Thomas Hobbes và Chế Ðộ Quân Chủ Chuyên Chế 

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

. . . . . . . . 
Chính sách cai trị bằng bạo lực của cơ chế quân phiệt Cromwell khiến dân Anh bắt đầu chán nản với hiện tình chính trị hậu cách mạng. Năm 1660, con của Charles I được mời về từ nơi lưu đày và thượng phong thành Anh Hoàng Charles II. Mặc dầu không ưu thích cánh Quốc Hội, Charles II tỏ ra cẩn thận hơn cha của ông trong các vấn đề quốc trị. Triều đại của Charles II tương đối an lạc hơn trước khi phong trào cách mạng canh tân bùng nổ. 

  Thomas Hobbes (1588-1679) xuất hiện từ triều đại của Charles I¼ Hobbes từng dạy ông hoàng này toán học từ năm 1646 cho đến năm 1648. Khi Charles II lên ngôi, ông mời Hobbes về triều đình nắm lấy vai trò cố vấn. Thomas Hobbes dâng sách Leviathan cho ông hoàng lưu vong Charles II năm 1651. Trong tác phẩm này, Hobbes ủng hộ nguyên tắc vương quyền tuyệt đối mà ông tin tưởng là yếu tố duy nhất có thể xây dựng một chính quyền hữu hiệu. Giống như nhiều học giả của thời đại đó, Hobbes cố gắng trả lời câu hỏi: Ngoài nhu cầu thống nhất tôn giáo, nhân loại với riêng sự thông minh (của con người) có thể xây dựng một cộng đồng đoàn kết hay không? Ông xác nhận là nhân loại có thể thành công trong công việc này nếu biết sử dụng các phương pháp khoa học. Bị giao động bởi các phát minh khoa học ban sơ, Hobbes uốn nắn triết lý quốc trị của ông theo các nguyên tắc khoa học và đơn giả hóa nhân tính của con người.   Hobbes quan niệm rằng một cấu trúc phức tạp có thể được xây dựng vững vàng nếu được kiến tạo từng bước nhỏ theo phương pháp khoa học; do đó ông lý luận là nhân loại có thể xây dựng được một cộng đồng thịnh vượng theo các nguyên tắc khoa học. Phương pháp luận lý có giá trị nhiều hơn các bài học lịch sử và phải được con người sử dụng hầu xây dựng một cộng đồng đoàn kết. Hobbes đưa ra quy tắc khoa học chuyển vận (science of motion): Sự chuyển vận của vạn vật khác nhau đưa đến các hình thức khác nhau của vạn vật hay, nói ngược lại, nếu vạn vật không chuyển vận thì mọi đặc tính của vạn vật đều giống nhau. Dựa trên quy tắc này Hobbes đưa ra triết lý của ông gồm ba phần nhằm giải thích các hiện tượng vật lý, kiến thức và cảm giác, hiện tượng xã hội, v.v., theo chiều hướng chuyển vận. 

  Về phương diện chính trị, Hobbes lý luận rằng mọi hành động của con người đều là phản ứng đến từ cảm giác và cảm giác là một hình thức chuyển vận. Nội lực bên trong bản thân khiến con người lo cho quyền lợi riêng tư và cố gắng tránh các thiệt hại. Theo Hobbes, hai động cơ chính hướng dẫn các hành vi của nhân loại là (1) Y¨ muốn làm những gì mà cá nhân ưa thích, và (2) Y¨ muốn tránh né những gì không có lợi. 

  Mối lo âu lớn nhất của con người là sự tồn tại (tránh cái chết). Con người luôn luôn cố gắng chiếm đoạt thêm uy quyền để có thể bảo vệ tính mạng tốt hơn. Bởi vì nguồn cung của uy quyền có giới hạn mà lòng tham của nhân loại thì vô đáy cho nên các cuộc xung đột giữa người và người thường xảy ra. Chính vì mọi người đều có khả năng như nhau nhất là về phương diện trí óc cho nên các nỗi khó khăn ngày càng chồng chất. Hobbes kết luận rằng sự bình đẳng giữa khả năng của con người là nguồn gốc của sự khổ đau chứ không phải là niềm vui sướng. Khả năng tương đương khiến tham vọng chiếm đoạt thêm uy quyền của con người cũng tương đương (không ai ngán ai cả) cho nên mới xảy ra cảnh người giết người để cung phụng cho tham vọng cá nhân. 

