Lão Tử với Quan Niệm Vô Vi
(Trích từ Diển Đàn Dân Chủ - Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của Dương Thành Lợi
xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn
chứng.)
Tương tự như Khổng Tử, Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên rất ưu tư về vấn đề quốc trị. Ông thấy là 'dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị,'.. 'thiên hạ nhiều kiêng kỵ thì dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí thì quốc gia thêm mờ tối, người càng nhiều xảo thuật thì vật kỳ lạ càng xuất hiện, pháp luật càng sáng tỏ thì trộm cướp càng nhiều.' Và vì nhận xét như vậy cho nên Lão Tử chủ trương rằng lãnh tụ quốc gia phải áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu thì mới có thể an bang tế
thế.
'Phản phục (trở về) là cái động của đạo. Yếu mềm là cái dụng của đạo. Muôn vật dưới trời sinh ra từ cái Có, cái Có sinh ra từ cái Không.'
Ðường lối quốc trị tốt nhất là đường lối vô vi: lo cho dân no ấm, mạnh khỏe và dạy cho dân sống tự nhiên hợp với môi trường chung quanh, không suy nghĩ hay thèm thuồng mỹ vật. Một khi dân được ấm no, không bệnh tật và không ham chuộng của quý vật lạ cũng như không có nhu cầu khoe tài hay ganh đua để được lãnh tụ yêu mến thì dân đã thấm nhuần tinh thần vô vi (không làm); và khi đã theo vô vi rồi thì dẫu có kẻ tài trí, tham lam xách động nhân dân nổi loạn thì họ cũng không làm (vô vi).
'Không chuộng thượng hiền, dân không giành giựt; không trọng của khó, dân không đạo tặc; không thấy tham dục, tâm của dân bất loạn. Vì thế cái việc sửa sang của thánh nhân là làm tâm trống, bụng đầy, ý chí suy nhược, xương cốt mạnh; thường khiến dân không biết, vô dục, khiến cho kẻ biết không dám làm. Làm vô vi (cái không làm) tất không cái gì là không được sửa sang.'
Việc quản thống quốc sự rất quan trọng và đòi hỏi lãnh tụ phải vô cùng cẩn thận (như nấu cá con - không bỏ đầu, ruột, đuôi mà còn không dám dùng cả muỗng để quậy lên vì sợ cá có thể bị nát). Một khi nhân dân được lãnh đạo theo sách lược vô vi thì họ sẽ sống chất phác theo đạo, đầu óc gian manh, quỷ quyệt, tham lam cũng biến mất, và quỷ (vốn cũng do đạo sinh ra) không thể làm hại dân.
'Quản trị đại quốc như nấu cá con. Ðem đạo đến với thiên hạ thì quỷ không thiêng; không phải quỷ không thiêng, cái thiêng của quỷ không làm hại người; không những cái thiêng của quỷ không làm hại người, đấng thánh nhân cũng không làm hại người. Ôi, hai bên không làm hại nhau, cho nên đức giao quy với nhau vậy.'
Lãnh tụ quốc gia phải biết thương dân. Lãnh tụ không thể chỉ đặt ra luật lệ và đợi dân làm sai rồi hành hạ, giam cầm, xử trảm. Lãnh tụ quốc gia có nhiệm vụ chỉ bảo nhân dân hướng thiện theo đạo chứ không thể đem cái chết ra hăm dọa nhân dân. Tương tự như con thú khi bị dồn vào chân tường thì cắn lại, nhân dân khi bị bóc lột, khổ sở hết mức thì hết sợ chết; mà khi nhân dân hết sợ chết thì sự dọa nạt của lãnh tụ trở nên vô dụng. Kẻ nào dùng bạo lực để trị quốc thì 'hiếm khi không bị thương ở tay'.
