Huyết Hoa
do Gió Ðáy thuộc Duy Dân Học
Xã
xuất bản lần thứ nhất tại Sài Gòn,
Việt Nam
ngày 7 tháng 10 năm 1969 (Kỷ Dậu 4848 tuổi Việt)
LỜI
NÓI ÐẦU
Những
bản văn trong tuyển tập này thuộc loại tiểu
luận rút trong bộ Nhã của Thư Ký Trưởng
Duy Dân Ðảng Lý Ðông A viết trong khoảng thời
gian 1940-1945, giữa lúc Ðệ Nhị Thế Chiến
đang tiếp diễn và các phong trào dân tộc vận
động tự chủ đang lên cao.
Lịch sử nhân loại phát
triển bắt đầu đi vào một chiều hướng
mới
Những bản văn này xác
định chiều hướng đó trong sự nhận
định tình thế thế giới và thời đại
với con mắt của một lịch sử tiến hóa
sử quan và bằng một công cụ nhận thức
là "Duy Dân biện chứng" (Xuân Thu).
Từ những nhận định
đó, một sứ mạng dân tộc và thời đại
được đề ra cho người Việt yêu nước
giàu lòng hy sinh lại vốn có một truyền thống
đấu tranh chống áp bức và chia rẽ.
Trên nền tảng của thời
đại, làm công việc khơi dòng lịch sử, người
Việt phải "Sống Tái Sinh" trong một
tinh thần mới, với nếp nghĩ và nếp làm mới
(Bông Lau). Người Việt bước lên "Bồn
gột rửa", trút bỏ mọi thành kiến,
quay trở về kín gánh trong đáy hồn của lịch
sử dân tộc sức sống và sức đấu
tranh tâm lý (Thần Linh Học, Sử Hồn).
Người Việt làm cách mạng
nghĩa là làm "Công việc xoay đổi thời
đại" không thể không biết đến
những thành bại của những cuộc cách mạng
đã đánh dấu vào lịch sử tiến hóa của
nhân loại, để rút lấy những bài học "máu"
(Huyết
Hoa). Bởi dân tộc là nhiều nhưng nhân loại
là một, loài người xưa và nay vẫn "lướt
mướt theo đuổi thực hiện một mẫu
mực người lý tưởng trong một mẫu mực
xã hội lý tưởng". Mỗi bước tiến
của nhân loại há chẳng là những bước Duy
Dân đấy ư trên con đường phục
hưng "con người"? trong mỗi xã
hội và ở mỗi thời đại riêng biệt?
Những bài học máu còn là đảm bảo cho cuộc
cách mạng Việt giữ được "Nhân
loại toàn tính".
Cách mạng Việt vì thế
phải là một công việc có sáng tạo tính, khoa học
tính, nhân đạo tính và biện chứng tính. Cách mạng
Việt còn là cả một thể hệ triết học
đấu tranh, thống nhất khoa học, triết học
và sử học, thống nhất lý luận và hành động.
Nhưng ở đây, chúng tôi
không làm công việc giới thiệu mà chỉ làm công
việc trao truyền. Mỗi bản văn trong tuyển tập
tự nó đã có những giá trị mà bạn đọc
tất nhận thấy.
Non ba mươi năm đã
trôi qua sau khi những bản văn được viết
ra. Thời gian không làm mất giá trị thực tiễn
của những bản văn đó đối với công
cuộc cách mạng và mở thời đại của dân
tộc chúng ta trên con đường sống còn và tiến
hóa. Trái lại, thời gian với kinh nghiệm sống
và tranh đấu càng làm nổi bật lên tính chất
đúng xác và cần thiết của những công việc
mà cách mạng phải làm, của con đường mà
cách mạng phải đi với những phương thức
và phương pháp mà cách mạng phải theo.
Nói như vậy không có nghĩa
là những bản văn trong tuyển tập này đã
chứa đựng toàn bộ một lý thuyết cách mạng
với một chủ trương dân tộc và thời
đại được vạch ra đầy đủ.
Nhưng mà qua những dòng chữ là đã hàm súc những
ý nghĩa căn bản trên thấm nhuần trong mỗi
lời văn và mỗi danh từ được xử dụng.
Chúng ta càng nhận thức
được sâu sắc bao nhiêu những ý nghĩa
đó là đã tự mình tiếp nối được
chắc chắn bấy nhiêu với truyền thống của
người Việt tranh đấu đời đời
cho sự khơi nguồn và mở dòng sống của
dân tộc.