  Xã hội là một tập hợp của những con người có khả năng và tham vọng tương đương. Không ai có thể nhường bước trước tham vọng của kẻ khác bởi vì như vậy họ sẽ bị đặt vào tình trạng yếu thế. Và vì thế cho nên con người không có thể chung sống hòa bình trong tình trạng thiên nhiên phi chính quyền. 

  Nhân loại tự biết rằng trong một tình trạng phi chính quyền, những gì họ làm chủ kể cả tính mạng cá nhân luôn luôn bị đe dọa. Chính thể Leviathan hay quân chủ chuyên chế ra đời bởi vì nhu cầu trường tồn khiến nhân loại ý thức được là phải chấp nhận sống trong vòng kỷ luật do một quyền uy cao cả hơn đặt ra. Chính thể Leviathan là một cơ chế chính trị cho dân nhưng không phải do dân (Quốc Hội) điều hành. Quyền uy chính trị tột đỉnh nằm trong tay vua chứ không phải trong tay của Quốc Hội. 

  Theo Hobbes, thế giới thiên nhiên có cả nhân quyền và luật pháp. Nhân quyền ở đây được định nghĩa là quyền của mọi người được sử dụng tất cả các phương tiện kể cả mạng sống của kẻ khác để bảo vệ bản thân. Chính sự suy nghĩ lý luận giúp con người hiểu được luật pháp thiên nhiên hầu có thể tránh được các hành vi độc ác và tự cứu rỗi bản thân. 

  Theo Hobbes, luật thiên nhiên là các nguyên lý tổng quát được phát giác qua phương pháp duy lý và có mục đích ngăn ngừa con người tránh những hành động nguy hại đến tính mạng. Luật thiên nhiên giúp cho nhân loại tránh những hành động tự sát và đi đến các quy định về cách xử thế để đồng sinh tồn. Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ để ngăn cản các âm mưu bội phản bởi vì tham vọng quyền lợi cá nhân luôn luôn tồn tại. Hobbes lý luận là nhân loại cần đến sự hiện hữu của một thế lực mạnh để trừng phạt những thành phần phản bội hầu giúp cho con người có thể sống theo các quy định đã được thỏa thuận. Ông trao quyền trừng phạt này cho nhà vua - thay vì pháp luật - trong một cộng đồng thịnh vượng. Ông cho là chỉ có cộng đồng thịnh vượng mới có thể giúp con người tự vệ chống lại những kẻ ác và ngoại xâm cũng như giúp cho con người có cơ hội kiến tạo đời sống hạnh phúc. 

     Vì nhu cầu trường tồn, con người phải xây dựng cộng đồng thịnh vượng mà trong đó mọi người đồng ý trao tất cả các quyền tự do cá nhân cho lãnh tụ hay một nhóm lãnh đạo với điều kiện là giai cấp lãnh đạo phải kiến tạo được một xã hội an ninh và hòa bình. Là người thực tế, Hobbes phủ nhận thần quyền của lãnh tụ và xây dựng chính thể quân chủ chuyên chế trên căn bản xã ước. Và có lẽ là Hobbes thấy nhân tính của con người đầy lòng ích kỷ và tham vọng cho nên ông khuyên rằng đa số bị trị nên thận trọng trước khi quyết định chống lại lãnh tụ thiếu khả năng bảo vệ công dân. 

  Hobbes suy luận rằng sự bình đẳng về khả năng của nhân loại là nguồn gốc của sự đau khổ cho nên ông dành cho lãnh tụ uy quyền tối thượng trong chế độ quân chủ chuyên chế. Ông vua của chính thể Laviathan nhận lãnh các quyền uy tuyệt đối trong quốc gia. Theo Hobbes, bất kể là quốc gia được thành lập một cách tự nhiên (giữa người và người qua hợp đồng ủy quyền cho vua) hay qua phương pháp chinh phục, nguồn gốc của chính quyền đều đến từ sự sợ hãi của nhân loại. Chính sự sợ hãi là lý do mà nhân loại thành lập chính quyền. (Con người sợ hãi lẫn nhau cho nên cần đến sự giám sát của một lãnh tụ đầy quyền uy.) 

