Luật
Quốc Tế
NHÂN QUYỀN
Nguyễn
Hữu Thống
Phiên
dịch và diễn giảng
MẠNG
LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT
Ấn
hành
MỤC LỤC
-
Lời
giới thiệu………………………………………………..……2
-
Lời
nói đầu……………..………….……………………....……..4
-
Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền…………………………........6
-
Công Ước
Quốc Tế về những Quyền Dân Sự,
và Chính Trị……………………………………………………...11
-
Công Ước
Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế,
Xă Hội, và Văn Hóa…………………………………….……....19
-
Phần
Diễn Giải………………….……..……………………......25
-
Phụ Đính
1: các điều khoản nhân quyền trong
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc..…………………………….….36
-
Giới
thiệu Luật Sư Nguyễn Hữu Thống….……………………37
LỜI
GIỚI THIỆU
Ủy Ban Phối Hợp Mạng Lưới
Nhân Quyền Việt
1.
Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền, ban hành năm 1948.
2.
Công Ước
Quốc Tế về những quyền Dân Sự và Chính Trị,
năm 1966.
3.
Công Ước
Quốc Tế về những quyền Kinh Tế, Xă Hội
và Văn Hóa, năm 1966.
Các bản văn này vốn viết bằng tiếng
Anh, đă được luật sư Nguyễn Hữu Thống
dịch ra tiếng Việt.
Luật sư Thống cũng sọan thảo lời diễn
giải để làm sáng tỏ ư nghĩa của nguyên bản
được viết bằng tiếng chuyên môn của
ngành luật quốc tế.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt
Chúng ta đă nghe nói nhiều về Nhân Quyền. Vậy Nhân Quyền là ǵ?
Nhân
Quyền là những quyền tự do và những quyền căn
bản khác của con người. Như quyền tự do
tư tưởng, tự do phát biểu, tự
do đi lại và cư trú, tự do hội họp và lập
hội, quyền sở hữu, quyền tham gia chính quyền,
quyền được hưởng giáo dục miễn
phí, v.v...
Nhân
Quyền không phải do ai ban phát mà có. Nhân Quyền
là những quyền mà mọi người sinh ra đă có và đều
có. Không ai có quyền tước đoạt
nhân quyền của chúng ta.
Hầu hết các nước trên thế giới,
kể cả Việt
Người dân chúng ta cần t́m hiểu Nhân
Quyền để biết rơ ḿnh có những quyền ǵ và
quyền đó có được tôn trọng không. Nếu nhà cầm quyền vi
phạm hay không thi hành đúng luật nhân quyền, th́ chúng
ta phải đ̣i cho bằng được. Đây
phải là một cuộc đấu tranh lâu bền, không ngừng
nghỉ.
Tuy
sinh ra chúng ta đă có nhân quyền, nhưng khi quyền đó
bị tước đoạt chúng ta không thể ngồi
yên "há miệng chờ sung". Dân các nước thực
sự dân chủ trên thế giới, như Mỹ, Anh, Pháp,...có được nhân quyền và dân chủ
là do họ đă tranh đấu liên tục từ hơn
200 năm nay. Cho tới giờ phút này họ vẫn luôn luôn
cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh tiếp mỗi khi
thấy nhân quyền bị vi phạm. Hầu
hết dân chúng trên thế giới đă theo
gương các dân tộc nói trên và đă đạt được
nhiều thành quả tốt đẹp. Chúng
ta hăy chứng tỏ là dân Việt
Mạng
Lưới Nhân Quyền Việt
Ủy Ban Phối Hợp Mạng Lưới
Nhân Quyền Việt
·
Luật
sư Nguyễn Hữu Thống đă dịch các bản luật
và soạn phần dẫn giải.
·
Bạn
Nguyễn Từ Thức đă giúp đánh máy và tŕnh bày.
·
Ông Nguyễn
Ngọc Quỳnh và Tiểu Ban Nghiên Cứu đă đọc
bản thảo và góp ư.
·
Ông Bùi
Quang Lâm đă giúp phần ấn loát.
Mong rằng
cuốn sách này, cũng như những tài liệu sắp được
xuất bản, sẽ đem lại nhiều ích lợi cho
đồng bào trong việc t́m hiểu về Nhân Quyền.
Chúng tôi sẵn sàng cố gắng giải đáp các thắc
mắc của đồng bào về luật nhân quyền.
Quyết tâm của đồng bào trong việc
t́m hiểu và đấu tranh đ̣i nhân quyền là bảo đảm
chắc chắn nhất để đạt được
và giữ vững nền dân chủ cho nước Việt
chúng ta.
Tháng
4 năm 1998
Ủy
Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt
LUẬT
QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN
LỜI
NÓI ĐẦU
Cách
đây 50 năm, năm 1948 tại Paris, Liên Hiệp Quốc
đă công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Sở dĩ Liên Hiệp Quốc chọn
Tuyên
Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền nhắc lại lời cảnh
giác của các nhà Cách Mạng Dân Quyền Pháp theo
đó "sự khinh miệt, phủ nhận hay lăng quên
nhân quyền là nguyên nhân duy nhất đem lại đại
bất hạnh cho dân chúng và sa đọa cho chính quyền."
Vậy
mà con người lúc vô sự thường hay vô tâm. Phải
đợi đến khi hai cuộc thế chiến bùng nổ
gieo đau thương tang tóc cho hàng chục triệu con người,
lúc ấy nhân loại mới tỉnh ngộ và nhớ lại
lời cảnh giác xưa. Ngoài ra, giữa hai cuộc thế
chiến và ngay cả trong thời chiến tranh, nhân loại
c̣n chứng kiến những cuộc tàn sát dă man, với 20
triệu nạn nhân tại Liên Bang Xô Viết và 6 triệu nạn
nhân tại Đức Quốc Xă. Những nạn
nhân này không phải là kẻ thù của dân tộc trong cuộc
chiến, mà chỉ là những lương dân vô tội.
Dư luận quốc tế vô cùng xúc động
và phẫn nộ về những hành động diệt chủng
này. Vậy mà nhân loại văn
minh đă không lên tiếng tố cáo hay phản kháng. Họ
sợ mang tiếng vi phạm chủ quyền
quốc gia, vi phạm quyền dân tộc tự quyết bằng
cách can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác.
Sau khi chiến tranh kết thúc, nhân loại mới
ư thức rằng quyền dân tộc tự quyết đă
bị lạm dụng. Trên nguyên tắc, dân tộc tự quyết không phải
là quyền của quốc gia, mà là quyền của người
dân. Chiếu dân tộc tự quyết, người
dân được tự do lựa chọn chế độ
chính trị hay kinh tế và tự do lựa chọn chính quyền
để thực thi chế độ.
Chiếu nguyên tắc Quân B́nh giữa Quyền
Lợi và Nghiă Vụ, quốc gia và công dân cùng có nghiă vụ
hỗ tương. Người dân có nghiă vụ phải bảo vệ,
nuôi dưỡng quốc gia, phải đóng thuế, phải
thi hành nghiă vụ quân sự để giữ ǵn bờ cơi
quốc gia. Để đáp lại những
hy sinh về tài sản và sinh mạng của người
dân, quốc gia cũng có nghiă vụ phải bảo vệ
và tôn trọng quyền của người dân, như quyền
được sống, được tự do và mưu cầu
hạnh phúc.
Sau hai trận thế chiến, nhân loại ư
thức rằng việc thừa nhận nhân quyền của
con người là điều kiện thiết yếu để
duy tŕ hoà b́nh thế giới, tránh một trận thế chiến
thứ ba (chiến tranh nguyên tử) toàn diện và toàn diệt.
Mùa Xuân năm 1945, 50 quốc gia đă họp Hội
Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. Nhằm mục đích duy tŕ hoà b́nh cho các quốc
gia và thực thi nhân quyền cho con người, Liên Hiệp
Quốc đề ra 3 phương châm hành động:
1.
Không phân
biệt kẻ thắng người bại, Liên Hiệp Quốc
chủ trương hoà giải và hữu nghị giữa
các dân tộc.
2.
Không đ̣i
hỏi trả thù và bồi thường chiến tranh, Liên
Hiệp Quốc khuyến khích sự hợp tác b́nh đẳng
giữa các quốc gia.
3.
Không phân
biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, hay tôn giáo,
Liên Hiệp Quốc yêu cầu các quốc gia hội viên phải
tôn trọng và thực thi nhân quyền cho tất cả mọi
người.
Các
đại biểu của 50 quốc gia hội viên sáng lập
Liên Hiệp Quốc ư thức rằng mỗi con người
là một công dân của quốc gia ḿnh, đồng thời
là công dân của thế giới; rằng chỉ có thể
hoà b́nh thế giới nếu quyền của con người
được tôn trọng; rằng nhân quyền cũng chỉ
có thể được thực thi nếu không c̣n chiến
tranh và bóng dáng de doạ của chiến tranh.
Do
đó họ đồng t́nh kư tên vào Hiến Chương
Liên Hiệp Quốc như một hiệp ước quốc
tế, và long trọng cam kết sẽ phối hợp với
Liên Hiệp Quốc để thực thi hai mục tiêu căn
bản sau đây:
1.
Hợp
tác quốc tế để giải quyết mọi mâu thuẫn
và tranh chấp trong ṿng hoà b́nh.
2.
Đề
xướng và tôn trọng nhân quyền và những quyền
tự do căn bản của con người.
Khi
kư tên vào Hiến Chương, cũng như khi gia nhập
Liên Hiệp Quốc, các quốc gia hội viên minh thị
xác nhận rằng nhân quyền từ nay không c̣n đơn
thuần là việc nội bộ của các quốc gia mà là
một vấn đề quốc tế.
Đây
là lần đầu tiên trong lịch sử loài người,
các quốc gia có nghiă vụ đối với người
dân, phải tôn trọng, bảo vệ và thực thi nhân quyền
và những quyền tự do căn bản của con người.
Những
quyền này đă được liệt kê và diễn giải
bởi Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ban hành năm
1948, và hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền kư kết
năm 1966.
Từ đó nhân loại văn minh có luật
Quốc Tế Nhân Quyền.
Chúng ta kỳ vọng rằng trong thế kỷ
tới đây, chiến tranh thế giới sẽ được
thay thế bởi Luật Pháp Thế Giới.
Theo
bác sĩ Linus Pauling, người đoạt hai giải
Nobel về Hoá Học và Hoà B́nh "chúng ta đang có cơ
may sống trong một kỷ nguyên kỳ diệu, ranh giới
của hai thiên niên kỷ, thiên kỷ trước với
chinh chiến đau thương và thiên kỷ tới của
hoà b́nh, an lạc, công lư và đạo lư."
Luật
sư Nguyễn Hữu Thống
Mùa
Xuân 1998
(Kỷ
niệm 50 năm ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền)
TUYÊN
NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)
LỜI
MỞ ĐẦU
Xét
rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những
quyền b́nh đẳng bất khả chuyển nhượng
của tất cả các phần tử trong đại gia đ́nh
nhân loại là nền tảng của tự do, công lư và hoà
b́nh thế giới,
Xét
rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền
đă đưa tới những hành động dă man làm phẫn
nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới
một thế giới trong đó mọi người được
tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc
giải thoát khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, được
tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của
con người,
Xét
rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được
một chế độ pháp trị bảo vệ để
con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải
nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,
Xét
rằng điều cốt yếu là phải phát triển
những tương quan hữu nghị giữa các quốc
gia,
Xét
rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các
dân tộc đă tái xác nhận niềm tin vào những nhân
quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của
con người, vào quyền b́nh đẳng nam nữ, cùng
quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xă hội và nâng
cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,
Xét
rằng các quốc gia hội viên đă cam kết hợp
tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng
và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những
quyền tự do căn bản,
Xét
rằng một quan niệm chung về tự
do và nhân quyền là điều tối quan trọng để
thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.
V́
vậy,
ĐẠI
HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC
Công
bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như
một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả
các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể
xă hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực
phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học
vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy
tiến trên b́nh diện quốc gia và quốc tế, bảo
đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu
các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc
gia hội viên hay thuộc các lănh thỗ bị giám hộ.
Điều
1: Mọi
người sinh ra tự do và b́nh đẳng về phẩm
cách và quyền lợi, có lư trí và lương tri, và phải đối
xử với nhau trong t́nh bác ái.
