Harrington và Locke với Vai Trò của Chính Quyền 

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994.  Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

James Harrington 

   Vào đầu thế kỷ 17, dân Châu Âu được hấp thụ nhiều quan niệm quốc trị sáng giá trong đó có tư tưởng của nhiều đại triết gia như Thomas Hobbes, James Harrington, John Lilburne, và Gerrard Winstanley. Thomas Hobbes đại diện cho một thiểu số rất ít đòi thành lập chế độ độc tài vì quyền lợi cá nhân của nhân dân. Ngược lại thì đa số các triết gia vào thời đó tin tưởng là quyền lợi cá nhân sẽ được phục vụ tốt hơn nếu uy quyền của chính phủ bị giới hạn và quyền tự do cá nhân được đề cao. 

  James Harrington (1611-1677) trình bày những nguyên tắc nhằm ổn định chính quyền dựa trên yếu tố kinh tế, thay vì các yếu tố tôn giáo hay pháp luật (thiên nhiên) trong tiểu thuyết Oceana xuất bản năm 1656. Ông suy luận rằng quyền uy chính trị đến từ sức mạnh kinh tế, và quốc gia có thể ổn định nếu cơ chế chính trị phù hợp với tình trạng kinh tế của đất nước. 

  Theo Harrington, nếu đa số tài sản quốc gia nằm trong tay thiểu số thì chính thể quý tộc trị nên được áp dụng. Nhưng nếu đa số nhân dân có tài sản thì chính thể dân chủ là thích hợp hơn hết. Ông nhận xét thấy tại Anh quốc lúc đó quyền lực kinh tế đã chuyển từ giai cấp quý tộc qua giai cấp trung lưu. Bởi vì tình hình lúc đó đã đưa giai cấp trung lưu vào tư thế lãnh đạo, Harrington đề nghị chính thể dân chủ pháp trị nên được thành lập. Trong chế độ này - Harrington gọi là cộng đồng thịnh vượng - luật pháp sẽ thay con người quản trị quốc gia và cơ chế chính trị phản ảnh sự trùng hợp giữa quyền lợi quốc gia và quyền lợi cá nhân của dân. Ông đề nghị là luật pháp nên ngăn ngừa chiều hướng tập trung tài sản vào tay thiểu số bởi vì chiều hướng này sẽ đe dọa sự tồn tại của cộng đồng thịnh vượng. 

  Harrington nêu ra các phương pháp quản trị quốc sự một cách rất tỉ mỉ. Theo ông, các nhà lập pháp phải được dân bầu lên theo kiểu đầu phiếu kín; họ phải được trả lương, và các tiêu chuẩn giới hạn ứng cử viên như yếu tố tài sản phải được giảm thiểu để tránh tình trạng chỉ có dân nhà giàu mới có khả năng tranh cử vào Quốc Hội. Quốc gia nên có hiến pháp rõ ràng với sự phân quyền giữa Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện. Song song, nhân dân phải được tự do tín ngưỡng cũng như chính quyền phải có chính sách giáo dục công cộng miễn phí, v.v. 

  Tư tưởng của Harrington đã ảnh hưởng sự suy luận của một số nhà lập quốc Hoa Kỳ sau này. Duyệt sơ các sinh hoạt chính trị tại Bắc Mỹ và nhiều quốc gia Tây phương tân tiến, chúng ta thấy một số đề nghị của Harrington đã được thực hiện với nhiều thành công khả quan. Tư tưởng của Harrington đã góp phần xây dựng quan niệm dân chủ và ảnh hưởng cách nhìn của nhiều triết gia trong đó có John Locke. 

John Locke

   John Locke (1632) viết sách Hai Khái Luận về Chính Quyền (Two Treaties of Government) trước Cách Mạng 1688 nhưng lại cho xuất bản dưới dạng vô danh sau khi ông trở lại Anh quốc từ Hòa Lan. Trong thời kỳ này một tác phẩm giá trị khác của Locke là Lá Thư về Sự Khoan Dung (Letter on Toleration) cũng đã được xuất bản. Hai đại tác phẩm này sẽ được lần lượt phân tích bởi vì tầm vóc quan trọng của những tư tưởng được trình bày. (Một số tác phẩm khác của Locke như The Essay Concerning Human Understanding và A Paraphrase and Notes on the Epistles of St. Paul sẽ không được đề cập đến bởi vì nằm ngoài chủ đề của tài liệu nghiên cứu này). 