  Trong mô hình chính trị quân chủ chuyên chế, quyền duy nhất mà người dân được hưởng là quyền tự vệ cá nhân. Lãnh tụ không thể tiếp tục nắm giữ vai trò lãnh đạo nếu không còn đủ khả năng bảo vệ nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho lãnh tụ với điều kiện được bảo vệ an ninh và có quyền bất tuân phục lãnh tụ khi lãnh tụ không thể bảo đảm an ninh quốc gia. Lãnh tụ không nhận lãnh thần quyền để cai trị (thần quyền cho phép vua cai trị vĩnh viễn) cho nên nhân dân không có nhiệm vụ phải tuân phục một lãnh tụ vô tài. 

  Dân có thể phản kháng lại lãnh tụ nếu tánh mạng của họ bị đe dọa. Tuy nhiên, nhân dân nên cẩn thận khi sử dụng quyền tự vệ cá nhân bởi vì nó có thể đưa đến một cuộc cách mạng lật đổ chính quyền và đưa mọi người trở lại trạng thái thiên nhiên vô tổ chức - một trạng thái mà con người sống trong sự lo lắng triền miên. Vốn không ưa các thảm cảnh xảy ra trong một cuộc cách mạng, Hobbes e dè khi đề cập tới danh từ cách mạng. Ông tin tưởng là chính quyền với một lãnh tụ được ủy quyền tuyệt đối sẽ bảo đảm được nền an ninh quốc gia; và tình trạng này quý báu hơn là cảnh xáo trộn xã hội do cách mạng đưa đến.   Luật pháp là mệnh lệnh của lãnh tụ và nhân dân phải tuân theo. Trong chế độ quân chủ chuyên chế, lãnh tụ không bị bó buộc bởi bất cứ loại pháp luật nào (truyền thống, công luật [common-law], luật thiên nhiên, v.v.). Hobbes không muốn khi quản trị quốc sự, các hành động của lãnh tụ bị đánh giá là thiếu công bằng bởi các nguyên tắc pháp luật. Các nguyên tắc pháp luật bên ngoài cộng đồng thịnh vượng Leviathan không phải là luật lệ thật sự và chỉ được xem là luật hiện hành khi lãnh tụ chấp nhận. Nhân dân phải hiểu luật pháp là ý muốn của lãnh tụ và họ phải tuân theo một cách tuyệt đối. Hobbes trao cho lãnh tụ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp bởi vì, theo ông, khả năng luận lý của lãnh tụ cao hơn khả năng của thường dân. 

  Mặc dầu quyền lập pháp của lãnh tụ cao hơn tất cả các uy quyền khác trong quốc gia, Hobbes vẫn khuyên lãnh tụ phải hành động theo luật lệ của Thượng Ðế và thiên nhiên cũng như các truyền thống cổ xưa. Ông hy vọng rằng lãnh tụ sẽ quản trị quốc sự một cách điều độ và hành pháp một cách công bằng, khôn ngoan. Trong chính thể quân chủ chuyên chế, nhân dân nhờ chính quyền bảo vệ cho nên nhân dân phải hành động phù hợp với luật pháp do lãnh tụ ban hành. Bất cứ ai phạm pháp mà không sửa đổi có thể bị khai trừ ra khỏi cộng đồng thịnh vượng Leviathan. 

  Nhân loại có quyền chọn lựa sống trong tình trạng thiên nhiên loạn ly hay liên kết để thành lập chính thể quân chủ chuyên chế. Một khi đã ký kết vào hợp đồng ủy quyền, con người phải sống vĩnh viễn theo các điều kiện của hợp đồng. Là người ký kết trao quyền hành cho lãnh tụ cho nên nhân dân không thể ta thán sau này khi lãnh tụ có những hành động không vừa lòng dân. Lãnh tụ được trao quyền nhưng không phải là một thành viên ký kết hợp đồng ủy quyền cho nên không bị bó buộc bởi các điều kiện của hợp đồng. Nhân dân không được bắt tội vua bởi vì như vậy là bắt tội những hành động được dân cho phép trong hợp đồng ủy quyền. Hobbes ngăn cản việc kết án tử hình lãnh tụ bởi vì như vậy chả khác nào nhân dân trở lại với đời sống thiên nhiên loạn ly. (Cần nhắc lại ở đây là Hobbes rất thân cận với vây cánh Cần Vương, và ông ghê tởm việc Anh Hoàng Charles I bị xử tử hình). 

