Tác phẩm Ðại Học và Trung Dung

Trích từ Diển Đàn Dân Chủ

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

        Ngoài các tác phẩm chính của Khổng Tử, giáo điển Khổng học còn có hai tài liệu quan trọng xuất hiện vào khoảng thế kỷ IV tr.T.L. nhưng không rõ xuất xứ là sách Ðại Học và sách Trung Dung. Có học giả suy nghĩ rằng Ðại Học và Trung Dung là 'sự kết tinh của tư tưởng Nho gia ở cái khoảng đời Chu và đời Tần; sau này các nhà đạo học đời Tống và Minh phần lớn căn cứ vào hai cuốn đó mà bàn về nhân sinh.' Có học giả kết luận là hai tác phẩm này xuất hiện trước thời Mạnh Tử và Tuân Tử để bắc cầu cho tư tưởng 'tôn trọng cá nhân' của Mạnh Tử cũng như chủ trương 'nhân sinh tâm lý' của Tuân Tử. 

         Vai trò quan trọng của hai tác phẩm Ðại Học và Trung Dung có lẽ nằm ở nền tảng phương pháp luận của tác giả; tất cả các vấn đề bàn đến đều được phân tích từ gốc đến ngọn rất là minh bạch và hợp lý. Qua dòng thời gian, các minh ý trong hai tác phẩm này dần dần chiếm được vị trí đặc biệt trong trào lưu tư tưởng Á Ðông và đã ảnh hưởng bao trùm lên phép xử thế của Nho gia. Những trang kế tiếp sẽ cố gắng trình bày cũng như phân tích sơ lược nội dung của hai tác phẩm quý báu này. 

Ðại Học
Sách Ðại Học được sắp xếp vào bộ Lễ Ký và có lẽ đã xuất hiện vào thế kỷ IV tr.T.L. Nội dung của tác phẩm Ðại Học không chứa đựng nhiều ý tưởng siêu hình như nội dung của sách Trung Dung, nhưng cấu trúc của chương trình rèn người theo Nho giáo trong tác phẩm này được hệ thống hóa rất là khoa học. Thế hệ hậu nhân có thể xem tác phẩm Ðại Học như một trong các cẩm nang tu thân quan trọng của Nho gia. 

        Sau khi Khổng Tử qua đời, một số nhà Nho như Tăng Tử và học trò Nhạc-Chính Tử-Xuân nhấn mạnh chữ 'hiếu' của đạo Nho và đưa đến tình trạng 'sống vì cha mẹ' mà không quý trọng bản thân (tương tự như tục ngữ Việt Nam 'cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó'). Chủ trương trọng chữ 'hiếu' một cách cực đoan này đã gặp nhiều phản ứng từ các trường phái khác như chủ nghĩa cá nhân cực đoan của Dương Chu (Cố trí chi sở quý, tồn ngã vi quý [Trí con người quý báu bởi vì có thể bảo tồn 'cái tôi']) hay quan niệm bác ái của Mặc Tử. Ðối diện với các trào lưu tư tưởng quan trọng này, tác giả sách Ðại Học chuyển hướng từ chủ trương tôn sùng chữ 'hiếu' một cách mù quáng sang trọng tâm 'cá nhân' với một chương trình 'tu thân' đặc sắc và hợp lý. Trong khi Hiếu Kinh bàn rằng 'từ bậc thiên tử cho đến hàng thứ dân, hiếu không chung thủy mà có kẻ còn lo sợ không kịp là chưa từng có vậy,' sách Ðại Học chủ trương là 'từ bậc thiên tử đến hàng thứ dân, tất cả đều lấy sự tu thân làm gốc.' 