Hai Khái Luận về Chính Quyền

Trong phần đầu của sách Two Treaties of Government, Locke kịch liệt tấn công chủ trương quân chủ tuyệt đối đương thời của Robert Filmer. Filmer lý luận rằng con người sinh ra trong một xã hội có quy cũ chứ không phải trong một xã hội thiên nhiên và xã hội quy cũ được tổ chức dưới uy quyền của nhà vua. Vì thế cho nên nhân dân phải tôn trọng các quy tắc của xã hội và thờ phụng ngai vàng. Ðể chứng minh cho lý thuyết của mình, Filmer đưa ra các dữ kiện lịch sử trong kinh Thiên Chúa giáo. Dĩ nhiên các chứng liệu lịch sử này sai lệch và đã bị Locke đánh đổ một cách dể dàng qua phương pháp luận lý.   Trong phần kế tiếp của tác phẩm Hai Khái Luận về Chính Quyền, Locke bàn về nguồn gốc cũng như sự sử dụng uy quyền chính trị một cách hợp lý. Theo ông, trạng thái thiên nhiên của nhân loại có hai đặc điểm (1) tình trạng tự do hoàn toàn mà con người có thể làm bất cứ việc gì theo ý muốn cá nhân trong các giới hạn của luật thiên nhiên, và (2) tình trạng bình đẳng về nhân quyền và không một cá nhân nào có thể giữ được nhiều quyền hạn hơn những người khác. Con người sinh ra có khác nhau về phương diện khả năng cá nhân nhưng mọi người đều được bình đẳng với nhau trong lãnh vực nhân quyền. Tuy nhiên khác với quan niệm bi quan của Thomas Hobbes về tình trạng thiên nhiên, Locke suy luận rằng tình trạng thiên nhiên không loạn ly cũng như không phải là thiên đường. Theo Locke, con người ở trong trạng thái thiên nhiên sinh hoạt theo các định chế của luật thiên nhiên. Tất cả mọi người đều giữ vai trò hành pháp, và họ hiểu rằng sự tuân phục các định chế thiên nhiên thực sự cần thiết để bảo vệ quyền lợi riêng tư của họ. Locke quan niệm rằng chiến tranh chỉ có thể xảy ra từ sự áp bức của một chế độ cai trị độc tài chứ không đến từ tình trạng thiên nhiên. 

  Mặc dầu không quá tệ, tình trạng thiên nhiên có ba yếu điểm khiến con người phải quây quần với nhau để tổ chức xã hội. Thứ nhất là luật thiên nhiên không rõ ràng vì không được viết trên giấy trắng mực đen. Vì vậy nhiều người không tìm hiểu được luật thiên nhiên do hình thái không rõ ràng của luật thiên nhiên; sự kiện này ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân và sự tuân phục luật thiên nhiên của nhân loại. Thứ hai là tình trạng thiên nhiên thiếu hẳn một cá nhân có thể giữ vai trò thẩm định một cách công bằng những vụ xung đột giữa người và người. Vì quyền lợi cá nhân, con người dể thiên vị cho mình và người thân nhưng lại không chịu nhìn thấy ưu điểm của những kẻ khác. Thứ ba là tình trạng thiên nhiên còn thiếu cả khả năng hành pháp để tiến hành các quyết định của bồi thẩm đoàn - giả như là một số cá nhân có thể giữ được vai trò thẩm phán một cách công bình. Nếu mỗi người đều có quyền hành pháp trong tay, nhu cầu phục vụ quyền lợi riêng tư có thể đưa đến tình trạng hành pháp thiên vị và thiếu công bình. 