  Quyền quản trị quốc sự không nên bị phân chia cho nhiều cơ chế (như ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp, v.v.). Hobbes suy luận rằng một quốc gia với sự phân quyền như vậy khó có thể tồn tại lâu dài. (Lịch sử nhân loại cho thấy là nhận định của Hobbes ở đây không đúng lắm.) Trách nhiệm của lãnh tụ là quản trị quốc sự và giữ gìn an ninh cho quốc gia. Vì vậy cho nên lãnh tụ phải có tất cả quyền hành từ lập pháp, hành pháp đến cả tư pháp. Lãnh tụ tự chọn lựa số cố vấn và bộ trưởng cũng như tự ý thưởng phạt nhân dân. Trách nhiệm giữ vững an ninh quốc gia đòi hỏi lãnh tụ cai trị đất nước theo ý dân; bất cứ hành động nào gây nguy hiểm cho nền an ninh của đất nước phải bị trừng trị. Lãnh tụ không nên che dấu sự thật ngoại trừ trường hợp sự thật có hại cho nền an ninh quốc gia. Theo Hobbes, một ý kiến không thể là sự thật nếu ý kiến đó có hại cho nền an ninh của đất nước. 

  Các mô hình chính trị chỉ gồm ba loại: quân chủ, thiểu số trị và dân chủ. Những hình thức chính quyền khác như độc tài cá nhân hay độc tài thiểu số trị đều là các hình thức biến thể của ba loại chính thể này. Hobbes cho là sự ích lợi của từng chính thể tùy thuộc vào khả năng giữ vững an ninh quốc gia của chính thể. Ðánh giá các chính thể trên theo những tiêu chuẩn khác như đạo đức hay lẽ phải đều không hợp lý. 

  Cơ chế chính trị có khả năng nhất trong việc ổn định an ninh quốc gia là chính thể mà trong đó quyền lợi tư và công kết hợp với nhau một cách chặc chẻ. Hobbes suy luận rằng thể chế quân chủ có thể thực hiện được điều kiện này một cách tốt nhất. Nhà vua sẽ cố gắng kiến tạo hòa bình cho nhân dân bởi vì ông ta hiểu rằng quyền lợi của hoàng tộc gắn liền với quyền lợi của nhân dân. Song song, chính thể quân chủ với một lãnh tụ duy nhất tránh được sự mâu thuẫn giữa các quyết định của hội đồng đại diện nhân dân; ý kiến của các đại diện dể bị thay đổi và có thể ảnh hưởng những chính sách lâu dài của quốc gia. Hobbes tin tưởng là chế độ quân chủ chuyên chế có khả năng tránh được sự mâu thuẫn của các chính thể khác. 

  Một trong những ý tưởng quan trọng nhất của Hobbes là quan niệm hữu dụng của chính quyền. Mặc dầu ông hết lời ca ngợi chính thể quân chủ chuyên chế, Hobbes suy luận rằng chính việc làm và khả năng của vua bảo đảm sự tồn tại của ngai vàng chứ không phải thần quyền do Thượng Ðế ban phát hay do quan hệ hoàng tộc. Nếu vua không giữ được an ninh quốc gia, vua không xứng đáng ngồi ở ngôi vị lãnh đạo. Chính quan niệm thực dụng này của Hobbes khiến ông bị bọn hoàng gia dèm pha. Họ muốn vĩnh viễn ngồi trên đầu nhân dân bất kể khả năng yếu kém không đóng góp được gì cho quốc gia. 

  Ðối với Hobbes, quyền tự do của nhân dân phản ảnh những giá trị thực dụng hơn là các giá trị tinh thần. Ông khuyên lãnh tụ phải tránh không được xâm phạm đến đời sống của dân ngoại trừ các trường hợp mà nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia đòi hỏi phải làm như vậy. Nhân dân phải được tự do nếu không nhân dân có thể nổi loạn bởi vì các hành động tham lam của vua xâm phạm vào đời sống của nhân dân. Nhân dân có quyền tự do sinh hoạt trong những lãnh vực không bị vua ngăn cấm. Tuy nhiên vì nhu cầu của quốc gia, vua có thể giới hạn các sinh hoạt này và nhân dân không thể phản đối lại quyết định của vua. Hobbes khuyên lãnh tụ không nên cai quản quốc gia một cách độc tài bởi vì như vậy sẽ khiến nhân dân bất mãn và nổi loạn (và trở về với xã hội thiên nhiên vô chính phủ). Một lãnh tụ thông thái sẽ quản trị quốc sự một cách công bằng. Hobbes kết luận là trị quốc theo luật pháp trở thành một chính sách thực dụng hay thực tế và cần thiết hơn là một gánh nặng tinh thần cho lãnh tụ. 