        Triết học quốc trị trong sách Ðại Học xoay quanh chữ 'đức' và suy luận rằng người có tài mà vô đức thì cũng chỉ trở thành kẻ gây loạn. 'Cho nên bậc quân tử trước hết phải thận trọng cái đức của mình.. Ðức là cái gốc. Tài là cái ngọn. Bỏ gốc ra mà lấy ngọn vào tức là tranh với dân, là xâu xé nhau vậy.' Chương mở đầu của sách Ðại Học đã xác định minh lộ hay chân lý của Ðại Học (Ðại Học chi đạo) là nhằm 'trình bày rõ ràng cái đức sáng, thương yêu nhân dân, ngừng ở mức chí thiện.' ('Ðại học chi đạo: tại minh chi đức, tại thân dân, tại chi ư chí thiện.') Phương pháp rèn người của sách Ðại Học đòi hỏi thế hệ hậu nhân phải cố gắng sống và xử sự một cách đạo đức để làm rạng rỡ minh đức, yêu thương nhân dân, và kiên trì học hỏi để thấu triệt đạo (học hỏi đến nơi đến chốn). 

        'Cái đạo của Ðại Học ở chỗ làm sáng các đức sáng vốn có của mình, ở chỗ làm cho tân dân, đạt đến mức chí thiện.. Vật có gốc ngọn, việc có đầu kết, biết được cái trước cái sau ắt sẽ gần với đạo vậy.' 

   
     Chương trình rèn người của sách Ðại Học bắt buộc hậu nhân phải thành ý với chính bản thân mình rồi mới có thể tiến xa được. Không có lòng thành thì những gì một cá nhân cố gắng thực hiện chỉ là bình phong giả tạo và không đem lại ích lợi gì cho bản thân mà còn có thể gây ra hậu quả tác hại lâu dài cho xã hội. 

        'Gọi là thành cái ý của mình tức là không tự dối bản thân.. như vậy là tự thành thực với mình; cho nên bậc quân tử luôn luôn thận trọng (giữ mình) khi chỉ riêng một mình.' 

        Sau khi đã quyết định học tập Nho giáo (chớ có dối lòng mình) thì hậu nhân phải theo chương trình rèn người bao gồm tám (8) bước như sau: 

1. Cách vật (Nghiên cứu, phân tích sự việc kỹ lưỡng để biết trong, biết ngoài.) 

2. Trí tri (Hiểu biết sự việc một cách tường tận.) 

3. Thành ý (Sau khi nghiên cứu và hiểu biết cặn kẽ sự việc thì mới có thể có ý kiến hay tư ý chính xác [nhận xét hay kết luận rõ ràng] về sự việc.) 

4. Chính tâm (Khi đã có tư ý chính xác thì tâm trí mới được minh chính để quyết định đúng đắn phương hướng tu thân.) 

5. Tu Thân (Khi đã quyết định đúng đắn phương hướng tu thân thì cố gắng rèn luyện nhân cách, học hỏi đến nơi đến chốn.) 

6. Tề gia (Giáo dục và lo cho gia đình chu đáo bởi vì việc nhỏ không làm được thì khó mà có thể hoàn tất đại sự.) 

7. Trị quốc (Thịnh trị quốc gia.) 

8. Bình thiên hạ (An định thiên hạ.) 

        Chương trình rèn người bao gồm tám (8) bước trên được tác giả sách Ðại Học diễn tả như sau: 
        'Vật có gốc ngọn, việc có đầu đuôi, biết được trước sau là gần được đạo rồi. Cổ nhân muốn trình bày rõ ràng minh đức (đức sáng) trong thiên hạ thì trước hết phải trị quốc; bản thân muốn trị quốc thì phải tề gia; muốn tề gia thì phải tu thân; muốn tu thân thì phải thành ý; muốn thành ý thì phải trí tri; (mà) trí tri có nguồn gốc ở cách vật. Cách vật rồi sau mới có thể trí tri, trí tri rồi sau mới có thể thành ý, thành ý rồi sau mới có thể chính tâm, chính tâm rồi sau mới có thể tu thân, tu thân rồi sau mới có thể tề gia, tề gia rồi sau mới có thể trị quốc, trị quốc rồi sau mới có thể bình thiên hạ. Từ bậc thiên tử cho đến thường dân nhất loạt phải lấy sự tu thân làm gốc.' 

