Hegel và tư tưởng quốc gia cực đoan
(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.)
Cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789 đã giúp đánh bóng uy tín của các triết gia theo chủ thuyết duy lý (rationalism) - vốn là căn bản triết lý cho phong trào cải cách. Tuy nhiên những tệ nạn xáo trộn xã hội và chiến tranh triền miên sau đó đã làm nhiều người đặt lại vấn đề về sự ích lợi của bạo lực cách mạng. Một số triết gia, điển hình là Rousseau và Burke, đưa ra những quan niệm mới chú trọng vào quyền lợi tập thể, thay vì quyền lợi cá nhân, khác với tư tưởng duy lý. Tư tưởng của Burke được cổ vỏ trong các tác phẩm của một số triết gia đồng thời như Immanuel Kant (dựa vào học thuyết của Montesquieu và Rousseau để kết luận như Burke rằng quốc gia là sản phẩm của trào lưu lịch sử và nhân loại không có quyền làm cách mạng) và Johann Fichte (nâng cao uy quyền của quốc gia và kích thích tinh thần yêu nước của dân Ðức). Nhưng Âu Châu phải đợi đến sự trưởng thành của Hegel thì chủ nghĩa Bảo Thủ của Burke mới được Hegel khai triển tối đa để hổ trợ cho tư tưởng quốc gia cực đoan.
. . . . . . . . .
Học Thuyết Quốc Trị của Hegel
Khía cạnh nổi bật nhất trong học thuyết của Hegel là nguyên tắc nghiên cứu lịch sử (hay triết lý lịch sử) để học hỏi kinh nghiệm. Ðồng thời với ông, các triết gia thuộc trường phái duy lý cho là những cơ cấu tổ chức được xây dựng trong quá khứ phải bị phá vở để xây dựng một cơ cấu xã hội mới trên căn bản luật pháp thiên nhiên hầu bảo vệ quyền tự do cá nhân. Theo trường phái duy lý, tự do được xem như là quyền tự do sinh hoạt mà không bị chính quyền cản trở; con người sẽ được tự do hơn nếu chính quyền bớt kiểm soát các sinh hoạt của họ. Quá khứ chỉ hàm chứa toàn bất công và giới hạn sự suy nghĩ hợp lý (logic) của con người cho nên quá khứ (hay lịch sử) không có gì đáng - ngoại trừ những bài học tiêu cực (negative) - cho thế hệ hậu sinh nghiên cứu học hỏi.
Hegel không đồng ý với quan niệm bi quan về lịch sử của các triết gia thuộc trường phái duy lý. Theo ông, lịch sử tồn tại có lý do riêng của nó và theo một trào lưu liên tiếp với khuôn mẫu đặc biệt - được ông gọi là Tư Tưởng (Idea) hay Linh Hồn Thế Giới (World Spirit). Thế giới có định mệnh và luôn luôn sinh hoạt theo định mệnh do Thượng Ðế - tác giả của Tư Tưởng - đặt ra. Tư Tưởng được phản ảnh qua văn hóa hay nền văn minh của các dân tộc. Tư Tưởng biểu hiện sự suy luận của Thượng Ðế mà con người - kể cả những triết gia theo chủ trương duy lý - không thể hiểu nổi cho đến khi thế giới đi đến giai đoạn cuối cùng của lịch sử. Con người không thể thấu hiểu hoàn toàn Tư Tưởng cho nên không thể đoán trước được những gì sẽ xảy ra trong tương lai; ngay cả những học giả thông minh nhất cũng không thể dự đoán tương lai bằng cách nghiền ngẩm các bài học lịch sử. Tuy vậy, sự nghiên cứu lịch sử giúp cho con người hiểu đuợc một phần của Tư Tưởng - những chuyện đã xảy ra trong quá khứ chứ không phải viễn ảnh tương lai.
Tư Tưởng của Thượng Ðế là lịch sử của nhân loại và từ từ phô bày qua những sự kiện lịch sử. Thượng Ðế dùng một tiềm lực để đưa Tư Tưởng di chuyển trong trào lưu lịch sử. Con người bị tiềm lực này kiểm soát hoàn toàn và không thể làm gì khác hơn. Ðặc điểm của tiềm lực này là nó đưa con người theo tiến trình cấp tiến qua từng giai đoạn cho đến giai đoạn cuối cùng vốn sẽ giúp cho con người đạt được sự tự do hoàn toàn; mỗi giai đoạn kế tiếp luôn luôn tiến bộ hơn giai đoạn vừa trải qua. Con người chỉ có thể chấp nhận chứ không thể chận đứng hay thay đổi trào lưu lịch sử. Con người chỉ mong có thể hiểu được những sự kiện đang xảy ra - Tư Tưởng hay khuôn mẫu lịch sử - để có thể kết hợp với Tư Tưởng: con người đạt được sự tự do nếu có thể hoàn tất sứ mạng này.