Điều 2: Ai
cũng được hưởng những quyền tự
do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử
v́ bất cứ lư do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ,
ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc
dân tộc hay xă hội, tài sản, ḍng dơi hay bất cứ
thân trạng nào khác.
Ngoài ra không được phân
biệt về quy chế chính trị, pháp lư hay quốc tế
của quốc gia hay lănh thổ mà người đó trực
thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ,
mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.
Điều 3: Ai cũng có quyền được sống,
tự do, và an toàn thân thể.
Điều 4: Không
ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế
độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi
h́nh thức đều bị cấm chỉ
Điều 5: Không
ai có thể bị tra tấn hay bị những h́nh phạt
hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo,
làm hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận
là con người trước pháp luật bất cứ tại
đâu.
Điều 7: Mọi
người đều b́nh đẳng trước pháp luật
và được pháp luật bảo vệ b́nh đẳng
không kỳ thị. Mọi người đều được
bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi
giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Ai
cũng có quyền yêu cầu ṭa án quốc
gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những
hành động vi phạm những quyền căn bản được
hiến pháp và luật pháp thừa nhận.
Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm
hay lưu đầy một cách độc đoán.
Điều 10: Ai
cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn b́nh đẳng,
được một toà án độc lập
và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để
phán xử về những quyền lợi và nghiă vụ của
ḿnh, hay về những tội trạng h́nh sự mà ḿnh bị
cáo buộc.
Điều 11:
1) Bị
cáo về một tội h́nh sự được suy đoán
là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng
phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy
đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện
hộ.
2) Không
ai có thể bị kết án về một tội h́nh sự
do những điều ḿnh đă làm hay không làm, nếu những
điều ấy không cấu thành tội h́nh sự chiếu
theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện
hành; mà cũng không bị tuyên phạt một h́nh phạt nặng
hơn h́nh phạt được áp dụng trong thời
gian phạm pháp.
Điều 12: Không
ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán
vào đời tư, gia đ́nh, nhà ở, thư
tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo
vệ chống lại những xâm phạm ấy.
Điều 13:
1) Ai cũng
có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt
quốc gia.
2) Ai
cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia
nào, kể cả quốc gia của ḿnh, và có quyền hồi
hương.
Điều 14:
1) Khi
bị đàn áp, ai cũng có quyền t́m nơi tị nạn
và được hưởng quyền tị nạn tại
các quốc gia khác.
2) Quyền
này không được viện dẫn trong trường hợp
sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những
tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những
hành động trái với mục đích và tôn chỉ của
Liên Hiệp Quốc.
Điều 15:
1) Ai cũng
có quyền có quốc tịch.
2) Không ai
có thể bị tước quốc tịch hay tước
quyền thay đổi quốc tịch một cách độc
đoán.
Điều 16:
1) Đến
tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập
gia đ́nh mà không bị ngăn cấm v́ lư do chủng tộc,
quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền
b́nh đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng
như khi ly hôn.
2) Hôn thú
chỉ có giá trị nếu có sự thuận t́nh hoàn toàn tự
do của những người kết hôn.
3) Gia
đ́nh là đơn vị tự nhiên và căn bản của
xă hội, và phải được xă hội và quốc gia
bảo vệ.
Điều 17:
1) Ai cũng
có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp
với người khác.
2) Không ai
có thể bị tước đoạt tài sản một
cách độc đoán.
Điều 18: Ai
cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương
tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền
tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền
tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự
giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ,
hoặc riêng ḿnh hoặc với người khác, tại nơi
công cộng hay tại nhà riêng.
Điều 19: Ai
cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu
quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị
ai can thiệp v́ những quan niệm của ḿnh, và quyền
t́m kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức
và ư kiến bằng mọi phương tiện truyền
thông không kể biên giới quốc gia.
Điều 20:
1) Ai cũng
có quyền tự do hội họp và lập hội có tính
cách hoà b́nh.
2) Không ai
bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.
Điều 21:
1) Ai
cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia
ḿnh, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu
do ḿnh tự do lựa chọn.
2) Ai
cũng có quyền b́nh đẳng tham gia công vụ trong nước.
3) Ư
nguyện của quốc dân phải được coi là căn
bản của mọi quyền lực quốc gia; ư nguyện
này phải được biểu lộ qua những cuộc
tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu
phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự
do tương tự.
Điều 22: Với
tư cách là một thành viên của xă hội, ai cũng có
quyền được hưởng an sinh xă hội, cũng
như có quyền đ̣i được hưởng những
quyền kinh tế, xă hội và văn hoá cần thiết
cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của ḿnh, nhờ
những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc
tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc
gia.
Điều 23:
1) Ai
cũng có quyền được làm việc, được
tự do lựa chọn việc làm, được hưởng
những điều kiện làm việc công bằng và thuận
lợi và được bảo vệ chống thất
nghiệp.
2) Cùng
làm việc ngang nhau, mọi người được trả
lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
3) Người
làm việc được trả lương tương xứng
và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản
thân và gia đ́nh một đời sống xứng đáng
với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ
được bổ sung bằng những biện pháp bảo
trợ xă hội khác.
4) Ai
cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập
nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của
ḿnh.
Điều 24: Ai
cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được
hưởng sự hạn định hợp lư số giờ
làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả
lương.
Điều 25:
1) Ai
cũng có quyền được hưởng một mức
sống khả quan về phương diện sức khỏe
và an lạc cho bản thân và gia đ́nh kể cả thức
ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ
cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng
an sinh xă hội trong trường hợp thất nghiệp,
đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay
thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh
ngoài ư muốn.
2) Sản
phụ và trẻ em được đặc biệt săn
sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức
hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo
trợ xă hội như nhau.
Điều 26:
1) Ai cũng có quyền được
hưởng giáo dục. Giáo dục phải được
miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn
bản. Giáo dục sơ đẳng có tính
cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ
thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập.
Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập
cho mọi sinh viên trên căn bản b́nh đẳng, lấy
thành tích làm tiêu chuẩn.
2) Giáo
dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân
cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và
những quyền tự do căn bản; phải đề
cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các
quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn
giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động
của Liên Hiệp Quốc trong việc duy tŕ hoà b́nh.
3) Cha
mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho
các con.
Điều 27:
1) Ai
cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn
hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ
thuật, được hưởng các tiến bộ khoa
học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
2) Ai
cũng được bảo vệ bởi những quyền
lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những
sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật
của ḿnh.
Điều 28: Ai
cũng có quyền được hưởng một trật
tự xă hội và trật tự quốc tế trong đó
những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể
được thực hiện đầy đủ.
Điều 29:
1) Ai
cũng có nghiă vụ đối với cộng đồng
trong đó nhân cách của ḿnh có thể được phát
triển một cách tự do và đầy đủ.
2) Trong
khi hành xử những quyền tự do của ḿnh, ai cũng
phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt
ra ngơ hầu những quyền tự do của người
khác cũng được thừa nhận và tôn trọng,
những đ̣i hỏi chính đáng về đạo lư, trật
tự công cộng và an lạc chung trong một xă hội dân
chủ cũng được thỏa măn.
3) Trong
mọi trường hợp, những quyền tự do này
không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn
chỉ của Liên Hiệp Quốc.
Điều 30: Không
một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải
thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể,
hay một cá nhân nào được quyền hoạt động
hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự
do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.
(Phỏng
theo bản dịch của Trung Tâm Việt
với
sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân
Quyền.)
CÔNG
ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN DỰ VÀ CHÍNH TRỊ
(1966)
lời mở đầu
Các Quốc Gia Hội Viên
kư kết Công Ước này:
Xét
rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa
nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền b́nh đẳng
và bất khả chuyển nhượng của tất cả
các phần tử trong đại gia đ́nh nhân loại là nền
móng của tự do, công lư và hoà b́nh thế giới.
Nh́n
nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm
giá bẩm sinh của con người.
Nh́n
nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền,
lư tưởng về một con người tự do được
hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng
như được giải phóng khỏi sự sợ hăi
và khốn cùng, chỉ có thể đạt được
nếu hội đủ những điều kiện thuận
tiện để con người được hưởng
những quyền dân sự và chính trị cũng như những
quyền kinh tế, xă hội và văn hoá.
Xét
rằng nghiă vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc
là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những
nhân quyền và những quyền tự do của con người.
Nhận
định rằng con người có nghiă vụ đối
với những người khác cũng như đối với
cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn
trọng những quyền được nh́n nhận trong
Công Ước này.
Đồng
chấp thuận những điều khoản sau đây:
PHẦN
I
Điều 1:
1) Các
dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự
do quyết định về chế độ chính trị
và tự do theo đuổi đường hướng phát
triển kinh tế, xă hội và văn hoá.
2) Để
đạt được mục tiêu này, các dân tộc có
quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên
nhiên của ḿnh, miễn là không vi phạm
những nghiă vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc
tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền
lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện
sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước
đoạt.
3) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này, kể cả
những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ
các lănh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc
thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo
các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc.
PHẦN
II
Điều 2:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền
được nh́n nhận trong Công Ước cho tất cả
mọi người sống trong lănh thổ và thuộc thẩm
quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu
da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm,
nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, ḍng dơi
hay bất cứ thân trạng nào khác.
2) Trong
trường hợp những quyền được nh́n
nhận trong Công Ước này chưa được quy định
thành văn trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội
viên kư kết Công Ước cam kết sẽ ban hành các đạo
luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều
khoản của Công Ước để các quyền này có
hiệu lực.
3) Các quốc
gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết:
a) Bảo
đảm cho các nạn nhân quyền được đền
bù hay đ̣i bồi thường thỏa đáng khi những
quyền tự do của họ bị vi
phạm, dầu rằng người vi phạm là một
viên chức chính quyền.
b) Bảo
đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu
nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập
pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền
và phát triển quyền khiếu tố trước toà án.
c) Bảo
đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành
nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường
đă tuyên
Điều 3: Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
bảo đảm quyền b́nh đẳng nam nữ trong việc
hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong
Công Ước.
Điều 4:
1) Trong
khi tuyên bố t́nh trạng khẩn trương công cộng
v́ lư do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội
viên kư kết Công Ước này có thể ban hành một số
biện pháp đ́nh chỉ thi hành các nghiă vụ của quốc
gia ấn định trong Công Ước này. Tuy nhiên những
biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết v́
nhu cầu của t́nh thế, và không vi phạm các nghiă vụ
của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế,
và cũng không được dùng để kỳ thị
chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay
nguồn gốc xă hội.
2) Trong
mọi trường hợp những quyền dân sự và
chính trị ghi trong các điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), và
trong các điều 11, 15, 16, 18 của Công Ước không thể
bị đ́nh chỉ thi hành.
3) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này phải lập
tức thông báo qua vị Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc
cho các quốc gia hội viên kết ước khác hay biết
những điều khoản nào trong Công Ước đă bị
đ́nh chỉ thi hành, và v́ lư do ǵ. Ngay sau khi chấm dứt
t́nh trạng khẩn trương công cộng, họ cũng
phải thông báo theo thủ tục nói
trên.
Điều 5:
1) Không
một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền
giải thích các điều khoản trong Công Ước này để
cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm
tiêu diệt những quyền tự do đă được
Công Ước thừa nhận, hoặc để giới
hạn những quyền tự do này quá mức ấn định
trong Công Ước.
2) Các
quốc gia hội viên kết ước nào đă thừa
nhận một số nhân quyền căn bản trong luật
pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ,
sẽ không được quyền giới hạn hay đ́nh
chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện
cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những
nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một
phạm vi hạn hẹp hơn.
PHẦN
III
Điều 6:
1) Mọi
người đều có quyền sống. Đây
là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo
vệ. Không ai có thể bị tước
đoạt quyền sống một cách độc đoán.
2) Trong
các quốc gia chưa băi bỏ h́nh phạt tử h́nh, toà án
chỉ được tuyên án tử h́nh đối với
những tội h́nh sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật
pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với
những điều khoản của Công Ước này và của
Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt
Chủng. H́nh phạt tử h́nh chỉ có thể được
thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một
ṭa án có thẩm quyền.
3) Điều
luật này không cho phép các quốc gia hội viên kư kết
Công Ước này được giải trừ các nghiă vụ
ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội
Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết
hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.