  Ba yếu điểm vừa được lượt kê khiến con người sống trong tình trạng thiên nhiên phải kết hợp để xây dựng xã hội và chính quyền. Trong tiến trình xây dựng xã hội, con người thỏa thuận với nhau qua một hiệp ước siêu hình bãi bỏ quyền tư pháp và hành pháp cá nhân để thành lập một cộng đồng (quốc gia) mà trong đó họ có thể sống an lạc và tận hưởng tư sản cũng như được bảo vệ an ninh. Trong tổ chức cộng đồng này, con người chấp nhận hình thức đa số trị bởi vì hai nhu cầu: (1) xã hội cần sinh hoạt theo chiều hướng chung và đa số công dân tạo nên động lực chính để lèo láy các chính sách quốc gia, và (2) việc thỏa mãn ý muốn của tất cả mọi người là việc không thể thực hiện được. 

  Ðể bảo vệ chính thuyết của mình, Locke lý luận rằng xã hội và chính quyền tồn tại lâu đời trước cả sử sách cho nên khó có thể chứng minh tiến trình xây dựng xã hội của con người. Tuy vậy, Locke cũng bàn về tiến trình thành lập xã hội Venice và La Mã như các chứng liệu lịch sử. Về vai trò của chính thể độc tài cá nhân xa xưa, Locke cho rằng sự lãnh đạo độc tài chỉ cần thiết cho những xã hội nguyên thủy lâu đời. Con người sinh ra vốn tuân phục người cha trong gia đình cho nên sự tuân phục vua của cả nước trở thành dể dàng. Ông nhấn mạnh là chính thể độc tài có thể tồn tại lúc đó được bởi vì quốc gia chỉ có nhu cầu đơn giản là giữ vững an ninh xã hội. Trong thời đại hôm nay, chính thể độc tài khó tồn tại được bởi vì quốc gia có quá nhiều vấn đề phức tạp. Ngay cả trong những xã hội nguyên thủy xa xưa, cộng đồng cũng bắt buộc chính quyền phải theo ý dân; một khi chính quyền làm mất lòng dân, dân bắt đầu đặt vấn đề về sự ích lợi của cơ chế chính trị hiện hữu.   Trong quốc gia do con người tổ chức theo khế ước siêu hình, những kẻ sinh ra sau này khi đạt tuổi trưởng thành có quyền chấp nhập hay từ chối các điều kiện của hiệp ước này. Tuy nhiên khi đã chấp nhận khế ước này, không ai có thể rút lui ngoại trừ khi xã hội bị tan rã hay đương sự bị xã hội trục xuất vì lý do nào đó. 

  Khác với triết gia Hobbes, Locke nhận định rằng chính quyền chỉ là công cụ của dân và không thể giữ vai trò ngang hàng hay cao hơn vai trò của nhân dân. Ðối với dân, chính phủ không có quyền mà chỉ có nhiệm vụ. Dân giao thác cho chính phủ một số trách nhiệm và chính quyền phải thi hành theo đúng ý dân. 

Tổ chức chính quyền tùy thuộc vào cách thức quyền lập pháp được sử dụng. Theo Locke, chính thể tốt nhất là một chính thể mà đại diện của dân giữ quyền lập pháp trong tay. Trong các uy quyền chính trị, quyền lập pháp là quyền uy tối cao trong quốc gia; nhưng bốn (4) điều kiện giới hạn nguyên tắc này là: (1) quyền lập pháp không thể được sử dụng một cách chuyên chế; (2) quyền lập pháp phải được sử dụng để phục vụ quyền lợi của quốc gia; (3) quyền lập pháp không thể được dùng để tước đoạt tài sản của bất cứ ai nếu không có sự đồng ý của người đó; và (4) Quốc Hội hay một cơ chế tương tự đại diện dân không thể chuyển giao quyền lập pháp cho bất cứ ai hay cho cơ chế chính trị khác (hành pháp, tư pháp, v.v.) bởi vì chỉ có nhân dân mới có quyền chuyển giao quyền lập pháp. Như đã bàn ở trên, quyền lập pháp cao hơn các uy quyền chính trị khác; tuy vậy, quyền lập pháp không thể cao hơn nhân dân bởi vì nhân dân sáng tạo nên quyền lập pháp cũng như cơ chế chính trị quốc gia. 

