Hume và Bentham với chủ nghĩa Hữu Dụng 

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

  David Hume

  Khác với không khí cách mạng ở Pháp, tình hình xã hội ở Anh vào thế kỷ 17 và 18 có vẻ trầm lặng và bảo thủ hơn cho nên trào lưu triết học ở Anh phát triển thiên về chứng nghiệm pháp (empiricism) hơn là theo các trường phái cải cách sôi nổi. Chứng nghiệm pháp dần dần được đưa vào lãnh vực nhân học, và một trong những triết gia lỗi lạc trong lãnh vực này là David Hume - người đã cùng triết gia Hobbes xây dựng nền móng cho chủ nghĩa Hữu Dụng được Bentham và Mill phát triển thêm sau này. 

Trường phái nhân quyền thiên nhiên quan niệm rằng những quy tắc về đạo đức đã có sẵn trong thiên nhiên và nhân loại chỉ cần phát hiện ra các quy tắc này qua phương pháp duy lý. Lý trí (reason) phải chiếm ngôi vị độc tôn, và con người phải bỏ khác vọng (passions) qua một bên trong khi suy luận về đạo đức; nếu không như vậy, khác vọng sẽ khiến con người hành động khác với các quy tắc đạo đức. Chỉ có lý trí mới có thể giúp cho nhân loại có những hành động đúng. 
  Hume không đồng ý với lối suy luận duy lý của các triết gia theo trường phái nhân quyền thiên nhiên. Theo ông, vai trò của lý trí có giới hạn. Lý trí có thể được sử dụng để chứng minh sự hợp lý giữa các quan hệ, nhưng lý trí không thể chứng minh sự hiện hữu của sự thật hay những nguyên lý của luật thiên nhiên. Con người không thể bám hoàn toàn vào lý trí bởi vì lý trí khó có thể được tin cậy hoàn toàn. Khi sử dụng lý trí, con người có thể đưa ra bất cứ quy tắc tiền định nào theo ý muốn cá nhân để tìm kiếm cách thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hume quan niệm rằng khác vọng xác định giá trị của con người, và lý trí chỉ là công cụ của khác vọng: lý trí hướng dẫn con người đạt đến các giá trị do khác vọng xác định. 

  Theo Hume, khác vọng bao gồm hai loại: thiên phú và nhân tạo. Nhân loại có sẵn khác vọng thiên phú từ lúc mới chào đời, và kinh nghiệm sẽ phô bày cách thỏa mãn các khác vọng này. Khác vọng nhân tạo được kết tinh qua một số kinh nghiệm thích thú hay đau đớn. Mọi sự việc đều tùy thuộc vào kinh nghiệm. Nếu một kinh nghiệm đưa đến những kết quả thỏa mãn, con người sẽ bắt đầu có ý thích; nhưng nếu kết quả thật đau thương, con người sẽ có ý ghét. Khác vọng cũng có hai hình thể nữa là khác vọng trầm tĩnh và khác vọng bạo động. Khác vọng trầm tĩnh thể hiện sự hiểu biết về quyền lợi (lâu dài) cao cả; và khác vọng bạo động phản ảnh nhu cầu cần được thỏa mãn ngay lập tức. Xã hội nên đặt ra phép tắc để hướng dẫn con người biết hy sinh những khác vọng ngắn hạn (bạo động) để lo cho quyền lợi lâu dài. 

  Thế giới không có những sự thật tiền định. Con người chỉ sinh hoạt theo kinh nghiệm: một kinh nghiệm tốt sẽ dẫn đến ý kiến tốt; một kinh nghiệm không hay sẽ đưa đến ý nghĩ không hay. Vì vậy, các nhà nghiên cứu về xã hội nên chú trọng về cách thức hành động của con người thay vì chú trọng vào sự thật tiền định vốn không có - theo Hume. Kinh nghiệm thay vì lý trí sẽ giúp con người phát hiện ra các quy tắc hành động phổ cập. Nhân loại ở nhiều nơi khác nhau cho nên không thể có các kinh nghiệm giống nhau; vì vậy cho nên cơ cấu tổ chức xã hội ở các quốc gia cũng không thể giống nhau nhưng, theo Hume, các tiêu chuẩn về phương pháp hành động của nhân loại đều tương tự như nhau. 

  Mỗi cá nhân tự lo cho quyền lợi riêng tư, và khác vọng cá nhân sẽ đưa con người đến mục đích này. Quốc gia sẽ được công bằng một khi các cá nhân trong xã hội sinh hoạt theo chiều hướng quyền lợi cao thượng và lâu dài. Các nguyên tắc công bằng, tự do, luân lý đều không có sẵn giá trị tiền định; giá trị của các nguyên tắc này nằm ở chỗ hữu dụng của chúng. Ða số người trong xã hội không hiểu được là quyền lợi của họ có thể được nâng cao nếu xã hội lập ra các phép tắc hành động để phục vụ quyền lợi lâu dài bởi vì việc này có thể khiến họ phải hy sinh quyền lợi ngắn hạn. 