4) Các
bị cáo bị tuyên án tử h́nh có quyền
xin ân xá hay ân giảm h́nh phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm h́nh phạt có thể được
ban hành trong mọi trường hợp.
5) Án
tử h́nh không được tuyên đối với các bị
cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng
không được thi hành đối với các phụ nữ
mang thai.
6) Điều
luật này không thể được viện dẫn để
tŕ hoăn hay ngăn cản việc băi bỏ h́nh phạt tử
h́nh tại các quốc gia hội viên kư kết Công Ước
này.
Điều 7: Không
ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những
h́nh phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm
hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt
là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương
sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí
nghiệm y học hay khoa học.
Điều 8:
1) Không
ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô
lệ và mọi h́nh thức buôn bán nô lệ đều bị
cấm chỉ.
2) Không ai
có thể bị bắt làm nô dịch.
3)
a) Không ai có thể
bị cưỡng bách lao động.
b) Khoản
3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc
gia trong đó luật pháp cho phép toà án có
thẩm quyền tuyên án tù khổ sai.
c) Trong phạm vi khoản này, không được coi là "lao
động cưỡng bách":
i) Ngoài
trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những
công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời
gian bị giam giữ chiếu theo một
bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời
gian được phóng thích có điều kiện.
ii) Nghiă vụ quân sự, hay
nghiă vụ quốc gia áp dụng cho những người được
luật pháp cho miễn thi hành nghiă vụ quân sự v́ lư do lương
tâm.
iii) Nghiă vụ cộng đồng
trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự
an lạc của cộng đồng.
iv) Những nghiă vụ dân sự thông thường.
Điều 9:
1) Ai
cũng có quyền tự do thân thể và an
ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay
giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước
đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường
hợp và theo những thủ tục luật
định.
2) Khi
bị bắt giữ, bị cáo phải được tức
th́ thông báo về lư do bắt giữ, và phải được
thông báo không chậm trễ về tội trạng bị
cáo buộc.
3) Bị
cáo bị bắt giữ hay giam cầm về một tội
h́nh sự phải được dẫn giải không chậm
trễ tới một vị thẩm phán (hay một viên chức
có thẩm quyền tư pháp theo luật),
để được xét xử trong một thời hạn
hợp lư hay được phóng thích. Theo thông
lệ, không nhất thiết phải câu lưu bị cáo trước
ngày toà xử. Tuy nhiên để bảo đảm sự
hiện diện của bị cáo trong phiên xử hay trong các
giai đoạn thẩm vấn, và để thi hành bản
án, nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo đ̣i hỏi
phải có bảo đảm.
4) Những
người bị bắt giữ hay giam cầm đều
có quyền yêu cầu toà án thụ lư không
chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ,
và phải được phóng thích nếu sự giam giữ
được xét là bất hợp pháp.
5) Các
nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm
bất hợp pháp có quyền khiếu tố đ̣i bồi
thường thiệt hại.
Điều 10:
1) Những
người mất tự do vẫn phải được
đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm.
2)
a) Ngoại
trừ những trường hợp đặc biệt,
các bị cáo chưa được xét xử phải được
giam giữ cách biệt với những người đă
can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người
không can án.
b) Các
bị cáo thiếu nhi phải được
giam giữ cách biệt với người lớn và phải
được xét xử trong thời hạn sớm nhất.
c) Chế
độ lao tù phải đặt trọng
tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ
hội cải hoá và hội nhập vào đời sống
xă hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải
được giam giữ cách biệt với người
lớn, và phải được đối xử tuỳ
theo tuổi tác và t́nh trạng pháp lư của chúng.
Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ v́
không có khả năng thi hành một nghiă vụ khế ước.
Điều 12:
1) Những
người cư trú hợp pháp trong lănh thổ một quốc
gia đều có quyền tự do đi lại và tự do
lựa chọn nơi cư trú trong lănh thổ.
2) Mọi
người đều được quyền tự do rời
khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của
ḿnh.
3) Những
quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn,
ngoại trừ những trường hợp luật định
v́ nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự
công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lư, hay
những quyền tự do của người khác, và nếu
không trái với những quyền tự do khác được
thừa nhận trong Công Ước này.
4) Không ai
có thể bị tước đoạt quyền hồi hương
một cách độc đoán.
Điều 13: Ngoại
kiều cư trú hợp pháp trong lănh thổ các quốc gia hội
viên kư kết Công Ước này chỉ có thể bị trục
xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ
trường hợp có lư do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục
xuất có quyền tŕnh bày lư do để chống lại
quyết định trục xuất, và có quyền nhờ
người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ
sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại
diện cơ quan có thẩm quyền.
Điều 14:
1) Mọi
người đều b́nh đẳng trước toà án. Mọi
người đều có quyền được xét xử
công bằng và công khai bởi một toà án độc lập,
vô tư và có thẩm quyền theo luật,
để phán xử về những tội trạng h́nh sự
mà ḿnh bị cáo buộc hay về những quyền lợi
và nghiă vụ của ḿnh trong các vụ tranh tụng khác. Báo
chí và công chúng có thể không được tham dự một
phần hay toàn thể phiên xử, v́ nhu cầu đạo
lư, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một
xă hội dân chủ, hay để bảo vệ đời
sống riêng tư của các đương sự tranh tụng,
hay, trong những trường hợp thật cần thiết,
khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ
làm thiệt hại quyền lợi của công lư. Tuy nhiên
các bản án h́nh sự và các bản án khác phải được
tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường
hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu
nhi hay của gia đ́nh trong những vụ
tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các
con.
2) Bị
cáo về các tội h́nh sự có quyền được
suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh
là có tội theo luật.
3) Trong
các vụ h́nh sự, tất cả các bị cáo đều được
hưởng đồng đều những bảo đảm
tối thiểu sau đây:
a) Được
tức th́ thông báo tội trạng với đầy đủ
chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.
b) Quyền
có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn
bị sự biện hộ và được quyền liên
lạc với luật sư do ḿnh lựa chọn.
c) Được
xét xử mau chóng, không diên tŕ quá đáng.
d) Được
hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ
hay nhờ luật sư biện hộ do ḿnh lựa chọn;
được thông báo về quyền này trong trường
hợp tự biện hộ; và được quyền có
luật sư biện hộ miễn phí v́ nhu cầu công lư
nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật
sư.
e) Được
đối chất với các nhân chứng buộc tội
và được quyền đ̣i nhân chứng và chất vấn
các nhân chứng gỡ tội cho ḿnh, theo
cùng một thủ tục.
f) Được
quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo
không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà.
g) Được
quyền không khai, để khỏi phải tự buộc
tội ḿnh, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
4) Trong
các vụ án thiếu nhi, thủ tục
xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị
cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.
5) Các
bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.
6) Trong
trường hợp bị cáo bị tuyên h́nh phạt chung
thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương
sự được ân xá v́ có sự kiện mới phát
giác cho biết bị cáo đă bị phạt oan uổng, người
bị kết án có quyền đ̣i bồi thường thiệt
hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết,
sở dĩ sự kiện mới này không được
phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn
tại v́ bị cáo.
7) Không
ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một
lần nữa về một tội trạng đă được
toà án phán xử chung thẩm bằng cách
tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ
tục h́nh sự hiện hành.
Điều 15:
1) Không
ai có thể bị kết án về một tội h́nh sự
do những điều ḿnh đă làm hay không làm, nếu những
điều ấy không cấu thành tội h́nh sự chiếu
theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế áp
dụng hồi đó; mà cũng không bị tuyên một h́nh
phạt nặng hơn h́nh phạt được áp dụng
trong thời gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được
quyền hưởng h́nh phạt khoan hồng hơn chiếu
theo luật mới ban hành sau ngày phạm
pháp.
2) Điều
luật này không có tác dụng ngăn cản việc xét xử
hay tuyên phạt một bị cáo v́ đă làm hay không làm những
hành vi cấu thành tội h́nh sự chiếu theo những
nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa
nhận bởi cộng đồng các quốc gia trong thời
gian đương sự phạm pháp.
Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận
là con người trước pháp luật bất cứ tại
đâu.
Điều 17:
1) Không
ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán
vào đời tư, gia đ́nh, nhà ở, thư tín, hoặc
bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh.
2) Ai cũng
có quyền được luật pháp bảo vệ chống
lại những xâm phạm ấy.
Điều 18:
1) Ai
cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương
tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự
do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng
và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng
qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng
dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác,
tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
2) Không ai
bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự
do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
3) Quyền
tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ
có thể bị giới hạn theo luật, v́ nhu cầu bảo
vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức
khỏe công cộng, đạo lư hay những quyền tự
do căn bản của người khác.
4) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ
trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lư
theo tín ngưỡng của họ.
Điều 19:
1) Mọi
người đều có quyền giữ vững quan niệm
mà không bị ai can thiệp.
2) Mọi
người đều có quyền tự do phát biểu quan
điểm; quyền này bao gồm quyền tự do t́m kiếm,
tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ư kiến
bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới
h́nh thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương
tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc
gia.
3) Việc
hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi
ở khoản 2 nói trên) đ̣i hỏi đương sự
phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc
biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn
bởi pháp luật v́ nhu cầu:
a) Tôn trọng
những quyền tự do và thanh danh của người
khác.
b) Bảo vệ
an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
sức khỏe công cộng hay đạo lư.
Điều 20:
1) Mọi
h́nh thức tuyên truyền, cổ vơ chiến tranh phải bị
luật pháp cấm chỉ.
2) Mọi
h́nh thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị,
hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc
gia, các chủng tộc hay các tôn giáo phải bị luật
pháp cấm chỉ.
Điều 21: Quyền
hội họp có tính cách hoà b́nh phải được thừa
nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị
giới hạn bởi luật pháp, v́ các nhu cầu cần thiết
trong một xă hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật
tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo
lư, hay những quyền tự do của người khác.
Điều 22:
1) Ai
cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền
thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo
vệ quyền lợi của ḿnh.
2) Việc
hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn
bởi luật pháp, v́ các nhu cầu cần thiết trong một
xă hội dân chủ để bảo vệ an
ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng,
sức khỏe công cộng, đạo lư, hay những quyền
tự do của người khác. Điều luật này
không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới
hạn luật định liên quan đến sự hành xử
quyền tự do lập hội của các giới quân nhân
và cảnh sát.
3) Điều luật này
không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên kư kết
Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về
Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập
Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo
luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm
về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động
Quốc Tế.
Điều 23:
1) Gia
đ́nh là đơn vị tự nhiên và căn bản trong
xă hội và phải được xă hội và quốc gia
bảo vệ.
2) Thanh
niên nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết
hôn và lập gia đ́nh.
3) Hôn
thú chỉ được thành lập nếu có sự ưng
thuận hoàn toàn tự do của những người kết
hôn.
4) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này phải
ban hành những biện pháp để bảo đảm sự
b́nh đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của
vợ chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng
như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn
phải quy định những biện pháp bảo vệ
quyền lợi của các con.
Điều 24:
1) Không
phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ,
tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản
hay ḍng dơi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải
được gia đ́nh, xă hội và quốc gia bảo vệ.
2) Trẻ
em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được
đặt tên họ.
3) Trẻ
em có quyền thủ đắc quốc tịch.
Điều 25:
1) Không
bị kỳ thị (như đă quy định ở điều
2) và không bị giới hạn bất hợp lư, mọi
công dân đều có quyền và có cơ hội:
a) Được
tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực
tiếp hoặc qua những đại biểu do ḿnh tự
do tuyển chọn.
b) Được
bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển
cử tự do và công bằng theo định
kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm
trung thực ư nguyện của cử tri.
c) Được
quyền b́nh đẳng tham gia công vụ trong nước.
Điều 26: Mọi
người đều b́nh đẳng trước pháp luật,
và được pháp luật bảo vệ b́nh đẳng
không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp
cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất
cả mọi người quyền được bảo
vệ một cách b́nh đẳng và hữu hiệu chống
mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam
nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn
gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, ḍng dơi hay bất
cứ thân trạng nào.
Điều 27: Đối
với các cộng đồng thiểu số về chủng
tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội
viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần
thiểu số cũng với những người khác
trong cộng đồng của họ được quyền
hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và
hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ
riêng của họ.