  Là người chú trọng nhiều đến tình trạng an ninh của quốc gia (căn bản của quyền lãnh đạo), Hobbes nhận thấy là lãnh tụ cần phải cố gắng thay đổi một số ý tưởng của nhân dân. Thứ nhất, nhân dân được tự do quá đáng sẽ trở nên bất mãn khi bị lãnh tụ kiểm soát chặt chẽ; vì vậy lãnh tụ không nên nới gộng kiểm soát mặc dầu biết là nhân dân sẽ hài lòng hơn khi ít bị kiểm soát. Thứ hai, lãnh tụ phải ngăn cấm tư tưởng đề cao khả năng phán xét sự việc (xấu hay tốt) của cá nhân; tư tưởng này sẽ đưa nhân dân trở về tình trạng thiên nhiên vô tổ chức đáng ghê tởm. Thứ ba, lãnh tụ phải sửa đổi quan niệm không ai nên làm những việc trái với lương tâm của mình. Lương tâm ưa phán xét và sự phán xét của lương tâm có thể sai hay đúng; vì vậy cho nên nhân dân phải bị bắt buộc sống theo luật pháp hơn là lương tâm cá nhân. Pháp luật phản ảnh ý muốn của lãnh tụ được viết thành văn kiện và trở thành lương tâm chung của mọi người. Thứ tư, lãnh tụ phải tiêu diệt quan niệm trách nhiệm đối với tôn giáo quan trọng hơn trách nhiệm đối với quốc gia. Quyết định của lãnh tụ quốc gia đáng tin tưởng hơn là ý muốn của một số cá nhân ích kỷ lãnh đạo tôn giáo để phục vụ cho quyền lợi riêng tư. Thứ năm, lãnh tụ phải ngăn cấm tư tưởng lãnh tụ vẫn phải tôn trọng luật pháp được áp dụng đối với nhân dân. Nếu lãnh tụ bị ghép tội bởi vì vi phạm luật pháp, lãnh tụ phải được xét xử bởi một vị thẩm phán; vị thẩm phán này đương nhiên phải có địa vị cao hơn lãnh tụ, và sự kiện một thường dân có địa vị cao hơn lãnh tụ sẽ gây ra nhiều mâu thuẫn và làm băng hoại xã hội.   Trong một xã hội thiên nhiên loạn ly, quyền tự do của mọi người bị đe dọa và tài sản cá nhân không được bảo vệ một cách hữu hiệu. Quốc gia hay cộng đồng thịnh vượng được thành lập để giải quyết các khó khăn này; vì vậy cho nên nhân dân chỉ có một số quyền tự do giới hạn và phải sinh hoạt theo ý muốn của lãnh tụ. Nhân dân không còn quyền tư hữu trong xã hội thiên nhiên. Quyền được giữ tư sản xuất hiện khi quốc gia được thành lập (tức uy quyền lãnh đạo được hợp thức hóa) cho nên quyền tư hữu phải tùy thuộc vào ý muốn của lãnh tụ. Lãnh tụ có quyền đánh thuế để tạo nguồn tài lực hầu bảo vệ quốc gia. Song song, lãnh tụ cũng có thể can thiệp để ngăn chặn chiều hướng tập trung tài sản trong tay một số cá nhân khiến sự phân chia quyền lợi thiếu công bằng và nhân dân trở nên bất mãn. 

  Một trong những căn bệnh của quốc gia là sự tranh quyền giữa lãnh tụ và những nhóm khác. Hobbes phủ nhận quan niệm đa nguyên đòi hỏi lòng trung thành của nhân dân được chia đều cho các nhóm khác nhau trong quốc gia - thay vì chỉ dồn riêng cho nhà vua. Theo ông, tư tưởng đa nguyên khuyến khích sự chia rẽ bè phái và ảnh hưởng nặng nề đến sự đoàn kết quốc gia. Hobbes lo lắng về các tham vọng của Giáo Hội bởi vì vào thời đó Giáo Hội tạo được ảnh hưởng mạnh nhất và trội hẳn các nhóm khác nằm ngoài chính quyền. 

  Là người không tin vào tôn giáo, Hobbes cảm thấy tôn giáo dính dán quá nhiều vào chính trị và có thể gây nguy hiểm cho quyền uy lãnh đạo của vua. Xem Giáo Hội như một tổ chức nằm ngoài chính quyền, ông kết luận rằng Giáo Hội phải bị kiểm soát và phải sinh hoạt theo ý muốn của chính quyền. Nhân dân phải tuân hành mệnh lệnh của chính quyền ngay cả khi bị Giáo Hội yêu cầu làm ngược lại với chính sách của chính quyền. 