  Trong một quốc gia hiện hữu, ngoài cơ chế lập pháp, hai cơ chế tư pháp và hành pháp cũng được thành lập. Cơ chế tư pháp có trách nhiệm phân xử các vấn đề tranh cãi trong xã hội. Cơ chế hành pháp tồn tại để thi hành các bản án cũng như các đạo luật được lập ra. Cơ chế hành pháp còn mang trách nhiệm về chính sách đối ngoại và các vấn đề quốc phòng. Quyền hành pháp thấp hơn quyền lập pháp, và cơ chế hành pháp thực sự chỉ là công cụ của cơ chế lập pháp. 

  Hai quyền lập pháp và hành pháp không nên được đặt vào trong tay của một người hay một cơ chế chính trị bởi vì nguy cơ lạm quyền dể xảy ra. Mặc dầu đặt cơ chế lập pháp trên cơ chế hành pháp, Locke nhận thấy cơ chế hành pháp cần những quyền hạn đặc biệt để giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu trong các trường hợp cần thiết. Khi quốc gia bị đe dọa và cơ chế lập pháp không thể nhóm họp kịp thời (bởi vì cơ chế lập pháp không nhóm họp thường nhật), cơ chế hành pháp vốn phải sinh hoạt thường xuyên có thể sử dụng các đặc quyền để giải quyết cơn khủng hoảng theo quyền lợi chung của quốc gia. Locke cảm thấy rằng trong những trường hợp hiểm nghèo, quốc gia cần tập trung quyền lãnh đạo để giải quyết các khó khăn một cách nhanh chóng và hữu hiệu mặc dầu ông biết là làm như vậy cơ chế hành pháp có thể làm trái với pháp luật. [Cơ chế tư pháp của các quốc gia dân chủ thực sự hiện nay vẫn công nhận chính quyền (ngành hành pháp) có thể sử dụng các đặc quyền hiện hữu để giới hạn luật pháp hiện hành nếu quốc gia bị đe dọa; tuy nhiên, chính quyền chỉ có thể sử dụng những đặc quyền này sau khi chứng minh là sách lượt được dự định nhằm phục vụ quyền lợi quốc gia chứ không phải phục vụ quyền lợi của cá nhân hay bè phái cầm quyền.] 

  Quyền uy chính trị tối thượng trong quốc gia thuộc về nhân dân và được nhân dân sử dụng trong các cuộc bầu cử. Song song, dân cũng có thể thay đổi chính quyền bằng phương pháp cách mạng nếu chính quyền làm mất lòng tin của dân cũng như chỉ lợi dụng quyền hành để phục vụ quyền lợi cá nhân hay bè phái. Nhân dân nắm giữ vai trò thẩm phán để xét xử các vi phạm của chính quyền. Khi đã mất tin tưởng nơi chính quyền, dân có thể nổi loạn để thay đổi chính quyền. Tuy nhiên, Locke khuyên nhân dân nên cẩn thận trước khi làm cách mạng. Nhân dân chỉ nên thực hiện cách mạng khi nào chính quyền không thể hoàn tất các trách nhiệm được giao phó và lạm dụng quyền hành. Dĩ nhiên nhân dân có thể thay đổi một chính quyền thiếu khả năng bằng lá phiếu trong những đợt bầu cử. Cách mạng chỉ nên xảy ra khi nhân dân mất hết tin tưởng vào chính quyền và các phương pháp thay đổi chính quyền khác (bầu cử, v.v.) không thể thực hiện được. Và khi chính quyền bị đảo chánh, quốc gia sẽ không tan rã; công dân tiếp tục đời sống như trước và bầu lên cơ chế mới để quản trị quốc sự. 