  Xã hội phải được lãnh đạo bởi thành phần ưu tú. Thành phần này được giáo dục để phát triển lý trí nhằm hướng dẫn xã hội đạt được những giá trị do khác vọng xác định. Các nhà lãnh đạo cũng phải có một số tư sản cần thiết để không bị lung lạc bởi những quyền lợi riêng tư và ngắn hạn. Nhân dân không chấp nhận một chính thể bởi vì hệ thống chính quyền của nó hợp với đạo đức luân lý. Nhân dân sẽ chấp nhận một chính thể khi họ nhận thấy rằng chính thể phục vụ quyền lợi của họ. Thực chất thì nhân dân chấp nhận chính thể bởi vì hệ thống chính quyền hoạt động hữu hiệu (chính quyền hữu dụng). Sự tồn tại và yếu tố đạo đức của chính thể đến từ sự hữu dụng và tùy thuộc vào sự hữu dụng của chính thể. 

  Theo Hume, con người tổ chức xã hội vì nhu cầu cần thiết dựa trên truyền thống lâu đời. Xã hội chính trị được thành lập để quản trị công lý và, nếu không có tổ chức xã hội, con người sẽ không bao giờ có hòa bình hay được an ninh; sự tồn tại của con người cũng sẽ bị đe dọa bởi tình trạng phi xã hội. Con người hiểu rõ rằng họ cần đến tổ chức xã hội, nhưng sự tranh dành quyền lợi riêng tư của con người cũng khó giữ vững được xã hội. Theo Hume, phương pháp duy nhất để tránh cho xã hội khỏi bị tiêu vong là phải chỉ định các quan tòa vào vai trò bắt buộc con người tôn trọng luật pháp. Con người phải được hướng dẫn để hành động theo quyền lợi lâu dài của họ bởi vì quyền lợi lâu dài mới là quyền lợi thực sự. Công lý được xây dựng trên sự tôn trọng luật pháp và, theo Hume, đây chính là nguồn gốc của chính quyền. 

  Chính quyền hữu hiệu không thể đặt căn bản trên bạo lực bởi vì nếu lý do duy nhất khiến con người phục tùng là sự sợ hãi thì chính thể không đứng vững. Những nhà lãnh đạo xa xưa đã sử dụng bạo lực để bắt buộc con người phải phục tùng, nhưng chính quyền hiện nay không cần làm như vậy bởi vì con người đã có sẵn truyền thống này (phục tùng). Ðại đa số nhân dân hiện nay tôn trọng pháp luật bởi vì nhân loại có truyền thống này. 

  Hume tin rằng nhân dân phục vụ chính quyền vì thói quen chứ không phải vì họ chấp nhận chính quyền. Nhân dân ít khi đặt câu hỏi về vị trí của họ hay ngôi vị cai trị của quốc vương; họ phục tùng chính quyền vì thói quen từ xa xưa. Theo Hume, việc bầu cử chính quyền không bảo đảm sự tán thành của nhân dân bởi vì nó đưa đến tình trạng một nhóm người quyết định quốc sự cho toàn thể nhân dân. Song song, phương pháp tổ chức chính quyền tệ nhất là phương pháp cách mạng lật đổ bởi vì cơ cấu chính quyền hiện hành bị tiêu hủy hoàn toàn. Không như Burke ủng hộ cuộc Cách Mạng Anh, Hume chỉ trích cuộc cách mạng năm 1688. Theo ông, cuộc cách mạng này chỉ thay đổi người ngồi trên ngai vàng không hơn không kém. Sau cuộc cách mạng này, chính quyền Anh không cai trị với sự tán thành của nhân dân mà là theo ý muốn của thiểu số quý tộc. Sự kiện đa số thường dân giữ thái độ im lặng không có nghĩa là họ tán thành những việc xảy ra trên chính trường. 

  Hume tôn trọng nguyên lý cai trị với sự tán thành của nhân dân nhưng ông nhận thấy rằng nguyên lý này khó có thể tồn tại trong thực tế. Con người không hoàn hảo để quan tâm đến vấn đề công lý cũng như hiểu biết được quyền lợi thực sự của họ. Chính quyền được thành lập bởi sức mạnh bạo lực (xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hay cách mạng lật đổ) chứ không phải do sự tán thành của người dân. Vào giai đoạn đầu của chính quyền mới, người dân còn e ngại cho nên chính quyền nên cẩn thận và phải sử dụng bạo lực để cai trị. Con người dần dần chấp nhận chính quyền chứ không ủng hộ chính quyền; con người phải chấp nhận chính quyền bởi vì đây là phương pháp duy nhất để họ giữ được quyền công dân. Quốc gia bị xâm chiếm như một con thuyền giữa biển và, nếu người dân không chấp nhận vị thuyền trưởng mới, họ chỉ còn một con đường duy nhất là nhảy xuống biển để tìm cái chết. 