Sự tự do không có nghĩa là con người sống ngoài lề khuôn mẫu lịch sử; con người chỉ thật sự được tự do khi biết tôn thờ Tư Tưởng hay sống theo khuôn mẫu lịch sử. Con người đạt được sự tự do thật sự khi hiểu được và sống theo Tư Tưởng và, như vậy, chúng ta sống theo sự suy luận của Thượng Ðế. ễ mỗi giai đoạn lịch sử, con người đều cố gắng sống theo Tư Tưởng của Thượng Ðế. [Trước Hegel, Văn Sĩ Gotthold Ephraim Lessing (1729-1781) cũng từng viết là các tôn giáo lớn đã giúp con người ở mỗi giai đoạn khác nhau phát triển về phương diện tinh thần; quan niệm của Lessing có lẻ đã ảnh hưởng lối suy tư của Hegel không nhiều thì ít.]
Hegel lưu ý mọi người rằng nổ lực phân tích lịch sử một cách khô khan không thể giúp cho con người phân biệt giữa sự kiện thật (real) và sự kiện hiển nhiên (apparent). Kỷ thuật phân tích vấn đề đòi hỏi một học giả chia vấn đề thành nhiều khối nhỏ để tìm hiểu từng sự kiện; nhưng nếu chỉ làm như vậy, học giả sẽ không nhìn được toàn diện vấn đề. Tổng hợp giá trị của các khối nhỏ chưa hẳn biểu hiện được hoàn toàn giá trị của vấn đề; vấn đề thường có giá trị cao hơn tổng hợp giá trị của các sự kiện tạo thành vấn đề. Phương pháp phân tích để tìm hiểu từng sự kiện không giúp cho con người hiểu hết giá trị của một vấn đề và đưa đến trạng thái chủ quan: sự tự tin là con người có thể xây dựng được những cơ chế xã hội theo ý muốn riêng. (Hegel cho là tất cả những sự việc xảy ra trong xã hội đều theo sự sắp đặt trước của Thượng Ðế.) Sự chủ quan của con người dần dần đưa đến chủ nghĩa cá nhân, và sự tự cao khiến xã hội hết tôn trọng lịch sử và trở nên xáo trộn; kết quả cuối cùng là cách mạng cải cách. Ðây chính là sự sai lầm của chủ nghĩa duy lý. Muốn tránh sai lầm này, con người cần nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu Tư Tưởng qua phương pháp biện chứng (duy tâm). Biện chứng pháp (dialectic) là phương pháp phân tích từng dữ kiện cũng như tổng hợp vấn đề để có thể hiểu hết Tư Tưởng của Thượng Ðế qua các sự kiện lịch sử.
Qua (duy tâm) biện chứng pháp, chúng ta có thể nhận thấy được rằng ở bất cứ một giai đoạn nào trong lịch sử, Tư Tưởng được biểu hiện bởi một tư tưởng hay luận đề (thesis) vốn chỉ phản ảnh một số khía cạnh của Tư Tưởng. Ðồng thời với sự hiện hữu của luận đề - chưa biểu hiện hết toàn bộ Tư Tưởng - nhân loại lại có phản luận đề (antithesis) bao gồm một quan niệm khác biệt và chống chọi lại với luận đề. Luận đề và phản luận đề có thể cùng tồn tại trong một giai đoạn nhất định nhưng bởi sự khác biệt giữa hai tư tưởng, luận đề và phản luận đề sẽ đi đến tình trạng xung đột và thôn tính lẫn nhau.
Trong cuộc xung đột giữa luận đề và phản luận đề, không một tư tưởng nào bị tiêu diệt hoàn toàn; chỉ có những phần tử vô giá trị của hai tư tưởng bị đào thải. Cuối cùng, những phần tử giá trị của hai tư tuởng sẽ kết hợp (hợp đề/synthesis) để tạo thành một luận đề mới. Sự tổng hợp của những phần tử có giá trị của hai tư tưởng tạo thành một tình trạng hoàn hảo hơn và một luận đề tiến bộ hơn; nhưng sau khi luận đề mới được hình thành thì một phản luận đề cũng xuất hiện và bánh xe xung đột của lịch sử lại tiếp tục chu trình của nó. Cứ sau mỗi cuộc xung đột, một luận đề mới và tiến bộ hơn được sáng tạo; luận đề mới này chính là sự chiến thắng của Linh Hồn Thế Giới.