  Khi bàn về lãnh vực nhân quyền, Locke chủ trương là con người có nhân quyền từ lúc còn sống trong trạng thái thiên nhiên, và chính quyền được thành lập sau đó phải bảo vệ nhân quyền. Sự xuất hiện của tổ chức quốc gia và chính quyền không đóng góp được gì cho nhân quyền. Locke cho là luật pháp của xã hội chỉ có hiệu quả nếu không đi ngược với luật thiên nhiên. Bởi vì nhân quyền đã tồn tại từ lâu và được phản ảnh qua luật thiên nhiên cho nên nhân quyền trở thành pháp quyền và chính phủ có nhiệm vụ bảo vệ pháp quyền của nhân dân. 

  Trong tình trạng thiên nhiên, tất cả vật chất đều là tài sản chung của nhân loại. Ðiều kiện để sử dụng vật chất một cách hữu hiệu là phân chia vật chất cho mỗi cá nhân để làm tài sản riêng tư. Tiến trình phân chia vật chất xảy ra khi con người được tự do và làm chủ bản thân cũng như sức lao động của mình. Vật chất trở thành tư sản khi một cá nhân dùng sức lao động của mình để biến vật chất do thiên nhiên cung cấp thành sở hữu cá nhân. Từ định lý nguồn gốc của tư sản đến từ sức lao động Locke đưa ra nguyên tắc giá trị của sản phẩm: ôgiá trị của một sản phẩm tùy thuộc vào giá trị sức lao động được sử dụng để chế tạo ra sản phẩmọ. (Ðộc giả nên lưu ý là Kinh Tế Gia Adam Smith đã dùng định lý này để ca ngợi chiều hướng kinh tế tự do; ngược lại, Karl Marx dựa trên nguyên tắc này để phát triển định lý ôtrị giá thặng dưọ nhằm tấn công chiều hướng kinh tế tự do.)   Theo Locke, chính sức lao động biện minh cho sự tồn tại của quyền tư hữu và giá trị của sản phẩm. Quyền tư hữu là một quyền thiên nhiên nhưng không phải là tuyệt đối. Không ai có quyền tồn trữ quá nhiều hàng hóa ngoài khả năng tiêu thụ của cá nhân và gia đình để đưa đến tình trạng hàng hóa bị ung thối hay hư hại. Theo luật thiên nhiên, một cá nhân không thể tồn trữ tư sản tới mức độ thiệt hại cho những người khác. Tất cả hàng hóa ngoài khả năng tiêu thụ của cá nhân và gia đình sẽ trở thành tài sản chung của mọi người nếu không bị hư hại. 

  Trong tổ chức quốc gia, các cơ chế do nhân dân thành lập có trách nhiệm quy định và bảo vệ tài sản của nhân dân. Chính quyền phải bảo vệ tư sản do nhân dân tích trữ một cách phù hợp với luật thiên nhiên (như đã bàn ở trên). Song song, chính quyền phải kiểm soát để ngăn ngừa tình trạng một vài cá nhân có thể sử dụng tài sản riêng tư một cách nguy hiểm cho quyền lợi quốc gia. Mặc dầu quyền tư hữu là quyền thiên liêng, quyền này không cho phép bất cứ cá nhân nào lạm dụng tư sản để gây thiệt hại cho những người khác; chính quyền có nhiệm vụ ngăn chận các hành vi lạm dụng này. 

  Ðối với Locke, không có vấn đề bình đẳng hóa tài sản cá nhân bởi vì xã hội có những người chăm chỉ làm ăn hơn kẻ khác. Trong tình trạng thiên nhiên, con người không thể tích trữ quá nhiều hàng hóa ngoài khả năng tiêu thụ của cá nhân và gia đình trước khi hàng hóa bị hư hại. Tuy nhiên trong một quốc gia, con người đã chế ra được giấy bạc giúp cho việc tích trữ tài sản dễ dàng hơn. Giấy bạc không bị hư hại cho nên có thể giúp cá nhân tồn trữ tư sản nhiều hơn trong quá khứ mà không vi phạm luật thiên nhiên (hiện kim thay mặt cho hàng hóa và không bị hư hại). Tuy vậy, việc sử dụng tài sản vẫn có thể bị chính quyền kiểm soát nếu các hành động này có thể gây nguy hại cho quyền lợi chung của nhân dân. Tóm lại theo Locke, quyền tư hữu là quyền thiên liêng nhưng có giới hạn, và không ai được lạm dụng quyền tư hữu của mình để gây thiệt hại cho những người khác. Chính quan niệm cấp tiến này về tài sản cá nhân đã ảnh hưởng sâu sắc những sinh hoạt chính trị cũng như kinh tế ở các quốc gia Tây phương sau này. 