(Với
sự tu chính của
Uỷ
Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt
CÔNG
ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ NHỮNG QUYỀN KINH TẾ,
XĂ HỘI VÀ VĂN HÓA
(1966)
lời
mở đầu
Các Quốc Gia Hội Viên
kư kết Công Ước này:
Xét
rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa
nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền b́nh đẳng
và bất khả chuyển nhượng của tất cả
các phần tử trong đại gia đ́nh nhân loại là nền
móng của tự do, công lư và hoà b́nh thế giới.
Nh́n
nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm
giá bẩm sinh của con người.
Nh́n
nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền,
lư tưởng về một con người tự do được
giải phóng khỏi sự sợ hăi và khốn cùng, chỉ
có thể đạt được nếu hội đủ
những điều kiện thuận tiện để con
người được hưởng những quyền
kinh tế, xă hội và văn hoá, cũng như những quyền
dân sự và chính trị.
Xét
rằng nghiă vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc
là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những
nhân quyền và những quyền tự do của con người.
Nhận
định rằng con người có nghiă vụ đối
với những người khác cũng như đối với
cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn
trọng những quyền được nh́n nhận trong
Công Ước này.
Đồng
chấp thuận những điều khoản sau đây:
PHẦN
I
Điều 1:
1) Các
dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự
do quyết định về chế độ chính trị
và tự do theo đuổi đường hướng phát
triển kinh tế, xă hội và văn hoá.
2) Để
đạt được mục tiêu này, các dân tộc có
quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên
nhiên của ḿnh, miễn là không vi phạm
những nghiă vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc
tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền
lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện
sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước
đoạt.
3) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này, kể cả
những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ
các lănh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc
thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo
các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc.
PHẦN II
Điều 2:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết,
sẽ tự ḿnh và do sự tương trợ và hợp
tác quốc tế, đặc biệt về kinh tế và kỹ
thuật, ban hành những biện pháp tận dụng những
nguồn lợi quốc gia vào mục đích thực thi lũy
tiến và đầy đủ những quyền được
nh́n nhận trong Công Ước này bằng những phương
pháp thích nghi, đặc biệt là bằng việc ban hành
các đạo luật.
2) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
bảo đảm thực thi các quyền liệt kê trong
Công Ước này không phân biệt chủng tộc, mầu
da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm,
nguồn gốc quốc gia hay xă hội, tài sản, ḍng dơi
hay bất cứ thân trạng nào khác.
3) Trong
chiều hướng tôn trọng nhân quyền và căn cứ
vào khả năng kinh tế trong nước, các quốc gia
đang phát triển có thể ấn định những
quyền kinh tế nào trong Công Ước này sẽ được
bảo đảm áp dụng cho những người không
có tư cách công dân.
Điều 3: Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
bảo đảm quyền b́nh đẳng nam nữ trong việc
hành xử những quyền kinh tế, xă hội và văn
hoá liệt kê trong Công Ước này.
Điều 4: Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này nh́n nhận
rằng, về việc hành xử những quyền ghi trong
Công Ước, họ chỉ có thể ấn định
các giới hạn luật định phù hợp với bản
chất của những quyền này và chỉ nhằm mục
đích phát huy sự an lạc chung trong một xă hội dân
chủ.
Điều 5:
1) Không
một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền
giải thích các điều khoản trong Công Ước này để
cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm
tiêu diệt những quyền tự do đă được
Công Ước thừa nhận, hoặc để giới
hạn những quyền tự do này quá mức ấn định
trong Công Ước.
2) Các
quốc gia nào đă thừa nhận một số nhân quyền
căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước,
quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền
giới hạn hay đ́nh chỉ thi hành các nhân quyền căn
bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không
thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa
nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn.
PHẦN
III
Điều 6:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận cho mọi người quyền làm việc và cam kết
sẽ ban hành những biện pháp để bảo đảm
quyền này. Quyền làm việc bao gồm quyền co cơ
hội sinh sống nhờ công việc, quyền tự do nhận
việc hay lựa chọn việc làm.
2) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này sẽ ban
hành những biện pháp để thực thi đầy đủ
quyền làm việc, như những chương tŕnh huấn
luyện, hướng dẫn kỹ thuật và hướng
nghiệp, những chính sách và kỹ thuật để phát
triển đều đặn về kinh tế, xă hội
và văn hoá, cùng sự toàn dụng nhân công vào việc sản
xuất trong điều kiện những quyền tự do
chính trị và kinh tế căn bản của con người
được bảo đảm.
Điều 7: Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này nh́n nhận
cho mọi người quyền được hưởng
những điều kiện làm việc công bằng và thuận
lợi, đặc biệt với những bảo đảm
sau đây:
a) Về việc
trả lương cho các công nhân, tối thiểu phải
có:
i) Tiền
lương tương xứng và công bằng cho các công việc
có giá trị ngang nhau không phân biệt đối xử. Đặc biệt phụ nữ được bảo
đảm có những điều kiện làm việc tương
xứng như nam giới, làm việc ngang nhau được
trả lương ngang nhau.
ii) Một
mức sống xứng đáng cho bản thân và gia đ́nh
phù hợp với những điều khoản của Công Ước
này.
b) Có điều
kiện làm việc an toàn và không hại đến
sức khoẻ.
c) Có cơ hội
thăng tiến đồng đều cho mọi người
và chỉ căn cứ vào thâm niên và khả năng.
d) Có
quyền nghỉ ngơi và giải trí; được ấn
định hợp lư số giờ làm việc, kể cả
những ngày nghỉ định kỳ có trả lương
và những ngày nghỉ lễ có trả lương.
Điều 8:
1) Các quốc
gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết bảo
đảm:
a) Quyền
tự do thành lập nghiệp đoàn và tham gia nghiệp đoàn
(theo nội quy và điều lệ), để
bảo vệ và gia tăng quyền lợi kinh tế và xă hội
của ḿnh. Sự hành xử quyền này chỉ có thể bị
giới hạn theo luật, v́ nhu cầu sinh hoạt trong một
xă hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc
gia, trật tự công cộng, hay sự hành xử quyền
tự do của người khác.
b) Quyền
của các nghiệp đoàn được kết hợp
thành các tổng liên đoàn quốc gia, và từ đó thành lập
hay gia nhập các tổ chức tổng liên đoàn quốc
tế.
c) Các
nghiệp đoàn được quyền tự do hoạt động
và chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vi nhu
cầu sinh hoạt trong một xă hội dân chủ để
bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
hay sự hành xử quyền tự do của những người
khác.
d) Quyền đ́nh
công được hành xử theo luật
quốc gia.
2) Điều
luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành
các giới hạn luật định liên quan đến sự
hành xử những quyền này của các giới quân nhân, cảnh
sát và công chức quốc gia.
3) Điều
luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội
viên kư kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm
1948 về Quyền Tự do Lập Hội và Bảo Vệ
Quyền Lập Hội được ban hành những đạo
luật có tác dụng vi phạm những
bảo đảm ghi trong Công Ước Lao Động Quốc
Tế.
Điều 9: Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận quyền của mọi người được
hưởng an sinh xă hội và bảo hiểm
xă hội.
Điều 10: Các quốc gia hội viên kư kết Công Ước
này nh́n nhận rằng:
1) V́
gia đ́nh là đơn vị tự nhiên và căn bản
trong xă hội nên phải được bảo vệ và hỗ
trợ mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong giai đoạn
thành lập và trong khi thi hành nghiă vụ chăm sóc và giáo dục
các trẻ em. Hôn thú được thành lập do sự ưng
thuận tự do của những người kết hôn.
2) Xă
hội phải đặc biệt giúp đỡ các sản
phụ trong một thời gian hợp lư trước và sau
khi sinh nở. Trong thời gian này, các bà mẹ đi làm được
nghỉ phép có trả lương hay được hưởng
trợ cấp an sinh xă hội cần thiết.
3) Quốc
gia phải ban hành những biện pháp đặc biệt để
bảo vệ và hỗ trợ các trẻ em và thiếu niên
không phân biệt t́nh trạng phụ hệ hay bất cứ
thân trạng nào khác. Trẻ em và thiếu niên
phải được bảo vệ chống mọi h́nh
thức bóc lột về kinh tế và xă hội. Các thiếu niên không được tuyển dụng
vào các công việc nguy hiểm đến đời sống
hay phương hại đến đạo lư, sức khỏe
hay đến sự phát triển b́nh thường của
tuổi trẻ. Vi phạm điều
này phải bị truy tố theo luật. Quốc gia cũng
phải ấn định số tuổi tối thiểu
cho các thiếu niên làm việc lao động
có trả lương. Tuyển dụng các thiếu niên dưới
tuổi luật định phải bị cấm chỉ
và truy tố theo luật.
Điều 11:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận cho mọi người quyền được hưởng
một mức sống khả quan cho bản thân và gia đ́nh,
đủ cơm ăn, áo mặc và nhà ở. Mức sống
này phải được nâng cao liên tục. Các quốc gia
hội viên kết ước sẽ ban hành những biện
pháp thích nghi để quyền này được thực
hiện, ư thức rằng sự hợp tác quốc tế
trên căn bản tự nguyện giữ vai tṛ thiết yếu
trong việc này.
2) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận cho mọi người quyền căn bản được
giải thoát khỏi sự đói khổ, và cam kết sẽ
ban hành những biện pháp do quốc gia và do sự hợp
tác quốc tế, để thực hiện những chương
tŕnh đặc biệt cần thiết như:
a) Cải
tiến những phương pháp sản xuất, tồn trữ
và phân phối thực phẩm bằng cách tận dụng
các kiến thức khoa học kỹ thuật, phổ biến
các kiến thức về dinh dưỡng, phát triển hay
canh tân nông nghiệp để đạt được năng
suất tối đa về phát triển và sử dụng
tài nguyên thiên nhiên.
b) Trên
phạm vi toàn cầu, phải tiến tới
sự phân phối công bằng và hợp lư các thực phẩm
trên thế giới tùy theo khả năng của các quốc
gia xuất cảng thực phẩm và nhu cầu của các
quốc gia nhập cảng thực phẩm.
Điều 12:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận cho mọi người quyền được hưởng
tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe thể chất
và tâm thần.
2) Để
quyền này được thực thi đầy đủ,
các quốc gia hội viên kư kết Công Ước này sẽ
ban hành những biện pháp cần thiết sau đây:
a) Giảm
bớt tỷ lệ tử vong của thai
nhi và hài nhi, bảo vệ sức khỏe và sự phát triển
của trẻ em.
b) Cải thiện
những điều kiện vệ sinh trong môi trường
sinh thái và môi trường kỹ nghệ.
c) Ngăn
ngừa, điều trị và kiểm soát các bệnh dịch,
các bệnh đặc biệt tại một địa phương
hay tại một loại nghề nghiệp, cũng như
các bệnh khác.
d) Tạo
điều kiện để bảo đảm việc
cung cấp các dịch vụ y tế và chăm sóc bệnh
nhân khi đau yếu.
Điều 13:
1) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này thừa
nhận cho mọi người quyền được hưởng
giáo dục. Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ
nhân cách và nhân phẩm, tăng cường sự tôn trọng
nhân quyền và những quyền tự do căn bản; cho
mọi người được thực sự tham gia
sinh hoạt trong một xă hội tự do, đề cao sự
thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc
gia, các cộng đồng sắc tộc, chủng tộc
hay tôn giáo, và yểm trợ các hoạt động của
Liên Hiệp Quốc trong việc duy tŕ hoà b́nh.
2) Các quốc gia hội viên
kư kết Công Ước này nh́n nhận rằng, đường
hướng sau đây sẽ giúp vào việc thực hiện
đầy đủ quyền giáo dục:
a) Giáo dục tiểu
học phải có tính cách cưỡng bách và miễn phí cho tất
cả mọi người.
b) Giáo
dục trung học kể cả các ngành phổ thông, kỹ
thuật và hướng nghiệp phải được phổ
cập cho tất cả mọi người bằng những
phương pháp thích nghi và đặc biệt phải tiến
dần đến miễn phí.
c) Giáo
dục đại học phải được phổ cập
b́nh đẳng cho mọi sinh viên bằng những phương
pháp thích nghi, căn cứ vào khả năng, và đặc
biệt phải tiến dần đến miễn phí.
d) Giáo
dục căn bản tráng niên được khuyến khích
và tăng cường tối đa cho những người
chưa tốt nghiệp tiểu học.
e) Hệ
thống giáo dục các cấp phải được tích cực
phát triển, hệ thống học bổng tu nghiệp phải
được thiết lập và điều kiện vật
chất của các nhân viên giảng huấn phải được
cải thiện liên tục.
3) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
tôn trọng quyền tự do của phụ huynh học
sinh hay người giám hộ, được lựa chọn
trường cho con em ngoài hệ thống giáo dục công lập,
nếu trường này hội đủ
những tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu do quốc
gia ấn định. Các phụ huynh hay người giám hộ
cũng được quyền phụ trách về giáo dục
tôn giáo và đạo lư cho con em theo tín ngưỡng
của họ.
4) Điều
luật này không có tác dung can thiệp vào quyền tự do của
các cá nhân hay tổ chức trong việc thiết lập và điều
hành các định chế giáo dục tư thục với điều
kiện cùng theo đuổi những mục tiêu giáo dục
nêu ở khoản 1 điều này, và nếu hội đủ
tiêu chuẩn giáo dục tối thiểu do quốc gia ấn
định.
Điều 14: Trong
thời gian kư kết hay gia nhập Công Ước này, nếu
các quốc gia hội viên nào chưa tổ chức được
hệ thống tiểu học cưỡng bách và miễn
phí trong quản hạt quốc gia (hay trong các lănh thổ mà
họ bảo hộ hay giám hộ), họ cam kết sẽ
thiết lập trong ṿng 2 năm một chương tŕnh
hành động với đầy đủ chi tiết để
tuần tự ban hành trong một thời gian hợp lư có
ghi rơ trong chương tŕnh, một hệ thống giáo dục
cưỡng bách và miễn phí cho tất cả các học
sinh tiểu học
Điều 15:
1) Các quốc
gia hội viên kư kết Công Ước này thừa nhận
quyền của mọi người:
a) Được
tham gia vào đời sống văn hoá;
b) Được
hưởng các lợi ích của những tiến bộ và
sáng chế khoa học.
c) Được
bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật
chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học,
văn học hay nghệ thuật của ḿnh.
2) Để
thực thi đầy đủ quyền này, các quốc gia
hội viên kư kết Công Ước này cam kết sẽ ban
hành những biện pháp cần thiết trong việc bảo
tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn
hoá.
3) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này cam kết
tôn trọng quyền tự do cần thiết cho việc
nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học nghệ
thuật.
4) Các
quốc gia hội viên kư kết Công Ước này ghi nhận
những lợi ích trong việc khuyến khích và phát triển
những liên lạc và hợp tác quốc tế trên lănh vực
khoa học và văn hoá.
(Với
sự tu chính của
Ủy
Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt
PHẦN
DIỄN GIẢI
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
(1948) (TNQTNQ) công nhận cho con người 26 nhân quyền căn
bản. Công Ước Quốc Tế về những Quyền
Dân Sự và Chính Trị (CUDSCT) và Công Ước Quốc Tế
về những Quyền Kinh Tế, Xă Hội và Văn Hóa
(1966) (CUKTXHVH) công nhận thêm quyền dân tộc tự quyết.
Năm 1960 Liên Hiệp Quốc ban hành Quyết
Nghị yêu cầu các đế quốc (Anh Pháp) trao trả
độc lập cho các quốc gia bị trị (Á Phi). Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, tổng
thống Pháp De Gaulle cam kết tôn trọng quyền tự
quyết của dân tộc Algeria, và hai năm sau tổ chức
trưng cầu dân ư để trả độc lập cho
Algeria.
Điều
1 của hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền định
nghiă dân tộc tự quyết là "quyền của các
dân tộc được tự do quyết định về
chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường
hướng phát triển kinh tế, xă hội và văn hoá."
Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền chia các nhân quyền thành 4 loại:
1) Những
quyền dân sự về bản thân con người hay Quyền
Tự Do Thân Thể.
2) Những
quyền dân sự của con người trong đời sống
xă hội hay Quyền An Cư.
3) Những
quyền kinh tế, xă hội và văn hoá giáo dục hay Quyền
Lạc Nghiệp.
4) Những
quyền tự do tinh thần và tự do chính trị hay Quyền
Tự Do Dân Chủ.
Khái
quát mà xét, chúng ta có thể xếp nhân quyền thành 3 bậc:
1) Nhân
Quyền bậc 1 mệnh
danh là Quyền Tự Do Thân Thể, gồm những quyền
liên quan đến thân thể con người, như quyền
sống, quyền tự do thân thể không bị nô lệ
hay nô dịch, quyền an toàn thân thể không bị bắt
giam trái phép, không bị tra tấn hành hạ, được
xét xử công bằng nếu bị truy tố, được
toà án và luật pháp bảo vệ và được công nhận
là "Con Người" để được
b́nh đẳng trước pháp luật.
2) Nhân
Quyền bậc 2 gồm
có những quyền dân sự, kinh tế, xă hội và văn
hoá giáo dục mệnh danh là Quyền An Cư
Lạc Nghiệp.
a) Quyền
An Cư (quyền dân sự) gồm có quyền tự do cư
trú và đi lại, tự do xuất ngoại và hồi hương,
quyền riêng tư cho bản thân, gia đ́nh, nhà cửa, thư
tín, quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền
kết hôn và lập gia đ́nh và quyền sở hữu.
b) Quyền
Lạc Nghiệp (quyền kinh tế, xă hội và văn hoá
giáo dục) gồm có quyền làm việc, quyền thành lập
nghiệp đoàn và đ́nh công, quyền an sinh xă hội, quyền
bảo vệ gia đ́nh, quyền có đời sống khả
quan cho bản thân và gia đ́nh, quyền y tế, được
hưởng giáo dục, được tham gia vào đời
sống văn hoá.
3) Nhân
Quyền bậc 3 gồm
có những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị
mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ, như tự do
lương tâm và tự do tôn giáo, tự do tư tưởng
và tự do phát biểu quan điểm (tự do ra báo), tự
do hội họp và lập hội (cấm độc đảng),
và quyền b́nh đẳng tham gia chính quyền (cấm độc
quyền lănh đạo).
NHÂN QUYỀN BẬC
1:
QUYỀN
TỰ DO THÂN THỂ
Một
số quyền tự do thân thể được coi là bất
khả xâm phạm, không thể bị tước đoạt
hay đ́nh chỉ thi hành dầu có chiến tranh hay khẩn
trương công cộng, như quyền sống, quyền
tự do không bị nô lệ hay nô dịch, không bị tra tấn
hành hạ, không bị giam giữ v́ thiếu nợ, quyền
b́nh đẳng trước pháp luật, quyền không bị
kết án do những hành động không cấu thành tội
h́nh sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật
pháp quốc tế (trong đó có Luật Quốc Tế Nhân
Quyền).
Công
Ước Dân Sự Chính Trị chi tiết hóa những quyền
tự do thân thể ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:
1) Quyền Sống
(Right to Life) (điều 3 TNQTNQ và điều 6 CUDSCT).
Là
quyền thiết yếu nhất của con người được
luật pháp bảo vệ chống lại mọi hành động
sát nhân độc đoán
Con
người được bảo vệ quyền sống
từ khi mới thụ thai.
Chế
độ án tử h́nh được băi bỏ hay hạn
chế tối đa; chống nạn diệt chủng tập
thể; không được tuyên án tử h́nh đối với
các thiếu nhi dưới 18 tuổi, và
các phụ nữ mang thai. Các bị cáo bị tuyên án tử h́nh có quyền xin ân xá, ân giảm hay
hoán cải h́nh phạt. Các quốc gia đă băi bỏ án tử h́nh không được tái lập chế
độ này.
2) Quyền Không Bị Tra Tấn (Freedom from Torture) (điều 5 TNQTNQ và điều
7 CUDSCT).
Quyền này áp dụng cho mọi người,
không bị tra tấn về thân thể, không bị hành hạ
về tinh thần và tâm trí khi bị bắt giữ. Không bị những h́nh phạt tàn ác, vô nhân đạo
làm tổn thương nhân phẩm khi bị kết án và giam giữ. H́nh phạt chỉ
được áp dụng cho kẻ phạm tội, không
liên lụy đến gia đ́nh. Các bị cáo chờ
ṭa xử phải được đối xử như
những người chưa can án. H́nh phạt tước đoạt
tự do ( phạt tù) phải nhằm mục
đích cải hóa để tù nhân có thể trở về
cuộc sống b́nh thường sau khi được trả
tự do.
3)
Quyền Không Bị Làm Nô Lệ
(Freedom from Slavery) (điều 4 TNQTNQ, điều 8 CUDSCT)
Không
ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch. Cấm tổ chức buôn bán phụ nữ và gái vị
thành niên. Không ai bị làm công việc khổ sai nếu
không có án ṭa hợp lệ. Trong
mọi trường hợp, công việc khổ sai không được
làm tổn thương đến phẩm giá và phương
hại đến khả năng thể chất hay tinh thần
của tù nhân. Các tù nhân chính trị hay tù nhân lương
tâm phải được đối xử nhân đạo,
chăm sóc sức khỏe, không bị kết án
tù khổ sai. Các hội bảo vệ nhân quyền quốc
tế như Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Quan Sát Á
Châu, Ủy Ban Luật Gia Quốc Tế, Hội Nhân Quyền
Quốc Tế v.v... là những tổ chức
phi chính phủ đứng ra đấu tranh đ̣i phóng
thích các tù nhân lương tâm bị giam giữ chỉ v́ họ
có lập trường hay tư tưởng chống lại
chính sách của nhà cầm quyền.
4) Quyền Tự
Do Nhân Thân (Right to Personal
Liberty) (điều 9 TNQTNQ và điều 11, 14 khoản 6 CUDSCT)
Ai
cũng có quyền tự do nhân thân và an
toàn thân thể. Không ai có thể bị bắt
giữ và giam cầm độc đoán. Khi bị bắt
giữ để điều tra, bị cáo được
quyền thông báo lư do hay tội trạng bị trách cứ.
Bị cáo phải được dẫn giải không chậm
trễ tới toà án để xét xử theo
luật trong một thời gian hợp lư, hay để được
toà án phóng thích vô điều kiện, hay được tại
ngoại có thế chân. Những ai bị giam giữ đều
có quyền yêu cầu toà án có thẩm quyền
xét xử, để yêu cầu toà trả tự do nếu sự
bắt giữ được xét là bất hợp pháp. Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ
và giam cầm trái phép co quyền được chính phủ
bồi thường thiệt hại. (điều
14 khoản 6 CUDSCT)
Không
ai có thể bị câu thúc thân thể v́ thiếu nợ
(điều 11 CUDSCT)
5) Quyền Được
Xét Xử Công Bằng (Right to
a Fair Trial) (điều 10, 11 TNQTNQ và điều 14 CUDSCT)
Mọi
người đều được b́nh đẳng trước
toà án, được quyền có một toà án độc lập,
vô tư có thẩm quyền xét xử một cách công bằng
và công khai để phán định về những quyền
lợi và nghiă vụ của ḿnh, hoặc về những tội
trạng mà ḿnh bị trách cứ về mặt h́nh sự. Bị
cáo về các tội h́nh sự có quyền được suy
đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh
là có tội theo luật. (điều
11 TNQTNQ, điều 14 khoản 2 CUDSCT)
Trong
vụ tranh tụng, mọi người đều được
hưởng những bảo đảm sau đây về quyền
biện hộ:
a) Được
quyền có thông dịch viên miễn phí do toà án
cung cấp nếu bị cáo không hiểu tiếng và danh từ
của toà án.
b) Quyền
được thông báo tội trạng với đầy đủ
chi tiết trước khi toà mở cuộc điều tra
và thẩm vấn.
c) Quyền
có đủ thời gian và phương tiện để
chuẩn bị sự biện hộ trước toà.
d) Quyền
tự biện hộ hay nhờ luật sư do ḿnh lựa
chọn để biện hộ cho ḿnh và được
quyền tự do tiếp xúc với luật sư.
e) Quyền
được có luật sư biện hộ là một quyền
bất khả chuyển nhượng, luật sư được
chỉ định miễn phí trong trường hợp bị
can không tự biện hộ và không có khả năng muớn
luật sư.
f) Quyền
đối chất với nhân chứng trước toà, được
đ̣i nhân chứng ra hầu toà kể cả các chuyên viên để
làm sáng tỏ các sự kiện hồ sơ.
g) Quyền
giữ im lặng không phải khai để khỏi tự
buộc tội ḿnh, quyền không bị cưỡng bách nhận
tội. Sự nhận tội chỉ có giá trị nếu
không bị cưỡng bách hay hăm doạ.
h) Quyền
được chống án lên toà trên nếu
bị xác nhận tội trạng; khi được toà
tuyên phán là vô tội phải được phóng thích ngay và
không thể bị truy tố lần thứ hai cũng về
tội này.
i) Cuộc
thẩm vấn và tranh luận trước toà phải diễn
ra công khai với sự tham dự của báo chí và công chúng.