'Dân khinh tử làm sao lấy cái chết dọa họ? Nếu khiến thường dân sợ chết mà làm điều lạ lùng để ta được bắt mà giết đi, ai còn dám làm? Thường kẻ nắm quyền sinh sát giết. Ôi thay thế kẻ nắm quyền sinh sát để giết (người), thế là thay thợ đẽo gỗ. Ôi kẻ thay thợ cả đẽo gỗ, hiếm khi không bị thương ở tay.'
Thương dân thì phải lo cho dân no ấm, tránh sưu thuế cao và không ép buộc dân phục dịch. Nếu kẻ ở trên sống xa xỉ, thâu sưu thuế cao mà còn bắt dân phục dịch thì nhân dân chỉ có thể chịu đựng đến một mức độ nào đó rồi trở nên loạn bởi vì họ không còn sợ chết nữa. 'Thánh nhân vi phúc, bất vi mục' (Thánh nhân vì cái bụng mà không vì con mắt). Lãnh tụ quốc gia không nên đam mê cái bề ngoài xa xỉ mà ngược lại phải biết thương dân, lo cho dân no bụng và tránh những hành động ép dân vào cái thế khinh tử.
'Dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói. Dân khó trị vì người trên theo hữu vi cho nên dân khó trị. Dân khinh tử vì cầu sống quá dầy cho nên khinh tử. Ôi duy chỉ kẻ nào không vì sự sống mà làm, là khôn ngoan hơn quý trọng sự sống.'
Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi. Trong quốc gia lý tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên; bởi vì hài lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia có thể 'giũ áo, chắp tay, không làm (vô vi)' mà thiên hạ cũng được thái bình.
'Tiểu quốc dân ít, khiến có đồ dùng gấp mười, gấp trăm mà không dùng, khiến dân coi trọng sự chết mà không dời đi xa; tuy có thuyền, xe mà không ngồi, tuy có áo giáp đồ binh mà không bày ra; khiến người ta lại thắt nút giây mà dùng, ăn ngon, mặc mỹ phục, an cư, vui với thói tục, lân quốc cùng trông với nhau, cùng nghe thấy tiếng gà chó của nhau, dân đến già chết, không qua lại với
nhau.'
Lãnh tụ quốc gia hiểu được là vạn vật chỉ biến hóa từ đạo mà ra cho nên áp dụng sách lược vô vi vào việc quản thống quốc sự. Lãnh tụ biết trị quốc theo vô vi thì dân chúng được tự do, bình an, và yêu mến cũng như gần gũi với giới lãnh đạo. Lãnh tụ tệ hơn thì trị nước theo phương pháp hữu vi để đưa ra phép tắc, luật lệ nhằm quản trị quốc sự và nhân dân theo nề nếp; tuy nhiên, phép tắc và luật lệ lại có thể làm cho đời sống của bá tánh phức tạp thêm và khổ sở hơn. Khi lãnh tụ còn anh minh và lo cho dân thì dân còn sợ phép tắc, luật lệ; nhưng khi lãnh tụ không nghiêm minh thì nhân dân hết tin tưởng vào luật lệ và trở nên khi quân. Thái độ của dân phản ảnh tư cách và khả năng của giới lãnh đạo quốc gia.
'Bậc thánh trên cao, kẻ dưới biết có mình. Bậc dưới mến thân mà ngợi khen. Bậc dưới nữa, họ sợ. Bậc dưới nữa, họ khinh nhờn. Không đủ tin nên họ không tin. Lo nghĩ quý lời nói, công thành việc thỏa, bá tánh đều bảo rằng tự nhiên bởi ta.'
Người lãnh đạo dùng cái 'thường' của đạo để hòa đồng cùng thiên hạ mà không để lộ ra chân tướng huyền bí của đạo (nên mới gọi là 'huyền đồng', thay vì 'đại đồng'). Dùng phép huyền đồng để trị quốc thì có thể hòa nhập với quốc dân trong mọi hoàn cảnh; không vì xấu, khó, hại mà xa dân hay vì tốt, dễ, lợi mà gần dân cho nên dân vô cùng quý mến và tuân phục theo.