Bởi qua những bản văn
đó dào dạt tình yêu nước thương nòi và
chan hòa lòng yêu thương nhân loại.
Bởi đây là kết tinh của
đau thương và tủi nhục. Dân tộc nào chịu
đựng nhiều hơn và lâu hơn dân tộc Việt
những tội ác của loài người? Và người
Việt nào không từng cảm thấy trong lòng như "chết
đau thương" trước những đau
khổ và tủi nhục của chính mình và đồng
loại?
Hoa sen nở trong bùn và Chúa lên
Câu Rút!
Ðó là những đóa nhân ái nở
trong lòng người Việt. Hoa nhân ái là hoa lý tưởng
của cách mạng Việt.
Loài người đã làm cho
thép nở hoa, hoa và nấm nguyên tử! Người Việt
chúng ta quyết đem lại cho loài người đóa
Huyết Hoa, đóa hoa máu còn gọi là "Ái
hoa" và "Trí Tuệ hoa".
Sao cho yêu thương được
chế độ hóa và thực tiễn hóa!
Sao cho toàn thể loài người
được hưởng hương thơm của hoa
nhân ái!
Ðó là lý tưởng hiện thực
trong việc làm của chúng ta trên con đường phụng
sự dân tộc và nhân loại. Mùa hạ năm Kỷ
Dậu.
Ta sống cả một muôn năm ở trong ta
Lấy sức ngầm đó đứng lên chuẩn
bị cho thời đại 2000.
Thái Dịch Lý Ðông A
CHÂN NGÔN
Cuộc Duy Dân Cách Mạng của
nòi Việt muốn là một "Kultur Kampf" cho
nhân loại nguyên tắc toàn thế giới. SỨ MỆNH
THANH NIÊN CÁCH MẠNG:
Mỗi thời đại trong dòng
sống của lịch sử hoạt động như
thế, phải có một tuổi ra cầm nắm lấy
sức chủ và làm cán cốt cho đời sống
chung hết thảy.
Mỗi thế hệ cũ phải
biết thời cơ lui về một bản vị có
ích chung. Mỗi thế hệ mới phải biết nắm
thời cơ tiến lên ngôi báu của thời đại
mới mà chỉ huy và làm tròn sứ mệnh mới.
Mỗi thế hệ dự bị
phải thâu tóm hết những trí tuệ và kinh nghiệm
cũ; trau giồi cho mình tất cả những điều
kiện cần yếu cho nhiệm vụ tương lai của
mình, để sắp sẵn ra nối liền dây tiến
hóa.
Chỉ có thế hệ thực
tiền tiến mới đủ đại biểu
được tương lai.
Chỉ có tầng cấp thực
đa số mới đủ đại biểu
được dân tộc.
Tương lai tỏ lộ trong
óc mới của thời đại và viễn kiến.
Thế hệ của thanh niên
và tầng cấp 98% của quốc dân Việt chính là
đáy tầng của dân tộc Việt.
Phải nắm giữ lấy sức
chủ của cách mạng, điều khiển được
sức phụ của cách mạng, kiến thiết và dự
liêu một văn minh mới.
Lấy vũ lực ra cứu quốc
nghĩa là đem sắt, lửa với máu mình ra tranh
đòi lấy chủ quyền của tự mình
được tự do, dùng ý chí của mình đối
với đất đai, dân chúng, việc làm, đường
đi và vận mệnh của tự mình. Không đổ
máu, tuyệt không xoay chuyển được thời
đại.
CÁCH MẠNG, CHÍNH TRỊ, LÃNH
ÐẠO:
Cố nhiên hoàn cảnh và kinh tế
xúc tiến cái biết nhưng mà cái biết phải
lãnh đạo hoàn cảnh và kinh tế. Lý luận phải
lãnh đạo được thực hành, mà thực
hành phải xúc tiến, chứng minh và tu chỉnh lý luận.
Lãnh tụ phải có ba đức
tính: Có thể là nhà lý luận đồng thời là
nhà hành động và nhà tổ chức, không thể thì
không được.
Nuôi tâm sinh thiên tài.
Nuôi óc sinh nhân tài.
Nuôi thân sinh nô tài.