        Về phương diện tâm lý, sách Ðại Học đòi hỏi hậu nhân khi tu thân phải giữ gìn 'tâm' cho chính. 'Tu thân nghĩa là phải giữ cho chính cái tâm của mình. Nếu tâm của mình ưa hờn giận thì chẳng giữ được ngay thẳng, mà ham vui sướng thì chẳng giữ được ngay thẳng, hay lo rầu thì chẳng giữ được ngay thẳng. Tâm không yên ắt nhìn không thấy, lắng chẳng nghe, ăn chẳng cảm thấy mùi vị..'' Ðây là một bước tiến quan trọng cho Nho giáo bởi vì nó mở cánh cửa tâm lý nội quan cho đạo Khổng vốn từ trước chỉ bàn về ngoại quan, tức là lãnh vực thực tiễn, thay vì phân biệt giữa 'tâm' và 'lý.' Sách Ðại Học bắt buộc Nho gia giữ gìn 'chính tâm' ngay cả khi không bị ai dò xét; bậc quân tử phải luôn luôn bảo vệ 'chính tâm' bởi vì thực tâm bên trong thường hiện rõ ra tư cách bên ngoài. (Ðộc giả sẽ thấy trong phần bàn về sách Trung Dung thì chủ trương 'chính tâm' này được phát triển cao hơn một bậc đến mực 'hòa' tức là khả năng phát tâm chính xác để hòa đồng với thực tế đời sống chứ không chỉ khư khư ôm lấy cái 'chính tâm' một cách cô độc.) 

        Bậc quân tử phải thành ý tu thân và luôn luôn giữ gìn đạo đức, lễ nghĩa ngay cả khi chỉ ở một mình không bị ai dòm ngó. Trong khi đó thì tiểu nhân luôn luôn có ý làm điều bất thiện, cố gắng che giấu cái xấu của chúng khi đối diện bậc quân tử; tuy vậy cái xấu của chúng vẫn hiện ra rõ bởi vì 'cái gì đã có thật ở trong thì tất lòi ra ngoài.' 

        'Tiểu nhân ở không thì có hành động bất thiện (tiểu nhân nhàn cư vi bất thiện). Khi gặp bậc quân tử thì lấm lét che giấu việc xấu của mình và phô bày việc tốt ra. Nhưng người ta nhìn thấy được gan phổi của nó rồi, như vậy có ích lợi gì? Ðó tức là cái gì đã có thật ở trong thì tất lòi ra ngoài. Cho nên bậc quân tử tất phải thận trọng (giữ mình) trong khi chỉ có một mình.' 


Trung Dung 
Sách Trung Dung được sắp xếp vào bộ Lễ Ký. Có thuyết cho là tác phẩm Trung Dung được Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử và là thầy của Mạnh Tử) sáng tác để diễn tả đức trung dung mà Khổng Tử thường đề cập đến; nhưng không có bằng chứng gì để xác định Tử Tư chính là tác giả. Sách Trung Dung được lưu lại cho đến ngày nay không còn nguyên thủy vì được lớp hậu sinh bình giảng thêm vào cũng như bị thất lạc phần lớn; tuy vậy nền tảng phương pháp luận trong tác phẩm này vẫn được biểu lộ minh bạch. 

        'Mệnh trời gọi là tính, làm phát triển tính gọi là đạo, tu sửa đạo gọi là giáo.' 
        'Lòng thành là đạo của trời vậy. Hoàn thành cái đạo ấy là đạo của người vậy. Từ cái lòng thành phát ra nguồn sáng gọi là tính. Từ nguồn sáng trở nên lòng thành là công phu của giáo dục.' 