'Kẻ biết không nói, kẻ nói không biết; lấp miệng, đóng cửa, bẻ cho mất ngọn, phân giải cắt xẻ, hòa trộn kỳ quang, cùng chung bụi bậm, thế gọi là cùng một với huyền đồng; cho nên không thể được mà thân gần, không thể được mà thưa xa, không thể được mà lợi, không thể được mà hại, không thể được mà quý, không thể được mà hèn, cho nên làm thứ quý trong thiên hạ.'
Chính sách quốc trị căn bản theo vô vi đòi hỏi thành phần lãnh đạo quốc gia phải 'tuyệt thánh bỏ trí, tuyệt nhân bỏ nghĩa, tuyệt xảo thuật bỏ lợi'. Ðường lối quốc trị hữu vi khiến con người dùng đến xảo thuật chính trị để cầm quyền. Lão Tử với chủ trương vô vi dạy giới lãnh đạo phải bỏ qua tiểu xảo, gian mưu khi trị quốc. Tiểu xảo, gian mưu đến từ trí cho nên phải tuyệt thánh bỏ trí. Lão Tử cũng khuyên là đừng nên đề cao nhân nghĩa quá đáng. Loài người sống trong xã hội hỗn loạn có thể được hướng dẫn làm điều lành, việc thiện; nhưng nếu lãnh tụ quốc gia đề cao nhân nghĩa bề ngoài mà không chú trọng tâm phục thì nhân nghĩa trở thành cái vỏ lễ nghi tốn kém đè chết nhân dân: kẻ dưới phải nịnh bợ, đút lót bề trên và hà hiếp cũng như chà đạp người ở dưới hơn. Việc tôn trọng lợi lộc cũng đem đến tình trạng bi thảm như việc tôn trọng nhân nghĩa quá đáng. Khi mọi người đều tôn thờ lợi lộc thì dồn cả tâm trí vào việc chiếm đoạt lợi lộc; dần dần con người trở thành đạo tặc.
'Tuyệt thánh bỏ trí, dân được lợi bội phần. Tuyệt nhân bỏ nghĩa, dân trở lại hiếu từ. Tuyệt xảo thuật bỏ lợi, không có đạo tặc. Ba thứ ấy lấy làm văn không đủ, cho nên khiến phải có cái để chuyên chú vào. Hiện rõ bảo vệ chất phác, ít riêng tư ham muốn.'
Trong nỗ lực quản thống quốc sự, bậc lãnh đạo biết giao việc cho người có khả năng nhưng không vì khả năng tài giỏi mà lại quý mến kẻ nhận trọng trách hơn người khác; bởi vì nếu làm như vậy thì người ta tranh đua nhau để khoe tài rồi lại âm mưu hại lẫn nhau vì ai cũng muốn được lãnh tụ yêu mến. Thế cho nên khi lãnh tụ không yêu mến người tài giỏi thì dân tránh được thảm trạng tranh giựt hại nhau. Song song, bậc lãnh đạo quốc gia cũng không nên tỏ vẻ yêu thích của quý, vật lạ; bởi vì nếu làm như vậy thì dân cũng bắt chước theo và thèm thuồng để rồi đem đến cảnh đâm chém giành giựt lẫn nhau.
Lão Tử suy luận rằng việc quốc trị thì lồng lộng cho nên khó ai biết được điểm tối cực của chính trị. 'Họa là nơi nương tựa của phúc; phúc là nơi núp náu của họa; ai biết cái cuối cùng không ngay ngắn; ngay ngắn là quay ra mưu mẹo; điều tốt lành trở nên yêu nghiệt; dân u mê vốn đã lâu ngày.' Nguời tài giỏi quản trị quốc sự không bao giờ chủ trương giành công hay danh tiếng cho nên cố gắng giấu giếm thành tích, khả năng cá nhân (chính trị đục mờ); và nhờ những lãnh tụ quốc gia không tham lam danh lợi như vậy mà dân chúng được nhờ (chính trị đục mờ, dân thuần hậu).