Luận đề hay (tiểu) tư tưởng, biểu tượng của (đại) Tư Tưởng của Thượng Ðế, luôn luôn chứa đựng hạt giống thay đổi. Bởi vì Tư Tưởng được biểu hiện bằng nền văn minh của các dân tộc cho nên không có nền văn minh nào có thể chống chọi lại trào lưu cải cách. Cải cách để tiến bộ hơn là nguyên lý tất yếu trong lịch sử nhân loại, và con người không thể ngăn cản phong trào cải cách. Khi một số cá nhân chống đối lại trào lưu cải cách để bảo vệ tình trạng hiện hữu, họ tự tạo ra các tiềm lực phản kháng và sự xung đột sẽ xảy ra. Hegel lý luận rằng sự xung đột - có thể với bạo lực - chính là căn nguyên cho sự tiến bộ của nhân loại, và nhân loại không bao giờ tránh khỏi sự xung đột.
Sự tiến bộ của nhân loại đến từ sự tổng hợp của các phần tử có giá trị của luận đề và phản luận đề sau một cuộc xung đột, chứ không đến từ sự tàn phá các cơ cấu tổ chức của quá khứ để xây dựng một cơ cấu xã hội hoàn toàn mới dựa trên tư tưởng nhân quyền thiên nhiên. Cả thế giới phát triển theo chiều hướng cấp tiến, theo Tư Tưởng của Thượng Ðế. Lịch sử của nhân loại biểu hiện Tư Tưởng qua từng giai đoạn, và con người cần nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu sự thật, thay vì các sự kiện hiển nhiên, trong quá khứ. Sự thật không bao giờ bị thất lạc cho nên nhân loại có thể tìm hiểu được một phần Tư Tưởng của Thượng Ðế bằng cách học hỏi lịch sử. Con người sẽ được tự do nếu sống theo Tư Tưởng của Thượng Ðế.
Hegel là một triết gia lý tưởng. Ông suy luận rằng giá trị của vật chất (sức mạnh, văn hóa, cơ cấu xã hội) không đáng bao nhiêu nếu đem so sánh với lý tưởng bởi vì vật chất chỉ biểu hiện lý tưởng hay Tư Tưởng của Thượng Ðế trong một giai đoạn nhất định. Chính lý tưởng điều khiển đời sống vật chất trong suốt chiều dài lịch sử. Trong tiến trình phát triển của nhân loại, con thuyền giúp cho Tư Tưởng vượt từng giai đoạn lịch sử chính là quốc gia.
Quốc Gia và Dân Tộc
Sự tiến triển của Tư Tưởng trong lịch sử nhân loại được biểu hiện qua vai trò của quốc gia (vật chất). Quốc gia chính là những công cụ mà Thượng Ðế sử dụng để đạt được mục tiêu cao cả (Tư Tưởng). Mỗi quốc gia có sứ mạng gánh vác Tư Tưởng trong một thời gian nhất định cho nên tất cả các quốc gia đều đóng góp vào sự tiến triển của Tư Tưởng. Trong khoảng thời gian gánh vác Tư Tưởng của Thượng Ðế, quốc gia trở thành cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng trên chính trường quốc tế. Nhân loại có thể nhận thấy sự tiến triển của Tư Tưởng qua văn hóa và cơ cấu xã hội - luật pháp, đạo đức, tổ chức chính quyền, văn học, khoa học, v.v. - của quốc gia đang thi hành thiên mạng.
Theo Hegel, quốc gia cường thịnh nhất vào lúc đang tham chiến hay đang sống trong tình trạng cách mạng bởi vì sự xung đột chính là căn nguyên của sự tiến bộ. Chiến tranh và cách mạng là biểu tượng vật chất của sự xung giữa luận đề và phản luận đề để mang đến kết quả tổng hợp các phần tử giá trị. Sau chiến tranh hay cách mạng, một quốc gia mới sẽ được thành lập để thay thế quốc gia bị chiến tranh hay cách mạng đào thải. Quốc gia mới này sẽ nhận lấy thiên mệnh để gánh vác Tư Tưởng. Quốc gia bị đào thải có thể bị mất mát nhiều nhưng toàn thể thế giới sẽ được tốt đẹp hơn sau cuộc chiến hay cách mạng.
