Pháp. Burke không tin tưởng vào khả năng và kiến thức của thường dân. Những nghề tầm thường như nghề hớt tóc, nghề buôn bán mở bò, v.v., không đem đến cho con người sự hãnh diện. Những người làm các nghề này không thể bị kỳ thị bởi vì cách kiếm sống tầm thường của họ; tuy vậy, danh dự của quốc gia sẽ bị bôi nhọ nếu họ nắm quyền điều khiển chính phủ. 

  Chính quyền phải được quản trị bởi một thành phần lãnh đạo được chọn lựa từ những cá nhân có khả năng, tài sản, và tước phẩm. Tiêu chuẩn khả năng phải được xem là tối quan trọng; tuy vậy, chỉ những người có khả năng và có tài sản được chọn lựa vào thành phần lãnh đạo bởi vì những kẻ có khả năng nhưng không có tài sản sẽ cưỡng chiếm và tiêu diệt quyền tư hữu. Sự khác biệt về tài sản cá nhân là một sự kiện hiển nhiên cho nên quốc gia phải ban hành và bảo vệ quyền tư hữu. Ða số dân nghèo vốn có lòng ganh tị với giai cấp thượng lưu cho nên họ sẽ dùng bạo lực để cưỡng đoạt tài sản của thành phần giàu có nếu chính quyền không ngăn cản họ. Burke không tin là chính sách phân chia tài sản đồng đều trong xã hội có thể giúp đỡ đa số dân nghèo bởi vì tổng số tư sản của thiểu số giàu có, nếu được chia ra cho đa số dân nghèo, sẽ trở nên những phần tài sản quá nhỏ nhặt không đáng kể. Song song với hai tiêu chuẩn khả năng và tài sản, tiêu chuẩn tước phẩm cũng cần được lưu ý đến. Mặc dầu là giai cấp quý tộc chưa chắc có khả năng bằng thường dân nhưng sự hiện diện của họ (những người có tước phẩm) trong chính quyền đóng góp vào sự ổn định của xã hội - một yếu tố rất quan trọng cho quốc gia. 

  Thành phần lãnh đạo quốc gia không cần phải được bầu lên theo tiêu chuẩn đầu phiếu như trong một chính thể dân chủ, nhưng các lãnh tụ chính quyền cần phải đại diện cho một số cử tri được phân chia theo tiêu chuẩn giai cấp (số cử tri do các lãnh tụ đại diện không hẳn phải bằng nhau) để có thể thấu hiểu được nhu cầu của nhân dân. Thành phần lãnh đạo quốc gia phải quan tâm đến ý kiến của dân nhưng không nên bị dân ý thống trị. Thành phần lãnh đạo cũng phải luôn luôn để ý đến quyền lợi của nhân dân. 

  Trách nhiệm chính của thành phần lãnh đạo quốc gia là giữ cho xã hội được ổn định. Ngoài các pháp quyền bình thường, chính phủ còn có thể sử dụng ba nguyên tắc tư sản, tôn giáo và thành kiến để ổn định xã hội. Những người nghèo thường phải sống tùy thuộc vào kẻ giàu, và tình trạng này dần dần trở thành một truyền thống - thành phần thượng lưu có thể kiểm soát giai cấp nghèo trong xã hội. Tôn giáo cũng là thế lực bảo an quan trọng bởi vì tôn giáo có thể giải thích theo lối thần học những hiện tượng mà khoa học không thể giải thích nổi. Tôn giáo có khả năng giải quyết các nghi vấn nguy hiểm và cung cấp cho thành phần nghèo một số hy vọng (ở thiên đường) khiến họ không nổi loạn (ở xã hội hiện tại). Những thành kiến vốn đã tồn tại từ xa xưa cũng nên được sử dụng để giữ cho xã hội được ổn định. Các thành kiến này khó có thể đứng vững nếu được phân tích một cách khách quan; tuy vậy, các thành kiến này nên được bảo vệ bởi vì chúng giúp cho con người hành động nhanh chóng (theo thành kiến) trong những trường hợp khẩn cấp mà không phải tính toán để rồi đưa đến các hành động khó lường trước kết quả. 

  Cũng để nhằm mục đích ổn định xã hội, Burke đưa ra ý tưởng Hiến Pháp thuyên chuyển (prescriptive constitution - Prescription là một nguyên tắc pháp định của luật pháp Anh quốc cho phép một người được quyền sử dụng đất đai không phải là của mình nếu người đó đã sử dụng mảnh đất kể trên trong một thời gian dài trước đây). Burke quan niệm rằng Hiến Pháp thuyên chuyển có pháp quyền từ sự tồn tại lâu đời (truyền thống), thay vì đến từ sự tán thành của nhân dân.   Hiến Pháp cũng như cơ chế chính quyền đã tồn tại lâu đời cho nên cần phải được tôn trọng hơn những hình thức tổ chức trừu tượng chưa bao giờ được thử nghiệm trong thực tế. Burke chỉ trích các nhà lãnh đạo cuộc Cách Mạng Pháp bởi vì họ chủ trương tàn phá và thay đổi toàn thể guồng máy chính quyền trước đó. Một dân tộc thận trọng và khôn ngoan luôn luôn giữ lấy kinh nghiệm của cha ông trong khi tiến hành những chương trình cải cách xã hội. Burke khen ngợi những người cầm đầu cuộc Cách Mạng Anh bởi vì họ biết chống lại hấp lực của các tư tưởng nổi loạn do Rousseau, Voltaire, Helvetius, v.v., đưa ra và biết giữ lại sự rộng lượng cũng như giá trị của trào lưu tư tưởng thuộc thế kỷ 14. Theo Burke, dân tộc Anh đã hiểu rằng không thể có những phát minh mới về lãnh vực đạo đức cũng như cơ chế chính quyền, và sự tự do đã được sáng tạo trước khi thế hệ đương thời ra đời; vì vậy cho nên nhân loại cần tập trung trí lực để chống lại sự cải cách thay vì thử nghiệm những tư tưởng cách mạng trừu tượng chưa bao giờ được áp dụng trong thực tế. 

. . . . . . . . . .                 Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr.187-198