Ngược lại thì nhân dân sẽ bị lao đao khi gặp những hành động khoe khoang, tranh giành tư lợi (chính trị trong sáng) trong thành phần lãnh đạo. Lãnh tụ càng chủ trương 'trong sáng hóa chính trị' bằng cách tung ra nhiều mệnh lệnh, phép tắc thì dân chúng càng bị rối óc bởi vì mạng lưới phức tạp của luật lệ, phép tắc; đối đầu với rừng luật lệ, nghị định, nghị quyết, v.v., đời sống của nhân dân càng cực khổ hơn (chính trị trong sáng, dân điêu mỏng [lao đao]).
Bậc thánh nhân chủ trương trị quốc theo phương pháp vô vi nhằm giảm thiểu phép tắc vốn được đặt ra để áp bức và trừng phạt nhân dân. Lãnh tụ quốc gia theo đạo sẽ hướng dẫn nhân dân noi theo gương của mình, dùng cái thanh liêm của mình để dạy dỗ dân bỏ đi lòng tham dục cũng như các hành động xấu. Dần dần nhân dân trở thành thuần hậu và sống theo tự nhiên, chất phác mà không bị phép tắc chính trị gò bó. Luật lệ hà khắc được đặt ra (hữu vi) nhằm khiến người ta sợ nhưng hiếm khi tiêu diệt hết được các tệ nạn xã hội; trong khi đó đường lối vô vi không dựa trên phép tắc rườm rà lại có thể cảm hóa nhân dân để họ theo con đường thiện hợp với cái đạo của tạo hóa.
'Chính trị đục mờ, dân thuần hậu, chính trị trong sáng, dân điêu mỏng (lao đao). Họa là nơi nương tựa của phúc; phúc là nơi núp náu của họa; ai biết cái cuối cùng không ngay ngắn; ngay ngắn là quay ra mưu mẹo; điều tốt lành trở nên yêu nghiệt; dân u mê vốn đã lâu ngày. Cho nên đấng thánh nhân vuông mà không cắt chia, trong sạch mà không hại vật hại người, thẳng mà không duỗi mở rộng ra, sáng mà không chói lòa chiếu rọi.'
Lão Tử không chủ trương dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược đạo trị (vô vi) để vạn vật phát triển tự nhiên (không bày ra phép tắc, xảo thuật để gò ép nhân dân). Theo ông, nếu muốn hướng thiện thì đừng trừng phạt kẻ xấu mà nên dùng tư cách thánh nhân để cảm hóa kẻ xấu.
Chính sách quốc trị cao nhất là đạo trị, rồi mới đến đức trị (nhân trị), và rồi đến pháp chế; chính sách xảo trị (dùng xảo thuật để cầm quyền) là phương pháp thấp nhất vì lãnh tụ không còn được nhân dân tin tưởng nữa mới dùng đến xảo thuật. Lãnh tụ không tin dân cho nên mới bày kế để gò ép dân; dân không tin lãnh tụ cho nên phải đóng kịch sợ sệt hay cung kính để lừa gạt lãnh tụ. Hai bên đều dùng bề ngoài xảo trá để làm bình phong che giấu sự bất tín.
'Sắp muốn thu lại, tất hãy mở ra; sắp muốn làm yếu đi, tất hãy làm mạnh lên; sắp muốn phế đi, tất hãy dương lên; sắp muốn đoạt lấy, tất hãy cho; thế gọi là sâu kín sáng sủa. Nhu nhược thắng cương cường, cá chẳng thoát khỏi vực; đồ dùng có lợi cho nước, bất khả dĩ đem bảo cho dân biết.'