'Hợp lý thì thực; và thực thì hợp lý' (the rational is actual; and the actual is rational). Thực trạng vốn hợp lý (hợp với Tư Tưởng) trong một giai đoạn nhất định cho đến khi một phản luận đề ra đời để cạnh tranh với luận đề. Sự xung đột giữa luận đề và phản luận đề sẽ tạo ra một luận đề mới tiến bộ và hợp lý hơn. Sau cuộc xung đột, sự hợp lý của luận đề mới sẽ tái tạo thực trạng; thực trạng tồn tại cho đến khi một phản luận đề mới ra đời và bánh xe xung đột của lịch sử lại tiếp tục vận hành. Khi bàn về quốc dân, các triết gia theo phái luận lý pháp quan niệm rằng mục đích của nhân loại là đạt được hạnh phúc và, nếu được tự do suy nghĩ, con người có thể tìm ra cơ chế xã hội cần thiết để đạt được hạnh phúc. Trong quá khứ, chính quyền đã ngăn cản không cho con người tự do suy nghĩ; vì vậy cho nên vai trò của chính quyền phải được giới hạn trong nhiệm vụ bảo vệ đời sống, sự tự do và tư sản của công dân; bên ngoài các lãnh vực này, chính quyền phải để cho nhân dân được tự do suy nghĩ và sinh hoạt nhằm đạt được hạnh phúc.
Hegel không đồng ý rằng mục tiêu tối cao của con người là đạt được hạnh phúc. Theo ông, mục đích tối cao của con người là đạt được sự tự do; và con người có thể đạt được mục đích này bằng cách nghiên cứu lịch sử để tìm ra con đường đưa đến mục đích tự do. Nhờ phương pháp nghiên cứu lịch sử mà nhân loại có thể biết được việc gì đã và đang xảy ra để đưa Tư Tưởng tiến tới. Sau khi con người hiểu được sự tồn tại của Tư Tưởng qua biểu tượng quốc gia và Hiến Pháp, con người sẽ tôn sùng quốc gia và các cơ cấu xã hội; chỉ ở giai đoạn (hiểu biết) này con người mới được thực sự tự do.
Tôn sùng Tư Tưởng của Thượng Ðế tức là tôn sùng quốc gia và Hiến Pháp. Tự do thực sự không có nghĩa là tự do cá nhân mà là tự do chấp nhận và sống theo Tư Tưởng hay chấp nhận quyền lực quốc gia. Không phải ai cũng biết quy tắc tự do này nhưng số người hiểu được nó gia tăng dần dần qua từng giai đoạn. Theo Hegel, thế giới đã qua ba thời đại A¨ Châu, Hy Lạp và La Mã; thời đại sau luôn luôn tiến bộ hơn thời đại trước rất nhiều, và do đó nhiều người hơn đã được tự do vì biết được chìa khóa của sự tự do: tôn sùng Tư Tưởng của Thượng Ðế hay quốc gia và Hiến Pháp. Thời đại hiện tại (1800õs) là thời đại của dân tộc Ðức; và đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tất cả mọi người đều có thể được tự do [!] Chiến tranh sẽ tàn phá quốc gia nhưng cũng đưa đến sự tiến bộ nhằm giúp cho con người được tự do. Con người không sống vì mục tiêu hạnh phúc mà sống vì mục đích tự do. (Ðộc giả có thể thấy cá tính quốc gia cực đoan và lòng tự ti dân tộc của Hegel được phơi bày rõ nét trong các kết luận cục bộ kể trên.)
Trong trào lưu lịch sử, quốc gia là con thuyền giúp cho Tư Tưởng của Thượng Ðế tiến triển qua từng gia đoạn, và nhân dân là những thủy thủ chèo con thuyền quốc gia. Trong tập thể nhân dân, đa số mang tính tiêu cực và chấp nhận cho số phận đưa đẩy; và chỉ có một thiểu số tích cực trong nổ lực bảo vệ chính thể hiện hữu (luận đề) hay chủ trương cách mạng (phản luận đề). Lịch sử không thể tiến triển nếu quốc gia không có những phần tử tích cực; tuy vậy, các phần tử tích cực này nhiều lúc có thể chỉ hoạt động vì mục đích cá nhân mà không ý thức được là những việc họ thực hiện sẽ giúp cho lịch sử biến chuyển theo Tư Tưởng.