  Theo Hume, trách nhiệm đạo đức mang hai sắc thái: thiên phú và xã hội. Trách nhiệm đạo đức thiên phú là những cảm giác không tùy thuộc vào các quan hệ chính trị như lòng thương người và sự nhớ ơn. Những cảm giác này có lợi cho xã hội và dể rung cảm lòng người. Trách nhiệm đạo đức xã hội là sản phẩm của kinh nghiệm và của sự suy nghiệm bao gồm một số yếu tố như sự phục tùng, thái độ giữ đúng lời hứa, và tinh thần tôn trọng tài sản của kẻ khác; những yếu tố này phải được tôn trọng vì sự hữu dụng của chúng giúp cho xã hội trường tồn. Kinh nghiệm sẽ cho con người thấy rằng nếu cứ hành động theo bản năng và không nghĩ đến kẻ khác, xã hội sẽ trở nên hổn loạn và quyền lợi của họ sẽ bị tiêu tán; vì vậy, nhân loại biết là phải giữ đúng lời hứa và tôn trọng tài sản của kẻ khác. Song song, nhân loại cũng hiểu là việc này chỉ xảy ra sau khi họ đã trao quyền cho các quan tòa. 

  Hume công nhận là nhân loại có ý thích hình thức chính quyền tự do. Theo Hume, chính quyền tự do là một chính quyền trong đó quyền hành được phân tán vào tay nhiều thành phần; tổng hợp quyền hành của các thành phần này sẽ lớn hơn quyền hành của Quốc vương. Song song, chính quyền tự do sinh hoạt trên căn bản luật pháp phổ thông. Trong những trường hợp ngoại lệ, Hume không ngăn cấm nhân dân chống đối chính quyền; nhưng ông lưu ý là sự chống đối sẽ dẫn đến chiến tranh và có thể tàn phá quốc gia còn hơn là sự lạm dụng quyền hành của chính thể độc tài. 

  Sự hợp pháp của một chính thể tùy thuộc vào nhiều yếu tố như sự tán thành của dân, sự truyền ngôi, v.v. Tuy vậy, Hume không cho là một số tiêu chuẩn tiền định nên được dùng để đánh giá chính quyền. Nguyên tắc cai trị duy nhất là (nguyên tắc) hữu dụng và thực nghiệm (the only rule of government... is use and practice). Hume cho vấn đề hợp pháp của một chính quyền tùy thuộc hoàn toàn vào sự hữu dụng của chính quyền đó. Nếu người dân chấp nhận một cơ chế chính quyền và chính quyền làm việc hữu hiệu, chính quyền đó có thể được xem như là hợp pháp. 

  Hume là người đầu tiên đưa ra các nguyên lý rõ ràng về chủ nghĩa Hữu Dụng. Ông phủ nhận tư tưởng nhân quyền thiên nhiên với lối suy luận duy lý cũng như quan niệm xã ước trừu tượng. Theo Hume, nhân loại vốn ích kỷ và luôn luôn lo cho quyền lợi riêng tư. Khác vọng, thay vì lý trí, xác định mục đích của con người, và con người luôn tìm kiếm thú vui cũng như trốn tránh các việc cực nhọc. Kinh nghiệm giúp cho nhân loại phân biệt được giữa các việc hoan lạc và việc khó khăn. Tuy vậy, con người không đủ trí khôn để tự nhận ra đâu là quyền lợi thật sự của họ và thường muốn thỏa mãn quyền lợi cá nhân ngắn hạn nhưng di hại cho quyền lợi lâu dài của họ. Sứ mạng của chính quyền là bắt buộc công dân đi theo chiều hướng đưa đến những thành quả lâu dài. Lý do duy nhất cho chính quyền tồn tại là khả năng (hay sự hữu dụng) của chính quyền trong nổ lực hoàn tất sứ mạng này một cách hữu hiệu. 

  Với tư tưởng này, Hume đã xây nền tảng cho trường phái Hữu Dụng với những ảnh hưởng bao trùm lên các sinh hoạt chính trị cận đại của xã hội Tây phương. Một số học giả sau này cũng xem triết gia Hobbes như một người có công lót những viên gạch đầu tiên cho chủ thuyết Hữu Dụng. Hobbes quan niệm là nhân loại chỉ kết hợp với nhau để tổ chức xã hội vì quyền lợi riêng tư (nhu cầu an ninh cá nhân). Ông không tin rằng nhân loại tổ chức xã hội vì họ muốn được hoàn mỹ về phương diện đạo đức. 