Dân tộc ta cần những
thanh niên rất thuần túy và sung thực, đem ra làm
trọn vẹn hai tầng chức vụ của thời
đại là cách mạng và kiến thiết.
1.
HUYẾT HOA
CÁCH MỆNH
Hình thức của văn hóa
là sự phản ảnh của đời sống hiện
thực xã hội. Nội dung và kết cấu của văn
hóa, tự thân nó là tổng nghiệp của toàn thể
loài người trong dòng sống xã hội, lịch sử
và thời đại. Lịch sử loài người chép
ngòi bút của máu diễn tiến, mỗi sử ký lộ
ra mỗi đặc chứng văn hóa. Mỗi sử ký
kết tạo bằng một kiến trúc sử của
xã hội và quan niệm về kinh tế riêng biệt;
cái dây nối suốt mỗi diễn tiến của thời
đại, đồng thời còn là những quy luật
dẫn dắt cho sự diễn tiến của thời
đại kia là xã hội biện chứng. Xã hội diễn
tiến theo một biện chứng có khoa học tính,
phát triển, phát triển mãi; trong hoài bão của mỗi
xã hội thời đại từng dựng dục cái
lý tưởng của xã hội và thời đại
sau, tức là cái kết cấu hiện thực của
xã hội và thời đại sau.
Cách mạng là công cuộc xoay
đổi thời đại trên một giai đoạn
diễn tiến xoáy trôn ốc có nút đã đến ngày
thành thục của một lẽ sống hàm dưỡng
trong nút bế tắc, cần yếu có một bạo
đột thủ đoạn cởi mở cho dây diễn
tiến đi lên; ý nghĩa và tác dụng của cách mạng
là tu chỉnh và cải tiến xã hội cho sang
được một xã hội hợp lý hơn, hy vọng
hơn, được đi vào một con đường
hợp quy luật, hợp với nguyên tắc tiến
hóa, hợp với tương lai có dự biết trước
có một trông ngóng của lý tưởng hàm dưỡng
tự sâu xa. Mỗi công cuộc cách mạng sản sinh
ra một xuất lộ cho dân tộc, quốc gia và xã hội.
Khởi điểm của cách mạng đã dựng dục
từ trong bào thai của thời đại cũ, đó
là lý tưởng trong một quá trình tự nó tiến
triển để cho thành thục, thể hiện thực
hoàn toàn và y cứ vào hiện thực mà phát triển
tinh thần và nguyên tắc với tự do và sản sinh
ra một lực lượng đều hoàn toàn là kết
quả của hiện thực, tức là cái xuất lộ
của quốc gia dân tộc và xã hội đương
nhiên là sự kết hợp của nội tại và ngoại
tại mà thành một đường lối với một
hiệu quả dự cầu.
HUYẾT THAI
Cách mạng có văn hóa cách mạng. Cần phải
có một tinh thần siêu nhiên và tiềm tàng lãnh đạo
loài người cho kết hợp thành một sức lực
để đợi thời cơ thực hiện lấy
lý tưởng và nguyên tắc của cách mạng. Cuộc
cách mạng 1789 há chẳng phải uyên nguyên sâu sắc
mãi từ thế kỷ XVI, từ Diderot, Voltaire, Montesquieu,
Rousseau mà đi? Thế cho nên cách mạng phải có một
tinh thần chuẩn bị sẵn, một nguyên tắc tiềm
tàng sẵn, lại một phong khí tẩm nhuần sẵn,
nung nấu sẵn từ chủ quan đến phối hợp
với thời cơ và kích thích ở bên ngoài và để
nổ bùng ra trên một giai đoạn đã thành thục.
Xét nét lại sử cách mạng
và đặc chất với đặc chứng từng
thời kỳ giúp ích cho chúng ta mang khế hợp cái
truyền thống của dân tộc cách mạng với
nhu yếu của ngày nay cho thành một dân tộc chủ
trương thật thích hợp. Xét nét lại hết cả
những hoạt động về lý trí, ý chí và tình cảm
của cách mạng Việt trong suốt cái quá trình một
thế kỷ nay, tức là xét nét văn hóa của cách
mạng ta giúp ích cho tự ta kiến thiết lại một
văn hóa của cách mạng đi đôi với dân tộc
chủ trương.