Sự vĩ đại (hay giá trị) của các phần tử tích cực không chỉ đến từ khả năng thay đổi xã hội mà còn đến từ sự nhạy bén để nhận thấy được nhu cầu thay đổi đã đến. Hegel xem những cá nhân tích cực trong quốc gia như những vị anh hùng của lịch sử. Ông cho phép họ đứng ngoài những tiêu chuẩn đạo đức dùng để đánh giá thường dân bởi vì vai trò quan trọng của họ đối với lịch sử. Theo Hegel, muốn đánh giá lịch sử thế giới một cách đúng đắng, chúng ta phải biết đánh giá thành quả của các dân tộc thay vì sự thành công của thiểu số tích cực. Lịch sử liên quan tới các dân tộc bởi vì chính toàn thể dân tộc, chứ không phải một số cá nhân tích cực, gánh vác Tư Tưởng của Thượng Ðế trong một thời gian nhất định.
Sự tồn tại của một cá nhân chỉ có ý nghĩa nếu cá nhân đó là công dân của một quốc gia. Công dân không thể lợi dụng quốc gia để lo cho quyền lợi riêng tư; ngược lại, quốc gia có quyền sử dụng công dân để vận chuyển Tư Tưởng của Thượng Ðế đến giai đoạn cuối cùng. Sự tự do của cá nhân biểu hiện sự hiểu biết là cá nhân phải phục tùng quyền lực của quốc gia. Khi cá nhân hành động theo ý muốn riêng tư, cá nhân đã đi ngược lại với ý muốn của Tư Tưởng. Theo Hegel, một công dân tự do luôn luôn sống theo Tư Tưởng vốn được thể hiện qua ý muốn của quốc gia. Cho đến khi công dân tự hiểu là phải phục tùng quyền lực quốc gia một cách tình nguyện, quốc gia cần phải dùng bạo lực để bắt buộc công dân tuân theo.
Trường phái chủ nghĩa cá nhân của Hobbes và Locke tách rời công dân ra khỏi quốc gia và bảo vệ công dân với hàng rào nhân quyền để chống lại sự đàn áp của chính phủ. Là một người yêu nước và không chấp nhận tình trạng quốc gia bị phân ly, Hegel hiểu rằng khó có thể tái tạo một nước Ðức thống nhất để trở thành cường quốc Châu Âu nếu mỗi cá nhân đều có quyền bất khả xâm phạm bởi chính quyền; vì thế cho nên ông cực lực chống lại chủ nghĩa cá nhân và hết lòng cổ vỏ cho chủ trương quốc gia có quyền khống chế công dân cho đến khi công dân 'hiểu' được ý nghĩa thật của sự tự do: phục tùng quyền lực quốc gia hay Tư Tưởng của Thượng Ðế. Tuy nhiên Hegel không tin rằng chủ trương trao quyền lực tuyệt đối cho quốc gia là phương pháp quốc trị tốt nhất. Theo ông, quyền hạn cũng như trách nhiệm của chính quyền và công dân nên được pháp định; các sinh hoạt trong xã hội phải được đặt căn bản trên tinh thần tôn trọng luật pháp bằng không tình trạng vô pháp sẽ trở thành 'sự việc khó khăn nhất mà con người có thể trải qua' (.. the hardest thing which man can experience..). Hegel lo ngại là sự tập trung quyền hành quá mức vào tay chính quyền có thể đưa đến tệ nạn lạm dụng quyền lực gây hại cho quyền lợi chung. Theo ông, tình trạng hổn loạn của xã hội Pháp hậu cách mạng là kết quả đau thương của tệ nạn này. Hegel tin tưởng rằng ý kiến của cá nhân là tài sản của cá nhân và cần phải được tôn trọng. Luật pháp chỉ giới hạn những ý kiến gây nguy hiểm cho người khác hay nhằm mục đích lật đổ chính quyền; Hegel lưu ý là trạng thái nguy hiểm phải có thật hay được cụ thể hóa trước khi ý kiến cá nhân bị ngăn cấm. Ðặc biệt là sự học hỏi và nghiên cứu của cá nhân không thể được xem như là ý kiến để bị luật pháp giới hạn bởi vì những kiến thức và tư tưởng được lưu truyền trong lãnh vực này liên quan đến sự thật và nằm ngoài khuôn khổ ý kiến thông thường.