  Sự khác biệt giữa tư tưởng của Hobbes và các triết gia phái Hữu Dụng là hình thức tổ chức chính quyền. Hobbes lo sợ tình trạng hổn loạn vô tổ chức cho nên ông ủng hộ một chính quyền chuyên chế. Trong khi đó, các triết gia phái Hữu Dụng có thái độ lạc quan hơn; họ suy luận rằng mục đích hạnh phúc của con người có thể đạt được trong một xã hội tự do, vì vậy cho nên chính quyền chỉ nên giữ một vai trò giới hạn trong xã hội. Y¨ tưởng chính quyền chỉ nên đặc trách một vai trò tương đối giới hạn trong quốc gia phản ảnh thực tế xã hội Âu Châu vào giai đoạn sơ khai của chủ nghĩa Hữu Dụng. 

Tình Hình Xã Hội Âu Châu Biến Chuyển 

  Vào đầu thế kỷ 18 và 19, nhiều quốc gia ở Âu Châu chuyển mình thành cường quốc kỷ nghệ. Giai cấp mới trong xã hội - giai cấp kỹ nghệ gia - bắt đầu đòi được chia chác quyền lực chính trị đang nằm trong tay thành phần địa chủ lúc đó. Bởi vì không khuynh đảo được chính quyền theo ý muốn cho nên giai cấp doanh thương phải vận động cải tổ chính quyền để họ có thể ảnh hưởng luật pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp. 

  Trong nổ lực cải tổ chính quyền, thành phần kỹ nghệ gia tìm kiếm một triết thuyết để vận động thay đổi trào lưu tư tưởng lúc đó. Trường phái nhân quyền thiên nhiên không đáp ứng được nhu cầu biện luận của giai cấp thương mãi bởi vì nhiều lý do. Trường phái này đã bị sản phẩm bạo hành của cuộc Cách Mạng Pháp làm giảm uy tín. Song song, đầu óc thiên khoa học của con người lúc đó không tin một cách mù quáng vào các nguyên lý hiển nhiên (self-evident) là nhân loại tự nhiên có quyền sinh tồn, tự do và sở hữu tư sản. Không ai có thể chứng minh được là con người ở trong trạng thái thiên nhiên đã hiển nhiên có các quyền này; và nếu không cần chứng minh tiền đề này thì các lý luận ngược lại cũng phải được tôn trọng (con người ở trong trạng thái thiên nhiên hiển nhiên không có quyền tự do và hiển nhiên phải làm nô lệ cho những kẻ mạnh).   Chủ nghĩa Hữu Dụng ra đời vào thời điểm này đã giúp cho giai cấp doanh thương một phương pháp lý luận hữu hiệu và thực tiễn trong nổ lực chuẩn bị tư tưởng trước khi đẩy mạnh việc đòi hỏi cải tổ chính quyền. Chủ nghĩa Hữu Dụng đưa ra một ý niệm đơn giản: tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá bất cứ hành động nào - của tư nhân hay của chính quyền - là thành quả hạnh phúc nhất cho số người đông nhất (the greatest happiness of the greatest number of people). Nhân loại ai cũng muốn được hạnh phúc; và mọi người đều bình đẳng như nhau cho nên hạnh phúc của một cá nhân cũng quan trọng như hạnh phúc của những người khác bất kể giàu hay nghèo. Sự hợp pháp của một chính thể không đặt căn bản trên một hiệp ước siêu hình nào đó mà là trên nguyên tắc hữu dụng - khả năng của chính quyền đem hạnh phúc đến cho số lượng công dân đông nhất. Một chính sách được xem là tốt nếu nó có thể giúp cho đa số công dân đạt được hạnh phúc. 
  

Jeremy Bentham 


Bentham sinh vào tháng 2 năm 1748 ở Luân Ðôn. Năm 1785, Bentham viếng thăm Nga và ở lại đó gần 3 năm. Trong thời gian này ông viết sách Defence of Usury để biện hộ cho việc cho vay tiền lấy lãi. Một năm sau khi về lại Anh quốc, Bentham cho in sách Giới Thiệu các Nguyên Lý về Ðạo Ðức và Pháp Luật (Introduction to the Principles of Morals and Legislation) [1789]. Tác phẩm này đã nâng cao tên tuổi của Bentham và ông trở thành thần tượng của nhiều học giả cũng như chính trị gia ở Âu Châu và Bắc Mỹ. Năm 1823, Bentham cùng một số bạn hữu xuất bản báo Westminster Review để trình bày những đề nghị cải cách. Năm 1832, Bentham qua đời nhưng một số ý kiến cải tổ cơ cấu xã hội của nhóm Westminster Review do ông cầm đầu đã được chính quyền Anh thực hiện qua một số sắc luật mới, điển hình là Luật Cải Cách năm 1832 (the Reform Act of 1832) về vấn đề bầu cử, luật bãi bỏ tệ nạn nô lệ năm 1833, Luật Bần Cùng năm 1834 (Poor Law) để giúp đỡ dân nghèo. 