Câu 'sắp muốn thu lại, tất hãy mở ra; sắp muốn làm yếu đi, tất hãy làm mạnh lên; sắp muốn phế đi, tất hãy dương lên; sắp muốn đoạt lấy, tất hãy cho; thế gọi là sâu kín sáng sủa' trong Ðạo Ðức Kinh có thể khiến một số người hiểu lầm là Lão tử chủ trương xảo trị. Thực ra thì Lão Tử chủ trương vô vi trị 'lấy nhu nhược để thắng cương cường,' hướng dẫn nhân dân sống theo tự nhiên hơn là gò ép hay lừa đảo họ. Lãnh tụ quốc gia vào thời xa xưa đã dùng đạo để hướng dẫn nhân dân sống chất phác thật thà; và nhờ vậy mà xã hội không bị loạn. Trong thời đại của Lão Tử, con người sử dụng nhiều mưu mẹo bởi vì nhu cầu kiếm sống của xã hội phức tạp bắt buộc họ phải 'đa mưu túc trí'. Ðối diện với thực trạng của nhân loại, Lão Tử chủ trương hướng dẫn con người trở về với đạo để tìm lại đời sống chất phác, thật thà, ít lo âu. Ông suy luận rằng cách hại nước là cách dùng mưu mẹo để gò ép nhân dân bởi vì khó dùng trí để cai trị dân 'đa mưu túc trí' - nếu có thành công thì kẻ thất bại (nhân dân) cũng không vui vẻ mà tuân phục một cách tự nhiên. Do đó Lão Tử đề nghị là nên dùng đạo để trị quốc, thay vì dùng xảo thuật vào việc quản thống quốc sự.
'Ðời xưa người giỏi làm theo đạo, không lấy đạo khai sáng cho dân, lấy đạo làm cho dân chất phác thực thà. Dân khó sửa trị vì lắm đa mưu túc trí. Cho nên đem trí ra trị quốc là hại nước. Không dùng trí trị quốc là phúc của nước. Biết hai điều ấy là hợp với khuôn phép. Thường biết khuôn phép gọi là huyền đức; huyền đức thâm sâu vậy, xa vậy, vật quay trở về vậy, rồi sau bèn tới chỗ đại thuận.'
Giới lãnh đạo quốc gia có thể dùng luật pháp để quản thống việc đất nước, nhưng không thể dùng xảo thuật, mưu mẹo để lừa dối nhân dân. Xảo thuật, mưu mẹo là sở trường của việc binh quân chứ không phải của việc trị quốc. Tuy nhiên, đường lối pháp chế và xảo trị cũng không thể khiến thiên hạ phục. Theo Lão Tử, chỉ có sách lược vô vi mới có thể khiến thiên hạ bốn bề hướng về và thuần phục.
Ðối diện với chính thể pháp chế, xảo trị thì nhân dân cũng khôn ra và sẽ dùng tài vặt cá nhân để thủ lợi; và nếu ai cũng lo thủ lợi cá nhân thì không ai lưu ý đến quyền lợi quốc gia khiến đất nước trở nên yếu kém. Với chính sách đạo trị, người dân trở nên chất phác, không tham lam, không tranh giành lẫn nhau khiến quốc gia được ổn định, thiên hạ được thái hòa.
'Ðem ngay chính để trị quốc, đem mưu mẹo để dùng binh, đem vô sự (không việc) để lấy thiên hạ, ta lấy gì biết được là như vậy? Nhờ bởi thế. Thiên hạ đa kỵ sợ, kiêng nhiều sự mà dân càng nghèo; dân nhiều lợi khí mà quốc gia càng tăm tối loạn thêm; con người nhiều kỷ xảo, vật lạ càng nảy ra nhiều; phép tắc luật lệ càng rõ rệt, đạo tặc càng lắm. Cho nên bậc thánh nhân nói: không làm gì mà dân tự thay đổi, ta ưa yên lặng mà dân tự ngay ngắn, ta vô sự mà dân tự giàu có, ta không ham muốn mà dân tự chất phác.'