Hegel chủ trương là quốc gia nên dùng bạo lực để khiến công dân hiểu được mục đích cao cả của thiên mạng phụng sự Tư Tưởng của Thượng Ðế cho đến khi công dân thi hành nhiệm vụ này một cách tự nguyện. Tuy vậy ông không chủ trương chính quyền trở thành một chính quyền độc tài chuyên chế dùng bạo lực để bắt công dân phục tùng ý muốn của lãnh tụ như chính quyền Ðức Quốc Xã của Hittler. Quốc gia không thể trở thành một nhà tù khổng lồ để nuốt lấy tất cả công dân và biến họ thành nô lệ cho lãnh tụ. Mặc dầu Hegel không tin vào quy tắc dân chủ và khả năng suy luận của thường dân, ông vẫn cho là công dân mang một vai trò quan trọng trong xã hội và cho phép họ có một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do hội họp thành lập tổ chức chính trị để chọn lựa đại biểu nhân dân, v.v. Trong một quốc gia độc tài, lãnh tụ hay giai cấp lãnh đạo sẽ quản trị đất nước theo ý muốn riêng tư chứ không theo quyền lợi quốc gia như Hegel đòi hỏi trong truyết lý của ông. Chúng ta có thể kết luận là Hegel chủ trương bảo vệ quyền hành quốc gia (ông muốn thống nhất cũng như xây dựng Ðức quốc thành một cường quốc và, theo ông, đây là cách duy nhất) thay vì là người thiên về chính thể độc tài chuyên chế như một số học giả đã từng hiểu lầm. Giống như kinh nghiệm của dân tộc Việt Nam qua câu ngụ ngôn
'Luật Vua còn thua lệ làng', Hegel suy luận rằng những cơ sở kinh tế hay chính quyền địa phương có thể tạo ảnh hưởng đối với quyền lực quốc gia. Có thể ông dự đoán là những lãnh chúa của các tiểu quốc Ðức khó lòng mà chấp nhận chính sách của chính quyền trung ương một cách tình nguyện, đặc biệt là khi quyền lợi của họ bị đe dọa, cho nên ông gợi ý là họ có thể thay đổi một số chính sách quốc gia cho phù hợp hơn với điều kiện địa phương. Theo Hegel, quốc gia nên bắt buộc công dân sinh hoạt theo một tôn giáo; nhưng quốc gia không nên chọn lựa tôn giáo cho công dân. Ông chủ trương tự do tín ngưỡng và tôn giáo phải được tách rời khỏi guồng máy nhà nước. Chính quyền không thể can thiệp vào lãnh vực tín ngưỡng vốn là trách nhiệm của giáo hội. Tuy vậy, đối với các vấn đề quốc gia như sở hữu đất đai, giáo hội phải chấp nhận quyết định của chính quyền bởi vì đó là lãnh vực quốc trị.
Tổ Chức Nhà Nước và Chính Sách Quốc Gia
Trong khi các triết gia phái duy lý quan niệm là con người có thể sáng tạo một hiến pháp hoàn mỹ, Hegel phủ nhận tư tưởng này. Ông suy luận rằng hiến pháp là một sản phẩm của lịch sử được đúc kết qua nhiều năm. Một cơ cấu xã hội không thể cung cấp cho con người quyền tự do nhiều hơn là Tư Tưởng của Thượng Ðế cho phép.
Mỗi quốc gia có một hiến pháp thích hợp cho tình trạng quốc gia; nếu hiến pháp đó đưa đến một chính thể độc tài thì chính thể độc tài là một chính thể duy nhất khả dĩ có thể phù hợp với quốc gia trong giai đoạn đó. Tuy vậy, Hegel lại tự mâu thuẫn với triết lý của mình (Thực thì hợp lý, và hợp lý thì thực); ông không chấp nhận tình trạng chia rẽ của Ðức quốc là một tình trạng thích hợp cho nước Ðức vào thời kỳ đó (việc này dể hiểu bởi vì nếu ông chấp nhận như vậy thì lời kêu gọi thống nhất Ðức quốc của ông mất hết hiệu quả). Theo Hegel, chính thể hợp lý nhất cho Ðức quốc vào giai đoạn đó là chính thể quân chủ pháp trị bởi vì chính thể này tương tự cơ chế quốc trị ở một số cường quốc Châu Âu vào lúc đó (độc giả có thể thấy là kết luận này không hợp lý - đặc biệt là khi nhìn qua ống kính biện chứng pháp - và đã bị uốn nắn một cách sượng sùng bởi lòng yêu nước của Hegel; thực trạng của Anh và Pháp hoàn toàn khác với thực trạng của Ðức vào thời điểm đó thì làm sao mà Ðức có thể xây dựng một cơ chế chính trị tương tự như guồng máy chính quyền ở Anh hay Pháp).