6) Quyền Được
Toà Án Bảo Vệ (Right to
Judicial Protection) (điều 8 TNQTNQ và điều 2 khoản
3 CUDSCT)
Để
chống lại các hành vi độc đoán trái phép của
các nhân viên công quyền làm thiệt hại quyền lợi
hay vi phạm nhân quyền, mọi người đều
có quyền khiếu tố trước toà án để đ̣i
những biện pháp đền bù hữu hiệu (effective
remedy), như hủy bỏ một quyết định hành
chánh, tuyên bố một đạo luật vi hiến, truyền
phóng thích bị cáo v́ bị giam giữ trái phép, hay buộc
chính phủ bồi thường thiệt hại cho nạn
nhân v.v...
Các
quốc gia kết ước cam kết sẽ tổ chức
hệ thống tư pháp hữu hiệu để có thể
cung cấp cho mọi người quyền khiếu tố
trước toà án có thẩm quyền hầu bênh vực các
quyền tự do của con người được luật
pháp quốc tế nhân quyền bảo vệ. Những biện
pháp bồi thường thiệt hại do toà tuyên án phải được thực sự thi
hành.
7) Quyền Được
Luật Pháp Bảo Vệ
(Right to Legal Protection) (điều 11 khoản 2 TNQTNQ và điều
15 CUDSCT)
Không
ai có thể bị kết án về một tội h́nh sự
do những hành động không cấu thành tội h́nh sự
chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật
pháp quốc tế, luật pháp quốc tế được
hiểu là những nguyên tắc tổng quát của h́nh luật
được công nhận bởi cộng đồng các
quốc gia (văn minh)
Không ai phải chịu h́nh phạt nặng hơn
h́nh phạt dự liệu bởi luật áp dụng trong thời
gian phạm pháp. Tuy nhiên
bị cáo có thể được hưởng h́nh phạt
nhẹ hơn chiếu theo các điều
khoản của luật mới ban hành.
8)
Quyền Được Coi Là Con Người Có Tư Cách
Pháp Nhân Trước Pháp Luật Và Được B́nh Đẳng
Trước Pháp Luật
(Right to Juridical Personality and Right to Equal Protection) (điều
6, 7 TNQTNQ, điều 16, 26 CUDSCT)
Nhân
quyền quan trọng hơn hết là quyền được
công nhận tại bất cứ ở đâu, là một con
người có tư cách pháp nhân trước pháp luật và được
pháp luật đối xử b́nh đẳng (dầu là công
dân hay không công dân, dầu có chính kiến khác biệt với
chính sách của nhà cầm quyền v.v...)
NHÂN QUYỀN BẬC
2:
QUYỀN
AN CƯ VÀ LẠC NGHIỆP
Quyền
an cư và lạc nghiệp bao gồm hai
loại nhân quyền:
I
- QUYỀN AN CƯ:
Gồm những quyền dân sự cho phép con
người được sinh sống yên ổn trong xă hội.
II
- QUYỀN LẠC NGHIỆP:
Gồm những quyền kinh tế xă hội
và văn hoá giáo dục cho phép con người sinh hoạt và
phát triển để mưu cầu hạnh phúc cho bản
thân và gia đ́nh.
Những
quyền dân sự gồm
có quyền được có đời sống riêng tư,
quyền tự do đi lại và cư trú, quyền tị
nạn, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc
tịch, quyền kết hôn lập gia đ́nh, và quyền sở
hữu.
Những
quyền kinh tế xă hội
gồm có quyền làm việc, quyền tự do nghiệp đoàn
và quyền đ́nh công, quyền an sinh xă
hội, quyền bảo vệ gia đ́nh, quyền có mức
sống khả quan, quyền y tế về thân thể và
tinh thần v.v...
Những
quyền văn hoá giáo dục
gồm có quyền được hưởng giáo dục,
quyền được sinh hoạt văn hoá, quyền được
bảo vệ tác quyền v.v...
Đối
với các cộng đồng thiểu số về
chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ, Luật Quốc Tế
Nhân Quyền bảo đảm cho họ quyền được
hưởng văn hoá cổ truyền, được truyền
giáo và hành đạo và được sử dụng tiếng
nói riêng của họ (điều 27 CUDSCT)
I
- QUYỀN AN CƯ:
9)
Quyền Riêng Tư (Right to
Privacy) (điều 12 TNQTNQ và điều 17 CUDSCT)
Không
ai có thể bị xâm phạm trái phép vào đời tư,
gia đ́nh, nhà ở hay thư tín, hoặc
bị xúc phạm đến danh dự và phẩm giá. Luật
pháp bảo vệ con người chống lại những
xâm phạm nói trên.
Từ
thế kỷ 13 khi Đại Hiến Chương Magna
Carta được ban hành, người Anh thường
nói: "Căn nhà của chúng tôi có thể dột nát, mưa
gió có thể lọt vào, nhưng vua chúa và công an cảnh sát
th́ không được vào!". Tại
Việt Nam ngày nay, những biện pháp quản chế hành
chánh (administrative internment) cho phép công an xâm phạm đến
danh dự, phẩm giá, đời tư, nhà ở, thư
tín của công dân đă hiển nhiên vi phạm nhân quyền,
v́ nạn nhân không phạm tội ǵ, không bị truy tố
ra toà và vẫn được suy đoán là vô tội.
10)
Quyền Tự Do Đi Lại Và Cư Trú (Freedom of Movement and Residence) (điều 13
TNQTNQ và điều 12 CUDSCT)
Ngoài
quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi
cư trú trong nước, người dân c̣n được
quyền xuất ngoại và hồi hương. Tháng 8/1997,
Liên Hiệp Quốc công bố bản phúc tŕnh lên án Bắc
Hàn vi phạm quyền Tự Do Đi Lại và Tự Do Cư
Trú v́ đă cấm người dân ra khỏi nước và
cũng không cho phép người dân từ ngoại quốc
trở về Bắc Hàn. Phẫn chí, Bắc Hàn rút ra khỏi
Công Ước Dân Sự và Chính Trị Liên Hiệp Quốc
(và mặc nhiên rút khỏi cộng đồng các quốc
gia văn minh)
Cũng
như các nhân quyền khác, quyền tự do đi lại
và cư trú chỉ có thể bị hạn chế theo luật,
mục đích để bảo vệ an ninh quốc gia, trật
tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo
lư hay quyền tự do của người khác (điều
29 khoản 2 TNQTNQ và điều 12 khoản 3 CUDSCT). Trên thực
tế, tại các quốc gia không theo chế
độ tam quyền phân lập, các cơ quan tư pháp và
lập pháp thường lệ thuộc vào chính phủ; những
hạn chế nhân quyền chỉ là những vi phạm
nhân quyền khéo che đậy và được diễn ra
thường hằng tại các quốc gia chuyên chế và ấu
trĩ.
11)
Quyền Tị Nạn
(Right to Asylum) (điều 14 TNQTNQ)
Trong
trường hợp bị chính quyền ngược đăi,
đàn áp hay bị đe doạ truy tố v́ những hành vi
chính trị, người dân có quyền t́m kiếm và hưởng
quyền tị nạn tại các nước khác. Những
ai bị đàn áp v́ lư do chủng tộc hay tôn giáo cũng
có thể được hưởng quyền này.
Các Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc
không đề cập đến quyền tị nạn (do
áp lực và thỏa hiệp với các nước CS Âu
Châu). Tuy nhiên nhiều
quốc gia đă kư kết những Công Ước quốc
tế khác trong đó quyền tị nạn vẫn được
thừa nhận. Vả lại nếu đă
có Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc th́ cũng phải
có quyền tị nạn. Tại Âu Châu, các chính phủ
có quyền hạn chế các hoạt động chính trị
của dân tị nạn. Trong mọi trường hợp,
các thường trú nhân hợp pháp không thể bị trục
xuất về nguyên quán nơi mà mạng sống và tự
do của họ bị đe doạ v́ lư do chính kiến, sắc
tộc, tôn giáo hay thành phần xă hội. (điều
13 CUDSCT) Mọi quyết định trục
xuất tập thể một số ngoại kiều đều
bị cấm đoán.
12)
Quyền Có Quốc Tịch
(Right to Nationality) (điều 15 TNQTNQ)
Chiếu công pháp quốc tế, ai cũng có
quyền có quốc tịch tại nơi sinh quán của
ḿnh. Ngoài ra nếu
cha mẹ có quốc tịch ngoại quốc, các con cũng
được quyền mang quốc tịch của cha mẹ.
Không ai có thể bị tước quốc tịch
nguyên thủy tại nơi sinh quán. Nếu
sinh sống tại ngoại quốc và hội đủ điều
kiện, các thường trú nhân có quyền thay đổi
quốc tịch (quốc tịch là một khái niệm hành
chánh, không có ư nghiă như tổ quốc).
Các
Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc
không đề cập đến quyền có quốc tịch
của con người (do áp lực của các nước Cộng
Sản Âu Châu). Đây là một "nghịch lư"
(juridical anomaly) xuất phát từ những thỏa hiệp
chính trị nhất thời (thêm một thí dụ về nghịch
lư: chim không biết bay!). Đă đến lúc
nhân loại văn minh tu chính lại nghịch lư này trong các
công ước nhân quyền.
13)
Quyền Kết Hôn và Lập Gia Đ́nh (Right of the Family) (điều 16 TNQTNQ và điều
23, 24 CUDSCT)
Các
thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn đều có
quyền kết hôn và lập gia đ́nh do sự thuận
t́nh của đôi bên.
Gia
đ́nh được công nhận là đơn vị tự
nhiên và căn bản của xă hội và phải được
xă hội và quốc gia bảo vệ. Điều
24 CUDSCT quy định quyền b́nh đẳng của các
con (không phân biệt chính thức hay ngoại hôn), được
quyền có quốc tịch và mang tên họ của cha/mẹ.
14)
Quyền Sở Hữu
(Right to Property) (điều 17 TNQTNQ)
Cũng như quyền tị nạn, quyền
có quốc tịch và sở hữu không được ghi
trong các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp
Quốc. Đây
cũng là một "nghịch lư" cần phải
tu chính. Quyền sở hữu có lẽ là quyền tự
nhiên mạnh nhất của con người (trẻ em cầm
đồ chơi trong tay, nếu ai giật
đi, nó sẽ phản kháng bằng những vơ khí mạnh
nhất của nó: la hét và nước mắt). Có sờ hữu mới có động cơ cố
gắng làm việc tạo nên tiến bộ và phát triển.
Về mặt lư thuyết, quyền sở hữu là sự
phản chiếu của quyền tự do từ b́nh diện
tinh thần xuống b́nh diện kinh tế xă hội. Quyền sở hữu không phải là sự đánh
cắp như Mác cố t́nh hiểu lầm. Sự truất
hữu tập sản hoá mới chính là sự đánh cắp!
Nó đă làm cho một nửa nhân loại lâm
vào cảnh điêu linh đói khổ trong suốt nửa thế
kỷ vừa qua.
Quyền
sở hữu có tính cách vật chất (kinh tế) như
nhà cửa, xe cộ, đồ đạc,
quần áo, tiền bạc (tiêu thụ) hay tiền vốn (đầu
tư buôn bán). Nó cũng có tính cách tinh thần (kỹ
thuật hay văn hoá) như nghề chuyên môn, công tŕnh phát
minh khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật, vốn
trí thức (viết văn, dạy học) v.v... (intellectual, literary and artistic property).
Tuyên
ngôn Quốc Tế Nhân Quyền viết: "Ai cũng có
quyền sở hữu, hoặc riêng rẽ hoặc chung nhau (hùn vốn lập hội). Không ai có thể bị tước đoạt tài
sản một cách độc đoán."