Bentham dọn đường cho chủ nghĩa Hữu Dụng bằng cách đã phá một số tư tưởng bảo thủ của Blackstone, một luật sư lừng danh, trong tác phẩm Fragment on Government. Theo Bentham, khi đánh giá luật pháp của quốc gia, người ta không thể dựa trên những yếu tố như sự lâu đời của luật pháp hiện hành hay các tiêu chuẩn tiền định. Tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá luật pháp là tiêu chuẩn hữu dụng. Một bộ luật được xem như không hợp lý nếu không hữu dụng. 

  Theo Bentham, người dân có nhiệm vụ phê bình luật pháp quốc gia. Nếu không được phê bình, luật pháp sẽ không bao giờ được sửa đổi để phản ảnh được những thay đổi trong xã hội. Vị luật gia nổi tiếng Blackstone đã phạm phải nhiều lỗi lầm lớn khi kết luận là hệ thống chính quyền và luật pháp của Anh tốt đẹp và cần phải được bảo vệ. Blackstone đã chấp nhận một cách mù quáng cách phân tích của Montesquieu về hệ thống phân chia quyền lực chính trị ở Anh. Blackstone không biết phân biệt giữa lý thuyết và thực tế: Quốc Hội của Anh không độc lập như Blackstone tưởng tượng bởi vì Anh Hoàng có thể giải tán Quốc Hội cũng như kiểm soát Quốc Hội bằng lợi lộc tiền tài hay chức vụ. Bentham gạt bỏ ý tưởng của Blackstone về khả năng như là một sản phẩm của chức tước. Theo Bentham, cách phục sức và chức tước bề ngoài không bảo đảm khả năng của cá nhân.   Bentham không tin là xã hội được tổ chức trên căn bản của một xã ước. Tư tưởng Xã Ước là một tư tưởng hoang đường chỉ có giá trị trong vai trò giúp đỡ nhân loại suy luận về vấn đề quốc trị nhưng không có giá trị trong thực tế. Theo Bentham, con người chỉ phục tùng chính quyền vì quyền lợi riêng tư (vì sự hữu dụng của việc phục tùng). Con người có thể nổi loạn chống lại chính quyền nếu thấy việc nổi loạn có lợi (hữu dụng) hơn việc phục tùng chính quyền. Một chính quyền có thể được xây dựng trên căn bản phân quyền giữa các ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp nhưng hình thức tổ chức chính quyền không tự nó xấu hay tốt mà chỉ là phương tiện để đạt cứu cách: thành quả hạnh phúc cho đa số công dân. Tiêu chuẩn hữu dụng là một tiêu chuẩn thực tế mà ai cũng có thể nhận ra thay vì các tiêu chuẩn siêu hình không đo lường được. 

  Trong tác phẩm Giới Thiệu các Nguyên Lý về Ðạo Ðức và Pháp Luật, Bentham định nghĩa nguyên lý hữu dụng là nguyên tắc tán thành hay phủ nhận một hành động của cá nhân hay chính quyền dựa trên kết quả gia tăng hay giảm bớt hạnh phúc của cá nhân can dự. (By the principle of utility is meant that principle which approves or disapproves of every action whatsoever, according to the tendency which it appears to have augmented or diminished the happiness of the party whose interest is in question: or, what is the same thing in other words, to promote or to oppose that happiness. I say of every action whatsoever; and therefore not only of every action of a private individual, but of every measure of government.) 

  Sự hoan lạc và đau đớn (pleasure, pain) là hai động lực chánh ảnh hưởng tất cả hành động của con người. Mỗi một hành động của con người đều nhằm mục đích gia tăng sự hoan lạc và giảm thiểu sự đau đớn tối đa. Những việc đem đến kết quả hoan lạc được xem là việc tốt còn các việc đem đến kết quả đau đớn được xem là việc xấu. Ðạo đức luân lý cũng phải được đánh giá trên căn bản này; những tiêu chuẩn thẩm định khác đều không thực tế hay hợp lý. Bentham gạt bỏ tiêu chuẩn thần định dựa trên mỹ ý của Thượng Ðế để đánh giá một sự việc xấu hay tốt. Theo ông, tiêu chuẩn thần định không rõ ràng cho nên không thể là căn bản để đánh giá các sự việc. [Song song, ai sẽ là người phân giải mỹ ý của Thượng Ðế? Chắc chắn là giáo hội hoặc vua (thiên tử hay con của trời) sẽ tranh nhau đòi cho được độc quyền này bởi vì nó cung cấp cho giáo hội và vua vô vàn cơ hội để phục vụ cho quyền lợi riêng tư.] 