Khi bàn về chính thể quân chủ pháp trị, Hegel diễn tả theo cái nhìn cá nhân của ông về tổ chức chính quyền Anh quốc. Quốc vương của một quốc gia quân chủ pháp trị không có thực quyền mà chỉ giữ vai trò đại diện quyền uy tối thượng của quốc gia. Tất cả các sinh hoạt trong quốc gia được đặt căn bản trên luật pháp, và luật pháp là quyền uy tối thượng của quốc gia. Quốc hội giữ vai trò lập pháp, và cơ quan chính quyền (bao gồm ngành tư pháp) có nhiệm vụ hành pháp.
Những nhà lãnh đạo quốc gia nắm giữ vai trò hành pháp nên được chọn lựa trên căn bản khả năng chứ không phải chức tước, và ai cũng có thể thi thố tài năng để được bầu vào chức vụ lãnh đạo quốc gia. Các nhà lãnh đạo quốc gia phải lo cho quyền lợi quốc gia và không thể lạm dụng quyền uy chính trị để phục vụ cho quyền lợi cá nhân. Bất cứ ai lạm dụng quyền hành sẽ bị xét xử theo pháp luật.
Hegel không chấp nhận mô hình phân chia quyền hành quốc gia ra thành các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ông suy luận rằng sự phân quyền như vậy sẽ khiến việc sử dụng quyền lực quốc gia bị đình trệ. Ông quan niệm rằng ngành hành pháp nên trở thành một bộ phận của nghành lập pháp, thay vì bị tách ra thành một nhánh độc lập. Theo Hegel, mô hình tập trung các quyền hành như vậy sẽ giúp cho chính quyền vượt qua những khó khăn của hệ thống phân quyền. Ông ca ngợi chính thể Nghị Viện trị của Anh quốc bởi vì nó đã bắt buộc các Bộ Trưởng hành pháp trở thành Dân Biểu Quốc Hội, và Quốc Hội - cơ chế lập pháp - có kiến thức rộng lớn về quốc sự cũng như nhu cầu của đất nước.
Hegel không tin là thường dân có khả năng biết được phương pháp quản trị quốc sự nào là tốt nhất cho họ; vì vậy cho nên những đại diện của dân trong Quốc Hội không có quyền lập pháp. Các vị Dân Biểu này giữ vai trò quan sát viên và khuyến khích các nhà lãnh đạo quốc gia hành động theo quyền lợi chung. Các Dân Biểu còn giữ nhiệm vụ hòa giải giữa chính quyền và nhân dân. Nhân dân cần được hướng dẫn để hiểu rõ sự ích lợi của cộng đồng quốc gia cũng như từ bỏ ý niệm chính quyền là kẻ thù của nhân dân.
Giá trị quan trọng nhất của hiến pháp là vai trò hòa giải của nó. Trong một chính thể độc tài chuyên chế, nhân dân không có quyền hành cũng như trách nhiệm. Lãnh tụ độc tài sử dụng bạo lực để cầm quyền nhưng luôn luôn lo sợ sức mạnh tổng hợp của người dân. Bởi vì không có hệ thống chính quyền dựa trên hiến pháp cho nên nhân dân chỉ có thể nổi loạn để đạt được nguyện vọng của họ. Ngược lại, hiến pháp bắt buộc chính quyền lo cho quyền lợi của nhân dân cũng như đòi hỏi nhân dân phải thi hành một số trách nhiệm công dân.
Trong một chính thể pháp trị, nhân dân phải được đại diện chứ không thể trực tiếp quản trị quốc gia. Nhưng đại biểu nhân dân không đại diện theo từng khu vực bầu cử mà theo từng tổ chức: nhân dân phải tham gia những tổ chức này để có tiếng nói về quốc sự; và đại biểu nhân dân chỉ đại diện những thành viên có kiến thức, kinh nghiệm và quan tâm đến đại sự trong tổ chức. Theo Hegel, một vài cá nhân trong các tổ chức sẽ tự nổi bật nhờ tài năng của họ; những cá nhân này nên được chọn lựa để đại diện cho quyền lợi của tổ chức, thay vì đại diện cho các thành viên trong tổ chức. Các đại biểu hiểu rõ nhu cầu cần thiết của tổ chức cho nên họ không phải hỏi ý kiến của các thành viên trong tổ chức. Ðại biểu nhân dân có thể quyết định ngược với ý muốn của cử tri nếu ý muốn của cử tri khác với kết quả suy luận của đại biểu; quyền lợi của tổ chức sẽ được bảo toàn và nâng cao khi đại biểu hành động theo sự nhận xét cá nhân bởi vì đại biểu biết rõ nhu cầu của tổ chức.