Lá Thư về Sự Khoan Dung

Letter on Toleration của Locke phản ảnh quan niệm chung sống hòa bình giữa các tôn giáo. Là bạn của Bá Tướt Shaftesbury lừng danh - người chủ trương chính sách dung hòa tôn giáo - và cũng từng trải qua một thời gian tạm trú tại Brandenburg - nơi mà các tín đồ tôn giáo khác nhau sinh hoạt một cách hòa thuận - Locke chống lại các chiêu bài cưỡng bách tín ngưỡng. (Vào thời của Locke và trước đó, nhân dân thường bị bắt phải theo tôn giáo của nhà vua; nếu không theo thì họ sẽ bị đàn áp trực tiếp hay gián tiếp.) 

  Trong Lá Thư về Sự Khoan Dung, Locke viết là chính quyền được thành lập để bảo vệ quyền tự do, đời sống và tài sản của nhân dân. Trách nhiệm cũng như quyền hành của chính quyền có giới hạn. Chính quyền không thể bắt dân tin vào một số giáo điều hay theo một tôn giáo ngược với ý muốn của dân. Theo Locke, giáo hội là một tổ chức tự nguyện nhằm cứu rỗi linh hồn của nhân loại không hơn không kém. Giáo hội không thể nhờ chính quyền giúp đỡ để gia tăng số tín đồ hay trừng trị những người vi phạm giáo điều. Sự cưỡng bách tín ngưỡng bằng bạo lực đi ngược lại với đạo đức tôn giáo. Quyền tự do tín ngưỡng là quyền mà con người không thể từ bỏ và chính quyền không thể xâm phạm. Vấn đề tín ngưỡng là vấn đề của tâm linh; và chính quyền chỉ có quyền hành bên ngoài lãnh vực tâm linh cho nên vấn đề tín ngưỡng nằm ngoài khả năng kiểm soát của chính quyền. 

  Khi lãnh tụ quốc gia trở thành tín đồ của một giáo hội, giáo hội đó không mạnh hơn bởi vì vị lãnh tụ không thể mang quyền hành phám do nhân dân giao cho để phục vụ các mục đích tôn giáo của giáo hội. Trong chu vi của nhà thờ, vị lãnh tụ quốc gia cũng chỉ là một tín đồ như những tín đồ khác không hơn không kém. 
  Uy quyền của giáo hội chỉ là uy quyền của thế giới tinh thần. Ðối với một tín đồ vi phạm giáo lệ, giáo hội chỉ có thể khuyên nhủ hay, đi xa hơn nữa, khai trừ đương sự ra khỏi giáo hội. Ngoài các hình phạt về tinh thần này, giáo hội không đuợc xâm phạm nhân quyền hay chiếm đoạt tài sản của tín đồ. (Tư tưởng của Locke đẩy giáo hội trở về với vai trò tinh thần cao thượng và trả lại cho nhân dân các sinh hoạt chính trị thuần túy). 

  Không ai có thể bắt một người khác đi theo đường hướng tu hành của mình. Vấn đề tín ngưỡng là vấn đề nội tâm của mỗi cá nhân, và mỗi người tự do chọn lựa tôn giáo theo lòng tin cá nhân. Tuy vậy, nhu cầu tín ngưỡng của cá nhân không thể gây nguy hại cho người khác hay cho quốc gia. Chính quyền có thể ngăn cấm các hành động tín ngưỡng phạm pháp bởi vì tôn giáo không thể được sử dụng như tấm bình phong cho những hành động nham hiểm đáng bị lên án. 