Từ
1789 các nhà Cách Mạng Dân Quyền Pháp đă nhận định
trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền như sau: "Quyền
có tài sản là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm
phạm. Nó không thể bị nhà cầm quyền truất hữu
dù có lư do lợi ích công cộng, nếu không có sự bồi
thường thỏa đáng từ trước khi truất
hữu."
Các Công Ước Mỹ Châu, Âu Châu, và Phi Châu cũng
quy định quyền được hưởng dụng
tài sản (sau khi đóng thuế cho quốc gia). Sự cho vay lăi nặng và chế độ
"người bóc lột người" phải bị
cấm chỉ theo luật.
Quốc
gia phải tạo cơ hội cho mỗi người dân
có một căn nhà để cư ngụ, có sở ruộng
hay nghề chuyên môn để sinh sống hay có một số
vốn để buôn bán hay đầu tư. Quyền sở
hữu như vậy có cả tác dụng an
cư và lạc nghiệp.
II
- QUYỀN LẠC NGHIỆP
Tiếp
theo những Quyền An Cư (quyền
dân sự) là những Quyền Lạc Nghiệp (quyền
kinh tế xă hội và văn hoá giáo dục). Những
quyền này được ghi chép trong TNQTNQ và được
phát triển bởi Công Ước Liên Hiệp Quốc về
những quyền Kinh Tế Xă Hội và Văn Hoá (CUKTXHVH).
15) Quyền Làm Việc
(Right to Work) (điều 23, 24 TNQTNQ và điều 6, 7
CUKTXHVH).
Ai
cũng có quyền làm việc, được tự do lựa
chọn việc làm để bảo đảm kinh tế
cho ḿnh và gia đ́nh ḿnh. Các quốc gia hội viên sẽ từng
bước hoạch định các chương tŕnh công
tác, kỹ thuật, hướng nghiệp và huấn nghệ
để đạt tới sự toàn dụng nhân công chống
nạn thất nghiệp, trong điều kiện những
quyền tự do chính trị và kinh tế căn bản của
cá nhân được tôn trọng.
Các
quốc gia hội viên, do sự san định luật pháp,
sẽ tạo những điều kiện lao
động thuận lợi để làm việc như
sau:
a) Trả
lương tương xứng và công bằng không phân biệt
đối xử (nam nữ) đủ để bảo đảm
cho đương sự và gia đ́nh một đời sống
xứng đáng với nhân phẩm, và nếu không đủ,
sẽ bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ
xă hội khác.
b) Tạo
những điều kiện làm việc an toàn để bảo
vệ sức khỏe và tránh tai nạn
lao động.
c) Tạo
cơ hội thăng tiến đồng đều căn
cứ vào thâm niên (kinh nghiệm) và khả năng chuyên môn.
d) Quy
định quyền nghỉ ngơi và giải trí, ấn định
hợp lư số giờ làm việc trong tuần (căn cứ
vào năng suất và sức khỏe), kể cả thời
gian nghỉ định kỳ thường niên có trả lương
và các ngày nghỉ lễ có trả lương.
16) Quyền Tự Do Nghiệp Đoàn và Quyền
Đ́nh Công (Right to Trade Union
and Right to Strike) (điều 23 khoản 4 TNQTNQ và điều
8 CUKTXHVH).
Ai
cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập
nghiệp đoàn để bảo vệ và gia tăng quyền
lợi nghề nghiệp của ḿnh (Hiệp Ước Lao
Động Quốc Tế năm 1948)
Quyền
đ́nh công được công nhận theo
luật. Sự hành xử các quyền nói trên có thể bị
đ́nh chỉ đối với các giới quân nhân, công chức
và cảnh sát.
17)
Quyền An Sinh Xă Hội (Right
to Social Security) (điều 22 TNQTNQ và điều 9 CUKTXHVH)
Là
một thành viên của xă hội, ai cũng được
quyền hưởng an sinh xă hội và bảo
hiểm xă hội. Chế độ này bảo đảm đời
sống của người dân khi bị thất nghiệp,
đau ốm, tật nguyền, hậu sản, già yếu,
hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh
ngoài ư muốn (tai nạn, thiên tai v.v...).
Chế độ an sinh xă hội được thiết lập
từng bước tùy theo khả năng
kinh tế tài chánh của quốc gia, thông qua những cố
gắng quốc gia và hợp tác quốc tế phù hợp với
sự tổ chức và tài nguyên của mỗi nước.
18) Quyền Bảo
Vệ Gia Đ́nh
(Protection of the Family) (điều 25 khoản 2 TNQTNQ và điều
10 CUKTXHVH)
Như
đă tŕnh bày ở trên, gia đ́nh là một đơn vị
tự nhiên và căn bản trong xă hội nên phải được
xă hội và quốc gia bảo vệ. Gia đ́nh
góp phần quyết định vào việc giáo dục và
nuôi dưỡng trẻ em.
Quốc
gia đặc biệt nâng đỡ các sản phụ và thiếu
nhi. Phụ nữ đi làm được
phép nghỉ có trả lương một thời gian trước
và sau khi sanh. Các thiếu nhi không được
làm các công việc nguy hiểm hay phương hại đến
sức khỏe, đạo lư, hay sự phát triển b́nh thường
của tuổi trẻ. Vi phạm các điều
này sẽ bị truy tố về tội h́nh sự. Quốc
gia phải ấn định tuổi tối thiểu cho
các thiếu nhi tham gia lao động (như
trong các ngành hỏa xa, quân lực v.v...).
19)
Quyền Có Đời Sống Khả Quan (Right to an Adequate Standard of Living) (điều
25 TNQTNQ và điều 11 CUKTXHVH)
Ai
cũng có quyền được hưởng một mức
sống khả quan cho bản thân và gia đ́nh, nhất là về
thức ăn, quần áo, nhà ở. Mức sống này sẽ
được nâng cao liên tục thông qua các cố gắng
quốc gia và hợp tác quốc tế cũng như các tiến
bộ và phát minh về khoa học kỹ thuật trong việc
sản xuất, tồn trữ và phân phối thực phẩm,
sự phổ biến các kiến thức về dinh dưỡng,
phát triển và canh tân nông nghiệp v.v... Trên phạm vi vĩ mô, thế giới phải tiến tới
sự phân phối công bằng và hợp lư các thực phẩm
giữa các quốc gia sản xuất nông phẩm và các quốc
gia nhập cảng (Tổ chức Lương Nông Quốc
Tế đă được thành lập). Năm
1974 Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc khuyến
cáo các quốc gia hội viên tiến tới việc thành lập
một "trật tự kinh tế thế giới mới"
(new international economic order) để làm giảm bớt những
bất công và bất b́nh đẳng giữa các quốc gia
tiên tiến (Âu Mỹ) và các quốc gia đang phát triển
(Á Phi). Năm 1977 Đại Hội Đồng lại
khẳng định rằng: "một trật tự
kinh tế thế giới mới là yếu tố thiết
yếu để tuyên dương hữu hiệu nhân quyền
và các quyền tự do căn bản của con người".
20)
Quyền Y Tế (Right to
Health) (điều 25 TNQTNQ và điều 12 CUKTXHVH)
Sức khỏe phải được hiểu
là sức khỏe thân thể và sức khỏe tâm thần. Nhiều quốc gia Âu Mỹ đă
tiến tới chế độ y tế miễn phí. Tổ chức Y Tế Quốc Tế được
thành lập để thúc đẩy sự thực thi quyền
y tế. Trong phạm vi này, các quốc gia phải từng
bước hoạch định những chương tŕnh
chăm sóc sản phụ và hài nhi, giảm bớt tỷ lệ
tử vong của trẻ sơ sinh và bảo vệ sức
khỏe cho hài nhi, phải cải thiện môi trường
sinh sống nhất là trong các khu vực kỹ nghệ và đông
dân cư, phải ngăn ngừa và bài trừ các bệnh dịch
tễ, truyền nhiễm, phải cung cấp thuốc men
và chăm sóc các bệnh nhân v.v...
Như
bà Eleanor Roosevelt, chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Liên
Hiệp Quốc đầu tiên đă nhận định:
"Trên thực chất, những quyền tự do trên
toàn cầu chỉ có ư nghiă nếu những quyền thiết
yếu của con người được tôn trọng tại
những nơi nhỏ bé ngay gần nhà, trong khu phố hay
thôn xóm nơi họ cư ngụ, trong trường học,
xưởng thợ, đồng ruộng hay văn pḥng. Tại
những nơi này, đàn ông, đàn bà và trẻ em đứng
lên đ̣i B́nh Đẳng, Công Lư và Phẩm Giá ngang nhau, không
phân biệt kỳ thị. Nếu những quyền này không
có giá trị thực sự tại những nơi này, th́
chúng cũng chẳng có giá trị ǵ ở bất cứ nơi
nào khác. Nếu các công dân không đ̣i để
các quyền này được tôn trọng ngay gần nhà họ,
th́ không thể có tiến bộ nhân quyền trên thế giới".
21)
Quyền Giáo Dục (Right to
Education) (điều 26 TNQTNQ và điều 13, 14 CUKTXHVH)
Ai cũng có quyền được hưởng
giáo dục.
Giáo dục phải nhằm phát huy nhân cách và
nhân phẩm, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền
và những quyền tự do căn bản, cho phép con người
tham gia sinh hoạt trong một xă hội tự do, đề
cao t́nh thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc
gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng
thời yểm trợ các nỗ lực của Liên Hiệp
Quốc trong việc duy tŕ hoà b́nh thế giới.
Giáo dục sơ đẳng
có tính cách cưỡng bách và miễn phí. Các quốc gia phải lập các chương
tŕnh hành động trong ṿng 2 năm kể từ ngày Công Ước
có hiệu lực để, trong một thời gian hợp
lư, kiện toàn chương tŕnh giáo dục sơ đẳng
cưỡng bách và miễn phí.
Giáo dục trung đẳng kể
cả các ngành phổ thông, kỹ thuật và huấn nghệ
phải được phổ cập và tiến dần đến
miễn phí.
Giáo dục cao đẳng được phổ
cập b́nh đẳng cho mọi sinh viên, chỉ căn cứ
vào khả năng làm tiêu chuẩn nhập học, và cũng
phải tiến dần đến miễn phí.
Giáo dục tráng niên được
khuyến khích và phổ cập cho những người chưa
tốt nghiệp tiểu học.
Hệ thống giáo dục các
cấp phải được tích cực phát triển, đồng
thời cải thiện các điều kiện giảng huấn
và đăi ngộ các nhân viên giảng huấn.
Cha mẹ được quyền tự do lựa
chọn giáo dục cho các con kể cả về đạo
lư và tín ngưỡng.
22)
Quyền Văn Hoá (Right to
Culture) (điều 27 TNQTNQ và điều 15 CUKTXHVH)
Các
quốc gia hội viên và kết ước công nhận cho mỗi
người:
a) Quyền
được tham gia vào đời sống văn hoá.
b) Quyền
được hưởng những lợi ích của những
tiến bộ khoa học kỹ thuật.
c) Các
tác giả được bảo vệ những quyền lợi
tinh thần và vật chất phát sinh từ những công
tŕnh phát minh hay sáng tạo về khoa học hay văn học
nghệ thuật của họ.
Các quốc gia phải định chế hoá sự
bảo vệ tác quyền và phải góp phần vào việc
bảo tồn, phát triển và phổ biến các công tŕnh văn
hoá và các tiến bộ khoa học.
Các
quốc gia cam kết tôn trọng quyền tự do nghiên cứu
khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật.
Sự
kết ước và hợp tác quốc tế trong phạm vi khoa học và văn hoá sẽ đem lại
lợi ích chung cho mọi quốc gia dân tộc.
NHÂN QUYỀN BẬC
3:
QUYỀN
TỰ DO DÂN CHỦ
(Những
Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị)
Năm 1948 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
được 48 quốc gia chấp thuận. Năm 1966 hai Công Ước Quốc Tế
Nhân Quyền đă được hơn 100 quốc gia kư kết
để 10 năm sau co hiệu lực chấp hành. Công Ước Kinh Tế, Xă Hội Văn Hóa dành
10 điều cho các quyền kinh tế xă hội và văn
hoá giáo dục. Công Ước Dân Sự Chính Trị chỉ
dành 5 điều cho các quyền tự do tinh thần và tự
do chính trị, như tự do tôn giáo, tự do tư tưởng,
tự do phát biểu quan điểm, tự
do hội họp và lập hội và quyền tham gia chính quyền.