Ðại biểu có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân về quyền lợi thực sự của nhân dân. Nhân dân có thể được thông báo về tiến trình trù liệu các chính sách quốc gia; ý kiến của nhân dân phải được tôn trọng và đồng thời 'khinh rẻ'. Theo Hegel, nhân dân không bao giờ có thể dự trù chính sách quốc gia. Tuy vậy, ý kiến của nhân dân có thể chứa đựng một số yếu tố giá trị đáng được nghiên cứu, nhưng các đại biểu cần phải biết gạn lọc để bỏ qua những ý kiến thiên về quyền lợi cá nhân. Khi chính sách quốc gia được hình thành (qua sự suy luận độc lập của đại biểu), nhân dân cuối cùng sẽ chấp nhận. Những lãnh tụ vĩ đại trong lịch sử nhân loại là những người đã biết tìm kiếm và hướng theo sự thật mặc kệ chính kiến của thiên hạ; ai không biết bỏ qua chính kiến của thiên hạ sẽ không bao giờ có thể trở thành vĩ nhân. Sự tiến hóa của nhân loại đến từ chuỗi dài xung đột giữa luận đề và phản luận đề. Với quan niệm này, Hegel nghĩ rằng mục tiêu của quốc gia không thể là mục tiêu hòa bình. Vai trò của quốc gia là vận chuyển Tư Tưởng của Thượng Ðế cho nên thiên mạng này không thể hoàn thành nếu quốc gia chỉ biết khư khư bảo vệ hòa bình. ở trạng thái hòa bình, chính quyền trở nên hủ bại và thành phần lãnh đạo bắt đầu lo cho quyền lợi riêng tư; mầm móng chia rẽ quốc gia bắt đầu từ đây.
Chiến tranh phải được xem như là cần thiết cho trào lưu tiến hóa của nhân loại. Chiến tranh nên được giới hạn trong giới quân nhân chuyên môn được tổ chức cho mục đích này. Chiến tranh không nên được lợi dụng để giết hại thường dân. Chiến tranh biểu hiện nhu cầu tiến hóa của lịch sử cho nên phải được thi hành một cách thật nhân đạo. Công dân phải xem nhiệm vụ hy sinh cho quốc gia là nhiệm vụ cao cả. Quân đội chuyên môn phải được tổ chức cho mục tiêu chiến tranh, và toàn thể nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ quốc gia khi quốc gia bị lâm nguy. Quyền lãnh đạo quân đội và chỉ đạo chiến tranh nằm trong tay Quốc vương.
Hegel không tin rằng sự tương quan (hay quan hệ) giữa các quốc gia có thể đặt căn bản trên một hệ thống công pháp quốc tế. Công pháp quốc tế không thể thi hành được bởi vì thế giới không có một thế lực mạnh và độc lập có khả năng phụ trách vai trò hành pháp. Quốc gia nên tôn trọng lời hứa đối với các quốc gia khác nhưng không có một thế lực nào có thể bắt buộc quốc gia giữ lời hứa. Hegel suy luận rằng chủ trương của triết gia Kant đặt căn bản trên các yếu tố đạo đức, tôn giáo, v.v., (hòa bình thế giới có thể được một liên bang các quốc gia bảo đảm), khó có thể đứng vững bởi vì những yếu tố này tùy thuộc vào nguyện vọng của các quốc gia; và nguyện vọng của quốc gia có thể thay đổi. Chiến tranh tất nhiên sẽ bùng nổ khi những hiệp ước giữa các quốc gia không được tôn trọng. [Kết luận của Hegel cản trở nổ lực của nhân loại đi tìm một giải pháp hòa bình tốt đẹp hơn là giải pháp chiến tranh để giải quyết các bất đồng quyền lợi. Y¨ tưởng chiến tranh giúp nhân loại thăng tiến của Hegel được một số lãnh tụ khác như Karl Marx, Hittler khai triển thành sách lượt tranh đấu quá khích và đã làm hàng triệu thường dân vô tội mất mạng.]
. . . . . . . . . . Dương Thành Lợi,
Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 237-255