Nhân loại sống trong thời đại hôm nay khó tin là 'cái nhu nhược trong thiên hạ có thể cai quản được cái chắc bền' hay 'lấy nhu thắng cương' được. Nhưng có lẽ hiếm ai không biết câu tục ngữ 'nước chảy đá mòn'; nước rất mềm mại và nhẹ nhàng, trong khi đó đá là chất cứng phải dùng búa lớn mới có thể đập bể thành từng mảng nhỏ. Nước mềm mại, nhẹ nhàng nhưng có thể xoáy mòn đá cứng lại còn mài dũa mặt đá bằng phẳng, bóng láng. Một chứng cớ hùng hồn về sự tất thắng của đường lối 'lấy nhu nhược để thắng cương cường' là thành quả của phong trào bất bạo động dưới sự lãnh đạo của Thánh Gandhi. Với chủ trương dùng tình thương để cảm hóa đồng bào và kẻ thù, Gandhi trong tay không một tấc sắt đã làm sụp đổ đế quốc Anh - một đế quốc mà mặt trời không bao giờ lặn trong biên thùy thuộc địa. Sự kiện này chứng minh chủ trương 'lấy nhu thắng cương' không hẳn là thiếu thực tế.
Ðạo sinh ra vạn vật nhưng không tham lam giành lấy quyền tự sáng tạo (tự sinh) với vạn vật giống như cha mẹ không giành giựt với con. Bậc thánh nhân cũng như vậy; khi quản trị quốc sự, đấng thánh nhân không bao giờ tranh giành quyền lợi với nhân dân. Vạn vật đều là của chung cho nên bậc lãnh đạo không bao giờ giành lấy để làm tài sản riêng tư; nhờ vậy mà không ai tham lam giành giựt để đi đến chỗ tranh chấp tương tàn.
'Thiên trường địa cửu, trời đất sở dĩ có thể trường cửu là tại trời đất không tự sinh, cho nên có thể trường sinh. Vì thế thánh nhân để mình sau mà thân trước, đặt mình ra ngoài mà thân còn; há chẳng phải là không riêng tư vậy ư, cho nên thành được cái riêng tư cho mình.'
Một đặc tính căn bản của sách lược vô vi là tiết kiệm. Thánh nhân không phí sức, phí công thi triển tài năng, mà ngược lại thì tằn tiện trong mọi trường hợp để bồi bổ, nuôi dưỡng ngay cả trong lúc phải thi thố tài năng. Sự sung mãn, dồi dào đến từ nỗ lực tiết kiệm lâu dài sẽ đem đến thắng lợi.
'Trị nhân thờ thiên không gì bằng dè xẻn. Ôi duy chỉ dè xẻn ấy là sớm phục. Tảo phục là chứa nhiều đức. Chứa nhiều đức tất không có gì là không thắng được. Không gì là không thắng được tất không biết đến đâu là cùng, không biết đến đâu là cùng có thể có được nước. Có mẹ của nước có thể được trường cửu. Thế gọi là rễ sâu, gốc bền, là đạo trường sinh, không già lão.'
Lão Tử đòi hỏi lãnh tụ quốc gia phải sống tằn tiện và chăm lo cho nhân dân. Ông khinh khi bọn quan vương chỉ lo khoe khoang tài trí, ăn mặc diêm dúa trong khi dân chúng phải sống trong cảnh lầm than. Triều đình với lâu đài tráng lệ bắt buộc nhân dân phải phục dịch, đóng thuế. Muốn phục dịch để xây cất lâu đài cho quan vương thì dân phải bỏ việc đồng áng, muốn đóng thuế để chi tiêu cho thú vui của quan vương thì nhân dân phải mở kho để nộp sưu thuế. Rốt cuộc thì cái sung sướng của bọn quan vương được xây dựng trên sự ăn cướp tài sản và công sức của nhân dân cho nên không có gì đáng để khoe khoang.