Cho nên tất cả chủ trương
của Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ với dấu
tích của biến pháp vận động phải lục
lọi ra. Những văn tập tản mác của Sào
Còn phải phát quật lên "Anh
Khóa" với tất cả cái linh hồn của xã
hội cũ và nông thôn, biểu hiệu tự cường
vận động trong sâu cõi dân gian, "Chiêu Hồn
Nước", "Dạy Con", "Gọi Tỉnh
Quốc Dân" vân vân... chan chứa những phẫn
nộ ái quốc và những cái tiếc dân tộc tự
sâu trong đáy lòng của dân chúng. Những ca, vè, dân
dao, sấm ký, đào dưỡng cho lòng người một
lý tưởng, một cảm giác biết bao sâu xa, ngẫm
nghĩ, sáng láng, bởi đấy là những khúc hy vọng,
những khúc đau thương đọng ngừng lại
của cả một thế hệ của lịch sử
tinh thần. Những thi ca diễn giảng trong Ðông Kinh
Nghĩa Thục, những chiếu Cần Vương, phát
biểu tuyên ngôn, những gắng sức của những
nhà văn hóa muốn tái kiến lại cái mô hình của
toàn bộ lịch sử hùng tráng và vĩ đại của
dân tộc ta trong những cuộc dân tộc tinh thần
phục hưng vận động, đó là những tài
liệu có giá trị mà làm phong phú cái kho báu của văn
hóa chúng ta. Nó đều là Huyết Thai của văn
minh Duy Dân, kết tụ sâu sắc trong đáy tầng của
đời sống thuần túy quốc dân không đầu
hàng và thỏa hiệp. Nó là Huyết Thai của con
người Duy Dân mới.
HUYẾT NỤ
Một trăm năm cách mệnh Duy Dân đời nay
có một tinh thần và chủ trương nhất quán,
hằng biểu hiện ra bằng những tượng
trưng nào, ta vẫn có thể tìm thấy cái dây chỉ
đạo của lịch sử ở trong. Cái tinh thần
đó còn uyên nguyên từ cái để uẩn 5.000
năm sóng sống của nước nòi, từ đầu
sử đến bây giờ không dứt đấu tranh bằng
dân tộc cách mạng Duy Dân xiển dương cái tinh
túy ấy ra đem tiếp hợp lại, lại cái truyền
thống Tổ Tiên với tinh thần của hiện
đại, hoàn thành một cách mạng chủ nghĩa và
cách mạng văn hóa cho dân tộc trên con đường
đi lịch sử và mức tiến.
Tất cả học thuật, văn
hóa và nghệ thuật liên hợp lại thành một trận
tuyến tinh thần, xiển phát những lý tưởng
tình tự và ý chí cách mạng sáng tạo của dân tộc,
bằng huyết tính và sử tính tiến hành một
khúc nhịp Vạn Thắng với thời đại.
Tất cả học thuật,
văn hóa và nghệ thuật gắng sức đi tìm một
nội dung và hình thức kết hợp dung hòa hai cái lý
tưởng "hiện thực" hoàn thành một
mô hình của văn hóa tương lai cho dân tộc.
Vài nét nguệch ngoạc đó
đã vẽ xong cái Nụ Máu của văn minh mới
của Duy Dân đợi khai hoa.
BỒ ÐỀ
Thích Ca đã giác ngộ những nỗi khổ, sống,
chết, bệnh, già của toàn thể chúng sinh và luật
tàn ác vô thường thành, trụ, hoại không (sanh, trụ,
di, diệt) của vũ trụ. Thích Ca bằng một ý
chí không thầy và tự sức, tự lòng đại từ
bi, nhân ái, vô hạn lượng, phát nguyện lớn
lao cứu vớt cho toàn thể thế giới không trừ
thai sinh, thấp sinh, noãn sinh hay hóa sinh.
Thích Ca đã lịch lãm trong
ngoài Bà La Môn giáo. Thích Ca đã đau thương cái
truyền thống giai cấp, chia rẽ và đè nén của
Aryen, say sưa cứu vớt chúng sinh bắt đầu từ
làm cho Ấn Ðộ toàn dân được chân bình đẳng,
chân tự do và chân thân ái.
Thích Ca đã băng mình khỏi
nơi cao quý: Ta không vào địa ngục, ai vào địa
ngục?
Không vào địa ngục sao cứu vớt được
chúng sinh?
Thích Ca đã bảy năm
trường tịch mịch dưới gốc Bồ Ðề,
nan hành khổ hạnh khôn bằng và Thích Ca trong một
đêm đã triệt để giác ngộ.