  Giáo hội không thể lạm quyền để ngăn cấm các hành động hợp pháp nhưng trái với giáo điều. Luật pháp của quốc gia và giáo điều có thể đụng độ, và chỉ có Thượng Ðế mới có thể phân định phải trái trong trường hợp này; vì vậy cho nên người dân ở trong tình trạng khó xử này phải sống theo lương tâm của mình. Dĩ nhiên người dân phải tránh các hành động tự xét là phạm pháp cũng như phải chấp nhận các hậu quả thích đáng nếu hành động của mình phạm pháp. 

  Chính quyền phải tôn trọng chính sách khoan dung tôn giáo và không được cưỡng bách tín ngưỡng. Nếu chính quyền dùng bạo lực bắt nhân dân phải theo một tôn giáo độc nhất, nhân tài sẽ bỏ nước ra đi và những kẻ khác sẽ nổi lên chống đối chính quyền cũng như đe dọa sự tự do. Chính sách khoan dung tôn giáo nên được đưa lên hàng quốc sách bởi vì giá trị thực dụng của nó. Chính sách khoan dung tôn giáo chỉ bị giới hạn khi nền an ninh quốc gia bị đe dọa. Locke hy vọng rằng nếu quốc gia được quản trị một cách công bằng, sự đối đầu giữa chính quyền và tôn giáo sẽ không xảy ra. 

  Chủ trương khoan dung tôn giáo của Locke và bằng hữu đáng được khen ngợi. Trong thời kỳ mà lòng ích kỷ của con người bao trùm Giáo Hội Cơ Ðốc và vai trò tinh thần cao thượng của nó, Locke và những người bạn đồng hành của ông đã dám lên tiếng chống lại việc cưỡng bách tín ngưỡng - tức là gián tiếp chỉ trích âm mưu chi phối chính quyền của giới giáo sĩ Cơ Ðốc nhằm bành trướng thế lực Giáo Hội La Mã. Tuy nhiên khi Locke bàn về các giới hạn của chủ trương khoan dung, ông đã cầm tù chủ trương này một cách không cần thiết. Locke suy luận rằng chính sách khoan dung không thể áp dụng cho những tổ chức núp dưới bình phong tôn giáo. Các tổ chức khuyến khích tín đồ có những hành động trái với đạo lý quốc gia (dân tộc) phải bị cấm đoán. Bất cứ giáo hội nào muốn được hưởng chính sách khoan dung tôn giáo nhưng lại muốn ngăn cấm các sinh hoạt của những giáo hội khác không xứng đáng được cho phép hoạt động. Song song, không một giáo hội nào trong quốc gia có thể bắt buộc tín đồ trung thành với chính quyền ngoại bang. (Lối hành văn của Locke ở đoạn này gián tiếp tấn công Giáo Hội Cơ Ðốc La Mã vốn lợi dụng nhóm Mohammedans để xây dựng đế quốc Thiên Chúa giáo.) 

  Locke còn đi xa hơn nữa khi lý luận rằng những người không tin tưởng vào sự hiện hữu của Thượng Ðế không được hưởng chính sách khoan dung tôn giáo. Ða số nhân dân tuyên thệ gia nhập khế ước xây dựng xã hội dưới uy danh của Thượng Ðế (?) Những người không tin vào sự hiện hữu của Thượng Ðế không thể là thành viên của khế ước này cho nên không thể được hưởng các quyền lợi của khế ước như chính sách khoan dung tôn giáo. (Nếu Locke dừng bút ở điều kiện an ninh quốc gia hay lòng trung thành với Tổ Quốc thì ông đã không bị một số học giả sau này chỉ trích nặng nề. Chính quan niệm ngăn cấm không cho những người không tin tưởng vào Thượng Ðế và các giáo hội ích kỷ được hưởng chính sách khoan dung tôn giáo cho người ta thấy Locke có vẻ hơi hà khắc đối với những người đáng lẻ chủ trương dung hòa của ông phải cố gắng ''dung hòa''.) . . . . . . . . . .         

Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 109-126