  Xã hội có những cá nhân xem việc cực nhọc là hạnh phúc và không thích các việc hoan lạc. Bentham nhận thấy được hiện tượng này và ông kết luận rằng những người này đã áp dụng nguyên lý hữu dụng một cách sai lầm; đối với thiểu số này, hạnh phúc có nghĩa là đau đớn. Theo ông, nếu chỉ một phần mười nhân loại sinh hoạt theo kiểu này thì thế giới sẽ trở thành địa ngục; nhưng may mắn cho nhân loại, con số này rất là ít. 

 Theo Bentham, 14 yếu tố hạnh phúc là cảm giác (sense), giàu có (wealth), xảo thủ (skill), tình bằng hữu (amity), tiếng tăm tốt (good name), quyền lực (power), lòng hiếu thảo (piety), lòng từ thiện (benevolence), ác tâm (malevolence), trí nhớ (memory), óc tưởng tượng (immagination), kỳ vọng (expectation), sự kết hợp (association), vơi phiền (relief). Mười hai yếu tố đau đớn là cảm giác (senses), tiếng tăm xấu (ill name), lòng hiếu thảo (piety), lòng từ thiện (benevolence), ác tâm (malevolence), trí nhớ (memory), óc tưởng tượng (immagination), kỳ vọng (expectation), sự kết hợp (association), thiếu thốn (privation), sự lúng túng (awkwardness), và lòng thù hận (enmity). Một yếu tố thí dụ như yếu tố trí nhớ có thể đem đến cho con người hạnh phúc hay đau đớn tùy theo cách con người cảm nhận (hay xử dụng) yếu tố đó. [Ðộc giả có lẻ đã thấy được là những yếu tố hoan lạc và đau đớn mà Bentham đưa ra không diễn tả hết được tất cả các yếu tố hoan lạc và đau đớn trong vũ trụ của nhân loại. Vài chục yếu tố do ông kể ra chỉ là một thiểu số không đáng kể trong hàng vạn yếu tố tâm lý mà con người gặp phải hàng ngày.]   Bảy tiêu chuẩn để thẩm định sự hoan lạc hay đau đớn là cường độ (intensity), thời hạn (duration), sự chắc chắn hay không chắc chắn (certainty, uncertainty), tính tương trợ (propinquity), sự xa cách (remoteness), sự phong phú (fecundity), sự trong sạch (purity), khoảng độ (extent). [Bentham khuếch trương định nghĩa thông thường của các danh từ; điển hình như khi bàn về sự phong phú (fecundity), ông định nghĩa là khuynh hướng của một hành động đưa đến những cảm giác đồng loại; sự trong sạch (purity) có nghĩa là khuynh hướng của một hành động không đưa đến những cảm giác khác loại.] Ảnh hưởng của sự hoan lạc hay đau đớn được thẩm định dựa trên bảy yếu tố này: cường độ của ảnh hưởng (hoan lạc hay đau đớn), bao lâu, bao nhiêu người bị ảnh hưởng, v.v. 

  Các nhà lập pháp phải hiểu rõ nguyên lý hữu dụng để thi hành trách nhiệm một cách hữu hiệu. Họ phải đo lường hậu quả của các dự luật trên tiêu chuẩn gia tăng sự hoan lạc và giảm bớt sự đau đớn cho công dân. Hạnh phúc của quốc gia là tổng hợp hạnh phúc của toàn dân; quyền lợi của quốc gia là tổng hợp quyền lợi của toàn dân. Hạnh phúc hay quyền lợi của mỗi người dân đều như nhau cho nên chính quyền không thể thiên vị cho hạnh phúc hay quyền lợi riêng tư của một nhóm người nào. 

  Trong lãnh vực kinh tế, Bentham quan niệm là công dân nên được tự do làm ăn, và chính quyền nên tránh can thiệp vào lãnh vực kinh tế. Quyền lợi quốc gia sẽ được nâng cao khi người dân được tự do thực hiện công việc làm ăn hàng ngày mà không bị chính quyền cản trở. Trong lãnh vực đạo đức luân lý, chính quyền nên hướng dẫn công dân đi theo chánh lộ bởi vì sự tự do cá nhân có thể dẫn đến những hậu quả không tốt. Chính quyền nên tổ chức một hệ thống tưởng thưởng những hành động hợp đạo đức và trừng phạt những hành vi không tốt. 