Thích Ca từ đấy chân
đất, hở vai, cầm bát lang thang suốt cõi, xin
ăn, thuyết pháp và thu thập đồ đệ.
Hoa Sen không mọc trên núi cao. Chỉ có giai cấp Paria mới
kiến thiết được Phật Giáo. Những giai
cấp được ưu đãi không thể bàn nghị
tới được.
Cuộc Xã Hội cách mạng
đó, trước đi bằng triết học và tông
giáo Thích Ca đã chối bỏ hết luận sự thế
tục và xiển phát Bồ Ðề lớn.Ôi! Hết thảy
Ma giới ví như Phật giới nhất như! Sự
cởi mở hết tấm lòng chấp trước
(đắm đuối) của mình là công việc phải
trừ hết nhân duyên, phiền não; quân địch chính
của ba giới (sắc giới, vô sắc giới, dục
giới) vạn pháp duy thức là vô minh.
Chỉ có giác ngộ Ðạt Ma
mới có thể mang đến cho mọi vật một
sinh mệnh. Chỉ có lý tưởng niết bàn của
đất tịnh, trang nghiêm thường sáng, trong đó
là sinh mệnh của toàn thể được
thương, được vui, được sạch và
được chân chính chứng quả thấy cái tính
A Di Ðà (vô lượng thọ, vô lượng quang). Hết
thảy chủng tử của Ba nghìn nghìn thế giới
sẽ biến thành Ba Nghìn Nghìn thế giới Hoa Nghiêm
cõi Tây.
Tất cả các Pháp với Tướng,
Sức với Tâm không lúc nào không trong sự vận
động biến đổi và chối bỏ lại
tái sinh của biện chứng pháp không có, có không mà
phát hiện ra chân như và như lai, không đi, không lại,
không diệt, không sinh, không nóng, không lạnh.
Tổ chức của cuộc
cách mạng bằng tông giáo đó là y cứ vào nguyên tắc
tuyệt đối chối bỏ. Xuất gia là sự phản
kháng hết, hết những đè nén, tham, si, giận, dữ,
chấp trước của tại gia, của tư sản.
Tất cả những người xuất gia dưới
sự lãnh đạo của Tam Bảo: Phật lãnh tụ,
Pháp chủ nghĩa, Tăng cán bộ cùng xum họp nhau bằng
nguyên tắc Hòa, hỗ trợ, hợp tác và thống nhất
dưới những tu dưỡng của Ðộ (Lục
Ðộ): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, trí tuệ,
thiền định và tinh tiến. Tất cả những
người ấy thành chứng là những người
từ Ðại Bi mà Ðại Giác, Ðại Nguyện mà
đi đến Ðại Hùng, Ðại Thế mà phát dương
Ðại Ðạo. Những con người ấy có kinh, có
luật và có luận chỉ đạo cho họ hết
từ xử thế ra xuất thế. Lòng nhân ái của
họ đã thay đổi hết Ấn Ðộ tư
tưởng, tu cải hết khoa học và triết học
cho Ấn Ðộ của động và tiến hóa.
Thích Ca trên hội Pháp Hoa đã
thụ ký cho muôn ngàn Phật tương lai và đã dự
báo Di Lặc sắp tới đến để làm một
công việc của Ðại Giác trong hội Long Hoa ngày
mai. Tất cả chúng sinh theo một nhịp tiến hành
khúc mà cùng lên Bỉ Ngạn, hết hết đều
quy về Như Lai tạng, nhưng mà Phật có độ
ai không? Phật không độ ai hết, chúng sinh tự
độ lấy. Phật có tịch diệt không? Phật
không tịch diệt. Pháp thân của chân như là thể
vận toàn vũ trụ.
Ví như thế, Phật là Tổ
đã chứng tam muội, tam Bồ Ðề đệ nhất
Thắng Nghĩa bất diệt và ấn chứng.
CÂU RÚT
Dân tộc Do Thái con cháu Abraham đã giác ngộ "NGƯỜI"
là một thể, thế giới là đại đồng.
Cái tinh thần ấy không lấy gì mà tượng
trưng được, phải gọi là Chúa Trời.