'Vì khiến chắc chắn ta có hiểu biết, đi trên đại đạo, duy chỉ sợ lạc vào đường cong queo. Ðại đạo rất mực phẳng bằng, mà dân lại thích đường cong lối nhỏ. Triều đường rất mực sạch sẽ, nhưng ruộng nương bỏ hoang, kho đụn trống rỗng, mặc quần áo tơ lụa màu sắc văn vẻ, đeo kiếm sắc bén, ăn uống no nê, tiền của thừa thãi, như thế gọi là ăn cướp mà lại khoe khoang. Trái đạo vậy thay!'
Về lãnh vực quốc phòng, Lão Tử chủ trương không dùng sức mạnh quân sự để 'trị quốc, bình thiên hạ'. Sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên Lão Tử rất ghét binh lửa. Quân đội đi đến đâu thì mang đau thương đến đó, và còn gây ra nhiều hậu quả tác hại cho tương lai như nạn mất mùa. Nếu lãnh tụ quốc giả sử dụng sức mạnh đao binh để 'trị quốc, bình thiên hạ' thì sớm muộn gì cũng sẽ bị thất bại dưới vó ngựa của một đạo quân mạnh hơn. Không có sức mạnh quân sự nào trường cửu vĩnh viễn; phong kiến Trung Hoa, đế quốc La Mã, thực dân Anh, v.v., đều tàn lụi theo thời gian. 'Vật mạnh mẽ ắt già, ấy bảo là không noi theo đạo; không noi đạo, sớm hết.'
Tuy vậy, quốc gia không phải là chẳng bao giờ dụng binh. Theo Lão Tử, quốc gia chỉ điều động sức mạnh quân sự khi cần phải cứu người. Khi dấy quân cứu người, lãnh tụ cũng không được kiêu căng hay khoe khoang. Việc cứu người là việc cần thiết nhưng lãnh tụ cũng phải nhún nhường, khiêm tốn khi giúp người hoạn nạn. 'Cứu mà không tự khoe mình, cứu mà không khoe công, cứu mà không kiêu căng, cứu mà chẳng đừng được, cứu mà không
mạnh.'
'Kẻ dùng đạo giúp vua thì không dùng binh để mạnh hơn thiên hạ; việc làm như thế thường hiếu hoàng (trở lại). Ðại quân đóng ở đâu bụi cây kinh, gai mọc lên ở đấy; sau trận chiến tranh lớn ắt có năm mất mùa; khéo cứu nạn mà thôi, không dám đem lấy mạnh. Cứu mà không tự khoe mình, cứu mà không khoe công, cứu mà không kiêu căng, cứu mà chẳng đừng được, cứu mà không mạnh. Vật mạnh mẽ ắt già, ấy bảo là không noi theo đạo; không noi đạo, sớm hết.'
Khi dụng binh, lãnh tụ không thể khinh địch bởi vì 'tai họa không gì lớn bằng khinh địch'. Song song, lãnh tụ cũng phải biết thương dân khi điều động binh quân. Khi biết thương dân thì ít khi dấy quân gây chiến (làm chủ) mà chỉ thủ quân để bảo vệ đất nước (làm khách).
'Dụng binh có câu: ta không dám làm chủ mà làm khách, không dám tiến một tấc mà lùi một thước, thế gọi là đi mà vô hành (không bước đi), xắn tay mà không cánh tay, bắt giặc mà không đối địch, cầm binh khí mà không có binh khí. Tai họa không gì lớn bằng khinh địch; khinh địch làm mất của báu của ta, cho nên hai quân ngang nhau cầm cự cùng nhau, kẻ xót thương mà thắng vậy.'