  Nguyên lý Hữu Dụng đòi hỏi quyền hành của chính quyền phải bị giới hạn. Ngoài quyền hành sự để đem lại hạnh phúc nhiều nhất cho đa số nhân dân, chính quyền không còn quyền hạn gì cả. Chính quyền không những phải tránh cản trở nhân dân khi họ nổ lực tự tìm kiếm hạnh phúc cá nhân mà còn phải thông báo và giải thích các hành động của chính quyền. Nhân dân có quyền biết về quốc sách cũng như có quyền chỉ trích và chống đối chính sách của chính quyền. Ðể bảo đảm là chính quyền hành động một cách có trách nhiệm, Bentham cảm thấy là tổ chức chính quyền nên uyển chuyển để thành phần lãnh đạo và thành phần được lãnh đạo có thể trao đổi cương vị với nhau thường xuyên và dể dàng. Nhân viên chính phủ nên bao gồm những cá nhân giỏi và được huấn luyện kỷ lưỡng. Nhân viên chính phủ phải phục vụ quyền lợi quốc gia và, vì vậy, thỉnh thoảng họ có thể hành động khác với dư luận bởi vì nhân dân nhiều lúc không thể nhận ra được quyền lợi quốc gia. 
  Chính quyền tốt là một chính quyền quản trị quốc sự với mục đích đạt được hạnh phúc nhiều nhất cho đa số công dân. Khi suy xét về thực trạng chính trị ở Anh, Bentham lúc đầu tự tin là chính quyền đương thời sẽ cải cách chính sách để lo cho quyền lợi của công dân; nhưng sau này, ông nhận thấy là chính quyền Anh hủ bại đương thời chỉ khư khư giữ lấy quyền hành để phục vụ cho quyền lợi của giai cấp cầm quyền thay vì quyền lợi quốc gia. Bentham bắt đầu nghe theo ý kiến của bạn tri kỷ là James Mill, người chủ trương là phải cải cách hệ thống chính quyền trước khi có thể cải cách chính sách quốc gia. 

  Vấn đề khó khăn ở đây là xây dựng một chính thể mà trong đó hạnh phúc của thành phần lãnh đạo và thành phần được lãnh đạo tương tự như nhau để hai thành phần cùng hướng về một mục tiêu mà không phải đụng chạm với nhau. Bentham không tin là một chế độ dân trị như ở Athens vào thời cổ Hy Lạp (mà trong đó mỗi người dân đều có quyền quản trị quốc gia) còn có thể được tổ chức vào thời điểm hiện tại; tuy vậy, một chính thể tương tự như thế phải được xây dựng bởi vì chính thể dân trị có khả năng xóa sạch sự xung đột giữa quyền lợi của thành phần lãnh đạo và thành phần được lãnh đạo. Giải pháp mà Bentham cho là tốt nhất là giải pháp chính quyền đại diện (nhân dân) mà trong đó công dân bầu lên các nhân vật lãnh đạo quốc gia. Chính quyền đại diện dân làm việc với một tinh thần trách nhiệm sẽ gần giống như chính thể dân trị và có khả năng giảm thiểu sự xung đột giữa thành phần lãnh đạo và thành phần được lãnh đạo. 

  Bentham đưa ra một số phương pháp để giúp tổ chức chính quyền đại diện (nhân dân) hữu hiệu như phổ thông đầu phiếu, bầu cử theo cách đầu phiếu kín, bầu cử Quốc Hội hàng năm, giáo dục tư nhân phổ cập cho mọi người, chế độ thi cử để chọn lựa nhân viên chính phủ. Tính lạc quan của Bentham đã khiến ông phủ nhận ý kiến của một số triết gia dựa trên tư tưởng của Locke để kết luận rằng đặc điểm của các chính quyền là khuynh hướng lạm dụng quyền lực hành chánh cho nên quyền hành của chính quyền phải được kiểm soát. Theo Bentham, khi mà một chính quyền thực sự đại diện cho dân và làm việc với tinh thần trách nhiệm để lo cho quyền lợi của quốc dân thì các phương pháp hạn chế quyền hành của chính quyền như sự phân quyền, sự kiểm soát chế quyền, luật về dân quyền, v.v., không còn cần thiết. 