        Cũng tương tự như quan niệm tôn trọng cá nhân trong sách Ðại Học, tác giả sách Trung Dung suy luận rằng bậc quân tử khi giữ chữ 'hiếu' cũng cần phải lo tu thân và biết đến 'người và trời;' và vạn sự bắt đầu từ việc học hay tu thân. 'Cho nên bậc quân tử không thể không tu thân. Lo tu thân không thể không phụng sự cha mẹ. Lo phụng sự cha mẹ không thể không biết người. Lo đến người không thể không biết trời.' 

        Tác phẩm Trung Dung chú trọng đến đức thành như một đức tính do bẩm sinh mà có hoặc có thể học được. Ðức thành đòi hỏi con người phát triển tất cả các bản tính cá nhân để có thể hợp với trời và hành động theo thiên địa (thiên thời, địa lợi, nhân hòa). 

        'Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ là có thể tận được cái tính của mình. Có thể tận được cái tính của mình ắt có thể tận được cái tính của nhân loại. Tận được cái tính của nhân loại ắt tận được cái tính của vạn vật. Tận được cái tính của vạn vật thì có thể góp sức vào công việc hóa dục của trời đất. Có thể góp sức vào công việc hóa dục của trời đất thì có thể tham dự vào địa vị thứ ba của hệ thống trời-đất-người vậy.' 

        'Tự nhiên mà được là đức thành, rồi rõ điều thiện là nhờ tính; rõ được điều thiện rồi mới hóa ra thành là nhờ giáo. Ðã thành thì sáng suốt, đã sáng suốt thì thành.' 'Người chí thành có khả năng tiên tri: (biết trước) quốc gia hưng thịnh, tất có điềm lành; quốc gia tương vong, tất có điềm yêu nghiệt.. cho nên người chí thành thì như là thần.' 

        'Phàm trị thiên hạ, quốc gia có chín phép thường là: tu thân, tôn hiền nhân, thương người thân, kính đại thần, hiểu để lượng thứ cho bề tôi, xem nhân dân như con, chiêu hiền tài, chiếu cố khách xa, thương các nước chư hầu.. Trị thiên hạ, quốc gia có chín phép ấy, nhưng thi hành được chín phép ấy là nhờ vào (đức thành). 


        Bậc lãnh đạo quốc gia muốn đạt được đức thành thì phải kiên trì 'học cho rộng, hỏi cho rõ, nghĩ cho kỹ, phân biệt cho ra, dốc lòng mà làm. Có điều không học, nhưng đã học mà chưa đến nơi thì không chịu bỏ; có điều không hỏi, nhưng đã hỏi mà chưa biết rõ thì không chịu bỏ; có điều không phân biệt, nhưng đã phân biệt mà chưa rõ ràng thì không chịu bỏ; có điều không làm, nhưng đã làm mà chưa dốc hết lòng thì không chịu bỏ; người ta làm một lần mà được, mình làm trăm lần; người ta làm mười lần mới được, mình làm nghìn lần. Nếu quả theo được cách ấy thì tuy ngu cũng hóa sáng, yếu cũng thành mạnh.' 

        Khi bàn về khía cạnh tâm lý nội quan, sách Trung Dung nhấn mạnh đến đức trung dung. Ðức trung dung ở đây tương tự như yếu tố 'chính tâm' trong sách Ðại Học nhưng còn phát triển thêm đến bực 'hòa.' Trong khi 'chính tâm' đòi hỏi hậu nhân phải giữ gìn cho tâm được yên, tác giả Trung Dung đi sát với thực tế cho nên đòi hỏi hậu nhân phải biết bày tỏ tình cảm chính xác 'phát ra mà trúng tiết thì gọi là hòa.' Con người tu thân theo Ðại Học thì có thể luôn luôn nghiêm nghị; và con người thấu triệt Trung Dung thì ôn hòa từ tốn, khi cần vui thì vui, và khi cần nghiêm nghị thì nghiêm nghị. 

        'Vui, giận, buồn, sướng chưa phát ra ngoài thì gọi là trung. Phát ra mà trúng tiết thì gọi là hòa. Trung là cái gốc lớn của thiên hạ vậy. Hòa là cái thiên hạ phải theo để đạt được đạo vậy.' 