Tuy nhiên đây là những quyền tối quan trọng như
tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tôn giáo là những quyền không thể
bị thâu hồi hay đ́nh chỉ dầu trong trường
hợp quốc gia ban hành t́nh trạng chiến tranh hay khẩn
trương. Các tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm là
những nạn nhân của các chính quyền độc đoán
đă vi phạm những quyền tự
do chính trị và tự do tinh thần ghi trong Công Ước
Quốc Tế cũng như trong hiến pháp và luật pháp
quốc gia. Nhưng dầu vi phạm, họ
vẫn chối căi. Họ c̣n không thừa nhận
có tù nhân chính trị. Họ giải thích rằng các tù
nhân này đă được toà án thường
tụng xét xử nên đă trở thành tù thường phạm.
Chủ trương như vậy, họ đă
phủ nhận tư cách tù nhân chính trị của các nhà tiền
bối của họ bị bắt giam về các tội phản
nghịch hay phá rối trị an. Họ đă lầm lẫn
thủ tục với tội danh.
23)
Tự Do Lương Tâm và Tự Do Tôn Giáo (Freedom of Conscience and Religion) (điều 18
TNQTNQ và điều 18 CUDSCT)
Quyền
tự do tôn giáo bao gồm quyền thờ phượng, quyền
truyền giáo, và hành đạo cũng như quyền thay đổi
tôn giáo. Thờ phượng và truyền bá tín ngưỡng
có thể diễn ra tại các nơi công cộng hay tại
nhà riêng, có tính cách tập thể hay riêng tư.
Cũng như các quyền tự do khác như tự do phát
biểu quan điểm, tự do hội họp và lập hội,
tự do đi lại, tự do xuất
ngoại v.v... việc hành xử quyền tự do tôn giáo chỉ
có thể bị giới hạn theo luật để bảo
vệ các quyền và tự do của người khác, đáp
ứng nhu cầu chính đáng về đạo lư, trật
tự công cộng, an ninh quốc gia, sức khỏe công cộng
và phúc lợi chung trong một xă hội dân chủ. (điều 29 TNQTNQ và điều 12, 18, 19, 21,
và 22 CUDSCT)
Như
đă quy định ở điều 13 CUKTXHVH về quyền
tự do giáo dục, cha mẹ và phu huynh được lựa
chọn trường học được lựa chọn
trường học cho con em, kể cả việc giáo dục
về tôn giáo và đạo lư theo tín ngưỡng của gia
đ́nh.
24)
Tự Do Tư Tưởng và Phát Biểu Quan Điểm (Freedom of Thought and Expression) (điều 18, 19
TNQTNQ và 19 CUDSCT)
Ai
cũng có quyền tự do tư tưởng và phát biểu
ư kiến của ḿnh, được quyền tự do giữ
vững quan điểm mà không bị người khác can thiệp.
Ai cũng có quyền t́m kiếm, tiếp nhận
và phổ biến tin tức và ư kiến về mọi vấn
đề, bằng mọi phương tiện truyền
thông không phân biệt biên giới quốc gia. Tuy nhiên
quyền tự do phổ biến tin tức và phát biểu
quan điểm cũng bị hạn chế theo
luật như quyền truyền bá tôn giáo và hành đạo.
Như
Tuyên Ngôn về Quyền Con Người và Quyền Công Dân
Pháp đă quy định từ cuối thế kỷ 18,
"quyền tự do phát biểu quan điểm là một
quyền cao quư nhất của con người. Công dân có quyền
nói, viết và in ấn tự do và chỉ chịu trách nhiệm
khi có sự lạm dụng tự do trong những trường
hợp luật định." Nghiă là ai cũng
có quyền phát biểu tin tức, ư kiến, lập trường
bằng tài liệu mà không phải kiểm duyệt trước
(prior censorship). Nghiă là công dân được quyền tự
do ra báo, in sách, phát truyền đơn mà không cần phải
xin phép xuất bản. Trong trường hợp việc
hành xử quyền này vi phạm luật
pháp như:
a) Xâm
phạm quyền lợi hay danh dự người khác,
b) Xâm
phạm an ninh quốc gia, trật tự
công cộng, sức khỏe công cộng, thuần phong mỹ
tục v.v... các cơ quan tư pháp hay nạn
nhân có quyền truy tố đương sự ra toà án về
mặt h́nh sự hay dân sự để trả lời về
trách nhiệm của họ. (subsequent
liability)
Các
đạo luật báo chí c̣n dự liệu cho nạn nhân
Quyền Trả Lời (Right of Reply), bắt buộc các cơ
quan ngôn luận vi phạm quyền lợi và xúc phạm danh
dự của nạn nhân phải đăng tải bài trả
lời theo những điều kiện tương xứng
với bài báo đă phổ biến. Dầu sao quyền trả
lời không có hiệu lực miễn trừ cho người
phạm luật những h́nh phạt hay những khoản bồi
thường thiệt hại do toà án quyết
định. Liên Hiệp Quốc nhận định rằng
với trật tự xă hội và trật tự quốc tế
mới, đại gia đ́nh nhân loại chỉ có thể được
hưởng Tự Do, Ḥa B́nh và Công Lư nếu các quốc gia
và cá nhân biết đối xử với nhau trong t́nh huynh đệ,
hữu nghị, b́nh đẳng, ôn ḥa, và hợp tác. Do đó
các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền cấm lạm
dụng quyền tự do phát biểu quan điểm để
tuyên truyền cổ vơ chiến tranh, kích thích bạo động,
gieo rắc thù hận và kỳ thị giữa các quốc
gia, các chủng tộc, và các tôn giáo. (điều 20 CUDSCT)
25)
Tự Do Hội Họp và Lập Hội (Right of Assembly and Freedom of Association) (điều
20 TNQTNQ và điều 21, 22 CUDSCT)
Ai cũng có quyền hội họp một
cách hoà b́nh. Quyền
tập hợp ôn ḥa không bạo động và không vơ trang được
các quốc gia thừa nhận, như tham dự các cuộc
biểu t́nh, tuần hành để bày tỏ quan điểm
và nguyện vọng, hay để phản kháng những vi phạm về quyền con người và
quyền công dân. Quyền tập hợp v́ lư do chính trị,
văn hoá kinh tế, xă hội cũng được tôn trọng
như quyền tập hợp để thờ phượng,
truyền giáo và hành đạo. Những giới hạn ghi
trên của quyền tự do tôn giáo cũng áp dụng cho việc
hành xử quyền tự do chính trị.
Ai
cũng có quyền tự do lập hội để cùng theo đuổi những mục tiêu về ư
thức hệ, tôn giáo, chính trị (thành lập chính đảng),
kinh tế, lao động, (thành lập nghiệp đoàn),
xă hội, văn hoá, thể thao v.v...
Quyền
lập hội có thể bị hạn chế theo luật đối với các thành phần
quân nhân và cảnh sát. Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền
Liên Hiệp Quốc (1966) và Công Ước Nhân Quyền Âu
Châu (1950) c̣n mở rộng sự hạn chế này đến
với giới công chức quốc gia. Công Ước
Nhân Quyền Mỹ Châu (1969) không cấm công chức tham gia đảng
phái.
Quyền
tự do lập hội lên án chế độ
độc đảng. Nó không cho phép một
chính đảng nào được độc quyền sinh
hoạt trong đời sống chính trị quốc gia.
26)
Quyền Tham Gia Chính Quyền
(Right to Participate in Government) (điều 21 TNQTNQ và điều
25 CUDSCT)
Các
công dân được hưởng quyền và cơ hội
b́nh đẳng để tham dự vào chính quyền quốc
gia, hoặc trực tiếp (bằng cách ứng cử) hay
gián tiếp qua trung gian các đại biểu do họ tự
do lựa chọn (bằng bầu cử). Những cuộc
tuyển cử phải được tổ chức theo từng định kỳ bằng phương
thức phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và
kín để quyền tự do lựa chọn của cử
tri được tôn trọng. Ư nguyện của quốc
dân phải được coi là căn bản của mọi
quyền lực quốc gia. Ư nguyện này phải được
biểu lộ trung thực qua các cuộc tuyển cử tự
do và công bằng.
Những
điều kiện ứng cử vào các chức vụ công
cử được quy định trong các đạo luật
tuyển cử căn cứ vào tuổi, quốc tịch, cư
trú, tư pháp lư lịch v.v...
Quyền b́nh đẳng có cơ hội tham
gia công vụ không cho phép một chính đảng nào được
độc quyền lănh đạo quốc gia. Điều 4 Hiến Pháp Việt
Trong
các chế độ độc tài đảng trị, những
quyền tự do tinh thần và tự do chính trị thường
bị vi phạm thô bạo là những quyền tự do tôn
giáo, tự do tư tưởng, tự do phát biểu quan điểm,
tự do hội họp, tự do lập hội và quyền
b́nh đẳng cơ hội tham gia chính quyền. Các nạn
nhân bị giam giữ do việc hành xử các quyền tự
do tinh thần, tự do chính trị được Hội Ân Xá Quốc Tế vinh danh là tù nhân lương
tâm.
PHỤ ĐÍNH 1
CÁC ĐIỀU KHOẢN NHÂN QUYỀN
TRONG HIẾN CHƯƠNG LIÊN HIỆP QUỐC (1945)
Điều 1
Những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc
là:
1.
Duy tŕ ḥa
b́nh và an ninh thế giới.
2.
Phát triển
tương quan hữu nghị giữa các quốc gia đặt
căn bản trên sự tôn trọng nguyên tắc b́nh đẳng
quyền lợi và quyền dân tộc tự quyết, cùng
thi hành mọi biện pháp thích nghi để củng cố
ḥa b́nh thế giới.
3.
Đạt
tới sự hợp tác quốc tế nhằm giải quyết
những vấn đề kinh tế, xă hội, văn hoá,
hay nhân đạo, và phát huy, khuyến khích sự tôn trọng
nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho
tất cả mọi người không phân biệt chủng
tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.
Điều 55
Nhằm mục đích đạt được
những điều kiện về ổn định và
phúc lợi cần thiết cho việc thiết lập những
tương quan ḥa b́nh và hữu nghị giữa các quốc
gia đặt căn bản trên sự b́nh đẳng quyền
lợi và quyền dân tộc tự quyết, Liên Hiệp Quốc
đề xướng thực thi:
a.
Một mức
sống cao hơn, sự toàn dụng nhân công và tạo những
điều kiện tiến bộ và phát triển về
kinh tế xă hội
b.
T́m kiếm
những giải pháp cho những vấn đề kinh tế
xă hội và văn hóa, thực thi sự hợp tác quốc
tế về văn hóa và giáo dục, và
(c) Tôn trọng và thực thi
trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự
do căn bản cho tất cả mọi người
không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay
tôn giáo.
Điều 56
Các Quốc Gia Hội Viên cam kết, bằng
những hành động riêng rẽ hay phối hợp, sẽ
cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực
hiện những mục tiêu ghi trong điều 55 nói trên
Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG
Luật sư Nguyễn Hữu
Thống đă hành nghề luật sư tại Việt
Nguyên Đệ Nhất Phó Chủ
Tịch Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng
Ḥa (1966-67) và Giáo Sư môn chính trị học tại đại
học Đà Lạt (1974-74).
Luật sư Nguyễn Hữu Thống là Chủ
Tịch sáng lập Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân
Quyền và là Chủ Tịch Hội Luật Gia Việt
Ngoài các hoạt động trong lănh vực luật
pháp, Luật sư Nguyễn Hữu Thống c̣n là một
cây viết được nhiều người biết đến
qua bút hiệu Nhuệ Hồng. Các tác phẩm đă xuất
bản gồm có Chủ Nghiă Dân Chủ Xă Hội
(1957), Lá Thư Miền Nam (1958), Những Chuyến Đi
(1959), Nền Dân Chủ Trong Các Tân Quốc Gia (1960), Truyện
Ṭa Án (1962), và Nho Học Giản Dị (1966). Tác phẩm
hoàn tất nhưng chưa xuất bản gồm có Xử
Án Vương Thuư Kiều (1972) và Thư Gửi Bạn
Trung Niên (1988) và Cẩm Nang về Nhân Quyền (1998)
Trich tu: http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill.htm