  Tư tưởng của Bentham đã ảnh hưởng cách đánh giá chính sách của chính quyền và sự hiệu quả của một chính thể không những ở Tây phương mà còn ở A¨ Ðông và khắp thế giới. Nếu một chính sách hay một chính thể không có khả năng đem lại hạnh phúc cho đại đa số công dân thì chính sách hay chính thể đó không được xem là hữu dụng, và người dân có quyền chống đối cũng như thay đổi chính quyền. Chính quyền chỉ có thể tồn tại trên khả năng đem lại hạnh phúc cho đại đa số nhân dân; nếu chính quyền không thể đạt được mục đích này thì không có lý do để tồn tại. Chủ nghĩa Hữu Dụng đã đóng góp một phần rất quan trọng vào sự hình thành của chính thể dân chủ với nền kinh tế tự do và đặt căn bản quyền lực chính trị trên giai cấp trung lưu. Vào cuối thế kỷ 20 này, hầu như các quốc gia dân chủ tân tiến trên thế giới đều có tổ chức chính trị phản ảnh các nguyên lý Hữu Dụng (Tân Hữu Dụng do John S. Mill phổ cập); vì vậy, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nghe một số học giả chỉ trích chính sách của chính quyền khi nền kinh tế bị khủng hoảng lâu năm đưa đến nạn thất nghiệp trầm trọng và nguy cơ làm suy nhược cũng như giảm bớt giai cấp trung lưu (middle class). 

  Vài khuyết điểm của triết lý Hữu Dụng nằm ở một số giả định (hypotheses) căn bản của triết lý này. Bentham không đưa ra bằng cớ để chứng minh cho sự hiện hữu của tiêu chuẩn hạnh phúc nhất cho số người đông nhất trong khi ông phủ nhận các giả thuyết hiển nhiên của chủ nghĩa nhân quyền thiên nhiên (quyền hiển nhiên được sinh tồn, tự do, và sở hữu tư sản, v.v.) trên căn bản là khoa học không chứng minh được nhân quyền thiên nhiên. [Câu hạnh phúc nhất cho số người đông nhất do Joseph Priestley đưa ra lần đầu tiên trong bài Luận về Chính Quyền (Essay on Government) và được Bentham triết hóa trong các tác phẩm của ông.] Song song, giả định của Bentham về nhu cầu hạnh phúc của con người cũng không được khoa học chứng minh. Làm sao mà chúng ta biết được nhu cầu hạnh phúc của tất cả mọi người đều tương tự nhau? Làm sao mà chúng ta biết được là tiêu chuẩn hạnh phúc của tất cả mọi người đều giống như nhau? Thực tế cho thấy mỗi cá nhân đều có các ý niệm riêng tư về hạnh phúc, và tiêu chuẩn hạnh phúc của một người (tiền tài, danh vọng) chưa chắc giống tiêu chuẩn hạnh phúc của một người khác (sức khỏe, tình yêu).   Mặc dầu một vài giả định của Bentham không được ông chứng minh bằng chứng cớ, học thuyết Hữu Dụng không vì vậy mà trở thành một chính thuyết vô bổ. Nguyên lý Hữu Dụng với quan niệm về ảnh hưởng hoan lạc hay đau đớn của mọi hành động không trừu tượng như các định lý thiên nhiên. Ai cũng có thể hiểu được thế nào là hoan lạc và thế nào là đau đớn cũng như thế nào là hạnh phúc để có thể đánh giá chính sách quốc gia cũng như sự hữu hiệu của một chính thể tương đối dễ dàng. Trên bình diện quốc gia, việc đo lường hạnh phúc của quốc dân rất là phức tạp nhưng không phải là không thể tiến hành được. Trong thời đại hiện nay, những phát minh mới như các phương pháp thăm dò dư luận (public opinion polls), các ủy ban Quốc Hội tiếp nhận ý kiến cải cách luật pháp hay chính sách quốc gia, v.v., được sử dụng không những để tìm hiểu nhu cầu của quốc dân mà còn để thẩm định các sách lượt hay dự luật có lợi nhất cho quốc dân. 

Như đã bàn ở trên, học thuyết Hữu Dụng đã ảnh hưởng sâu đậm chính trường Châu Âu và bắt buộc các chính quyền Tây phương phải cải cách chính sách quốc gia hầu nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy vậy, chính thuyết của Bentham vẫn chưa giải đáp hết được các bài toán khó khăn do những thay đổi cơ bản sau này trong xã hội Âu Châu đem đến. Các kết quả tàn nhẫn của nền kinh tế tự do không bị chính quyền kiểm soát đã khiến các triết gia Hữu Dụng - vốn thiên về chiều hướng tự do kinh doanh - phải chuyển hướng kêu gọi chính quyền can thiệp vào thương trường để giảm bớt các tệ nạn xã hội bất công. Ngôi sao sáng nhất của trường phái tân Hữu Dụng là John Stuart Mill. 

. . . . . . . . . .             Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 203-224