Khi nắm giữ binh quân, lãnh tụ phải cẩn thận, tự chủ, không khinh xuất, không hung hăng, không giận dữ, tránh võ đoán, và luôn luôn khiêm nhường hạ mình để tôn hiền nhân thì hiền nhân sẽ tự nhiên theo mà giúp. Trên chiến trường, lãnh tụ giỏi không bao giờ khoe khoang, có quân mạnh nhưng không phô trương thanh thế, và nhờ vậy kẻ địch không biết thực lực và khả năng của mình cho nên dễ thắng trận. Lãnh tụ thực sự tài giỏi không bao giờ tự vỗ ngực khen mình và chiếm lấy công lao của binh tướng khi chiến thắng mà phải biết san sẻ, tưởng thưởng cho binh tướng. Lãnh tụ không tranh cãi hay cướp công của binh tướng (bất tranh chi đức) thì binh tướng một lòng một dạ tuân phục.
'Người khéo làm tướng không hung hăng dùng võ; người đánh trận giỏi không giận dữ; người khéo thắng kẻ địch không đánh nhau; người khéo dụng nhân ở dưới người. Thế gọi là đức bất tranh (bất tranh chi đức), thế gọi là tài sức dụng nhân; thế gọi là hợp với sự chừng mực của trời.'
Khi đối ngoại, Lão Tử chủ trương bất tranh. 'Dĩ kỳ bất tranh cố thiên hạ mạc năng dữ chi tranh' (Không tranh với ai cho nên thiên hạ không ai tranh với mình). Nước lớn phải biết khiêm nhường để khiến các dân tiểu quốc mến phục. Khi dân tiểu quốc tự nhiên tuân phục đại quốc thì không làm gì (vô vi) mà họ cũng hướng về và quy phục đại quốc. Ngược lại, nếu dùng sức mạnh để xâm lăng tiểu quốc thì dân bị trị sớm muộn gì cũng nổi dậy lật đổ guồng máy ngoại bang.
'Ðại quốc là hạ lưu (giòng nước thấp), nơi thiên hạ họp về; là giống cái trong thiên hạ; giống cái thường lấy yên tĩnh để thắng giống đực, lấy yên tĩnh để làm bề dưới. Cho nên đại quốc ở dưới tiểu quốc tất lấy được tiểu quốc. Tiểu quốc ở dưới đại quốc tất lấy được đại quốc. Cho nên hoặc ở dưới để lấy được, hoặc ở dưới mà được lấy. Ðại quốc chẳng qua muốn gồm nuôi chứa người; tiểu quốc chẳng qua muốn nhập vào thờ người. Ôi cả hai đều được thỏa điều mong muốn, lớn nên ở thấp.'
Tựu trung, theo triết lý quốc trị vô vi, quốc gia lý tưởng là một tiểu quốc với khối nhân dân sống thuần hậu theo thiên nhiên. Chính quyền không dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược đạo trị (vô vi) để vạn vật phát triển tự nhiên. Chính quyền giảm thiểu phép tắc cũng như tránh can thiệp vào đời sống của nhân dân - tương tự như chính sách laissez-faire ở Tây phương. Lãnh đạo quốc gia luôn luôn chăm lo cho dân được no ấm, mạnh khỏe và dùng tư cách thanh liêm cá nhân để dạy dỗ cho dân không suy nghĩ, thèm thuồng mỹ vật, và tuyệt đối không bao giờ giành công hay danh tiếng với dân.
Chính sách quốc trị vô vi đòi hỏi giới lãnh đạo phải bỏ qua tiểu xảo, gian mưu khi đối xử với nhân dân và lân quốc. Ðối với hiền nhân thì bậc lãnh đạo quốc gia phải biết giao việc cho người có khả năng tương xứng, nhưng không vì khả năng tài giỏi của họ mà lại quý trọng họ hơn người khác. Về lãnh vực quốc phòng, sách lược vô vi chủ trương tránh sử dụng sức mạnh quân sự để 'trị quốc, bình thiên hạ,' và chỉ dùng đến binh quân khi phải cứu giúp dân.
.......... Dương Thành Lợi:
Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương, tr.159-215