  Tín đồ tôn giáo được Giáo Hội giảng dạy là không thể sử dụng trí óc qua phương pháp duy lý để hiểu lời của Thượng Ðế (và chỉ có giới giáo sĩ mới diễn tả được thông điệp của Thượng Ðế). Giới giáo sĩ lợi dụng lý do này để làm suy yếu sức mạnh của quốc gia. Theo Hobbes, một số khía cạnh về giáo lý của Thượng Ðế nằm ngoài khả năng suy luận của nhân loại; tuy vậy, phương pháp duy lý có thể giúp cho nhân loại thấu hiểu một số thông điệp của Thượng Ðế và là một phương pháp ích lợi mà giới giáo sĩ cố tâm phủ nhận. 

  Hobbes tin tưởng rằng chân lý vẫn là chân lý sau khi được phối kiểm qua phương pháp duy lý; chỉ có những bí mật giả tạo mới sợ sự thử thách của kiếng hiển vi luận lý. Khi Thượng Ðế truyền đạt thông điệp trực tiếp cho một cá nhân, cá nhân đó có thể thấu hiểu ngay lời của Thượng Ðế. Nhưng khi một người khác tự nhận là được Thượng Ðế giảng dạy giáo lý một cách siêu hình và tự phong cho mình vai trò toàn quyền phát biểu thay cho Thượng Ðế, Hobbes cảm thấy khó có thể tin vào lời của nhân vật đó. Làm sao mà biết được là mệnh lệnh của nhân vật đó phản ảnh ý muốn của Thượng Ðế hay là ý muốn của nhân vật đó nhằm phục vụ quyền lợi cá nhân. 

  Nhân dân phải tuân theo mệnh lệnh của lãnh tụ quốc gia bởi vì lãnh tụ được nhân dân ủy quyền cai trị đất nước. Lãnh tụ có nhiệm vụ phải giữ gìn an ninh quốc gia cho nên nhân dân phải phục tùng mệnh lệnh của lãnh tụ ngay cả khi các mệnh lệnh có vẻ không hợp lý. Trong khi đó giới giáo sĩ mượn danh Thượng Ðế để ra lệnh cho tín đồ và nếu mệnh lệnh thiếu hợp lý cũng như có hại cho nền an ninh của đất nước, tín đồ vốn là công dân của quốc gia cho nên cần phải suy xét kỷ lưỡng các lời giảng dạy của giới giáo sĩ. 

  Hobbes cũng không muốn lãnh tụ xâm phạm vào lãnh vực tín ngưỡng của nhân dân. Người dân có quyền theo bất cứ tôn giáo nào, và vấn đề tín ngưỡng cá nhân không phải là một vấn đề để cho lãnh tụ phải quan tâm. Tuy nhiên, một khi các tín đồ tập hợp lại thành một tổ chức tôn giáo có ảnh hưởng mạnh, mô hình và đường lối sinh hoạt của tổ chức tôn giáo trở thành một vấn đề cần lưu tâm bởi vì nó ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Các biến chuyển chính trị có sự tham gia của tín đồ Cơ Ðốc (kế hoạch đảo chánh Thuốc Súng năm 1605 ở Anh, vụ ám sát vua Henry IV ở Pháp, v.v.) khiến Hobbes càng trở nên nghi kÿ Vatican. Ông xem Giáo Hội Thiên Chúa ở Vatican như một đế quốc bóng tối bắt buộc tín đồ sinh hoạt theo lời giảng dạy của giáo sĩ hơn là theo pháp luật của quốc gia (và sự kiện này đưa con người trở về xã hội thiên nhiên loạn ly). 

  Hobbes đề nghị giải pháp thành lập giáo hội quốc gia để tránh cho nhân dân cảnh mâu thuẫn phải chọn lựa giữa quốc lệnh và giáo lệnh. Trong giáo hội quốc gia, lãnh tụ quốc gia trở thành lãnh tụ của giáo hội. Mệnh lệnh của lãnh tụ phản ảnh quốc lệnh và cả giáo lệnh. Cả hai uy quyền (quốc quyền và thần quyền) nằm trong tay lãnh tụ và tránh cho nhân dân cảnh phải chia đôi lòng trung thành giữa quốc gia và tôn giáo. 

. . . . . . . . . .             Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 93-106