        'Quân tử trung dung, tiểu nhân phản trung dung' (Quân tử thì trung dung, tiểu nhân thì không trung dung). Ðức trung dung đòi hỏi người quân tử phải biết giữ cái trật tự trung hòa, không cực đoan, không quá khích nhằm hợp với thời thế;Ạ có khi thời thế đòi hỏi phải hành động thì làm hết mình nhưng khi thời thế bắt buộc thụ động thì giữ tâm lặng như mặt hồ không sóng dợn. Bậc quân tử luôn luôn lấy thiên lý làm tiêu chuẩn hành động mà tuyệt đối tránh các tư tưởng hay hành vi cố chấp cục bộ. 

        'Nguyên lý tự nhiên thiên phú là tính; thuận theo tính là đạo; sửa cho hợp đạo gọi là giáo. Ðạo là cái không thể dời được một chốc lát nào, hễ dời được thì không phải là đạo.. Mừng, giận, thương, vui khi chưa phát ra thì gọi là trung, phát ra mà đúng chừng mực thì gọi là hòa. Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, hòa là quan lộ thông thản trong thiên hạ; nếu trung hòa đúng mực thì trời đất được yên, vạn vật được sinh nở phồn thịnh.' 

        Ðức trung dung rất khó thi hành đến nỗi 'thiên hạ, quốc gia có thể cai trị cho công bằng được, tước lộc có thể từ chối được, mũi nhọn có thể chà đạp lên được mà trung dung thì không thi hành được.' Sách Trung Dung có viết là ngay cả Khổng Tử còn phải tự thú: 'Ta biết tại sao đức (trung dung) không thi hành được: bậc trí giả thì quá đi, kẻ ngu thì bất cập; ta biết tại sao đạo không quang minh được: người giỏi thì quá đi, người không giỏi thì bất cập. Người ai chẳng ăn uống, nhưng ăn uống mà biết mùi thì ít lắm vậy.' 

        Người có đức trung dung có '.. tánh chuộng học vấn, tánh quảng đại nhưng không thiếu sự tinh vi, cực cao minh nhưng theo trung dung đạo, ôn việc cũ và biết việc mới, đôn đốc hậu tình mà không quên tôn thượng lễ nghi.' Tác giả của sách Trung Dung chủ trương là bậc quân tử phải rèn luyện nhân, trí và dũng để có thể đạt được đạo. 'Khổng Tử nói: Ham học là gần được trí, gắng sức mà làm là gần được nhân, biết thẹn là gần được dũng. Biết ba điều ấy là biết cách tu thân, biết cách tu thân thì biết cách trị người, biết cách trị người thì biết cách trị thiên hạ, quốc gia.' 

        Ðức trung dung của quân tử nhạt mà không chán, giản dị mà có văn vẻ, ôn hòa mà hợp lý. Khi học đạo, quân tử cũng giống như người tập bắn tên, bắn không trúng bia thì tự xét lại mình. Quân tử tùy vào hoàn cảnh mà hành sự cho nên không cầu mong điều gì nằm ngoài thực trạng hay khả năng của mình. Khi phú quý thì hành động theo hoàn cảnh phú quý, khi nghèo nàn thì hành động theo hoàn cảnh nghèo nàn, ở với mọi rợ thì hành động theo hoàn cảnh mọi rợ, lâm hoạn nạn thì hành động theo hoàn cảnh hoạn nạn. Người quân tử không ở trong cảnh ngộ nào mà tự mình không thấy thú vị. Khi đạt đạo, tư cách hay cử chỉ của quân tử có thể trở thành đạo lý cho thiên hạ đời đời, hành vi của quân tử có thể làm khuôn phép cho thiên hạ đời đời, ngôn từ của quân tử có thể làm tiêu chuẩn cho thiên hạ đời đời, khiến người ở xa thì cầu mong, kẻ ở gần không cảm thấy chán chường. 

Dương Thành Lợi: Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương, tr. 49-67