Chúa Trời là thực thể của muôn ngàn Chúa Trời
vô thượng và vô nhị. Vô thượng cho nên thắng
được hết thảy ác thế lực, vô nhị
cho nên thắng được hết chia rẽ. Chúa Trời
có hỷ để mà sinh, có nộ để mà chiến
tranh. Chúa là tối cao của lý tưởng của tự
do, bác ái và bình đẳng. Chúa là thực thể của
lý tưởng đó và đòi phải đấu tranh,
cho nên Thánh Linh là cái trí tuệ đại giác nối liền
Chúa Cha và Chúa Con. CHRIST, cứu thế chúa, kẻ vâng
theo chủ nghĩa mà thực hành tuyệt đối
đạo đức.
Và dân tộc Do Thái đã
được lãnh đạo trong các cuộc cách mạng
dân tộc, cách mạng chính trị, cách mạng Câu Rút
là siêu thanh của 89 và 17. Sự thờ phụng đấng
tối cao và lý trí trước bàn thờ Tổ Quốc
đã cảm chiêu nên lá cờ ba sắc. Bây giờ
đây không phải là lúc chúng ta chiến tranh với
tâm ta hay óc ta mà là lúc chúng ta chiến tranh với hết
thảy những thế lực đen tối trong xã hội.
Ðấy là lá cờ Búa Liềm.
Mahomet càng làm cho học thuật
Cơ Ðốc nhất nguyên hóa. Cơ Ðốc truyền
vào sa mạc Ả Rập đã đem cho dân chúng ấy
cái khí vị hơn đời. Al Coran nộp công hay thanh
gươm vết anh hùng ngày nay còn đó.
Thế nhưng giáo quyền
đã bôi nhọ Câu Rút. JESUS có muốn đâu Tông Quyền
chính trị? JESUS có muốn đâu?
MẶC ÐỊCH
Người ấy là người
đầu nện gót ra cứu đời. Vũ trụ
đối với người ấy chỉ là một thể
hệ của thực dụng lý tắc, có ý nghĩa giá
trị và hiệu dụng thực tiễn cho loài người,
cho số đông nhiều nhất trong loài người,
cho những người vất vả làm lụng để
tìm kiếm ăn mặc cho xã hội. Những thứ
ấy và chỉ những thứ ấy là hợp với
quy luật tự nhiên và đúng với ý chí nhân đạo.
Nó cũng là một chế hạn
của hoàn cảnh đời sống dân Tàu muốn rằng
giai cấp trung dung sẽ tập đại thành lại
mà làm Tông Chủ của lịch sử "vạn thế
chi vương". Mặc Tử đối đầu
với Dương Chu chỉ là cái tổng hòa của những
mồ hôi róc rách chảy vào những tấm lòng nói tiếng
của lao động giả. Mặc Tử là đại
biểu trong đấu tranh xã hội của giai cấp
ấy rất thích đáng với giai cấp của mình,
thời đại mình.
Sự chia rẽ của Chiến
Quốc là ở cái lũng đoạn của các hạng
người đặc quyền. Như nếu người
ta biết "thượng đồng" thế
giới mới "đại đồng"
được. Người ta có mang ra thực tiễn "kiêm
ái" thì loài người mới thực "thân
ái" được.
Chiến tranh phải tiêu diệt
bằng tiết kiệm công thế, cũng có thể
ứng dụng nguyên tắc đó vào kháng chiến
được để đi đối với "phi
công" nghĩa là lợi thế giữ tích cực.
Tất cả các giai cấp đặc quyền phải bỏ
hết những phù hoa, xa xỉ và phù diễn để
đem đời sống lại cho ngang với dây thủy
bình của đại chúng. Những bất bình của
xã hội phải phá tan bằng nhân ái hay bất đắc
dĩ bằng thủ đoạn vũ lực của nhân
ái. Mặc Tử để cứu sống, đã đi bộ
suốt đêm ngày, mười buổi sang Sở, mang trí
thức và học vấn xác thực của mình về tự
nhiên với máy móc ra phá tan súy đồ của Sở
trước, mang tinh thần hy sinh của tự mình và học
trò ra tiêu diệt tai vạ của chiến tranh sau. Chỉ
có hy sinh và chiến tranh để tiêu diệt chiến
tranh, chỉ có lý tưởng tối cao, chân, thiện, mỹ,
kỷ luật và hiệp nghĩa ra phá tan được
bất bình.
HOA THÁNG NĂM
Chỉ có sự vất vả bằng
độc lực với tinh thần mạo hiểm biên
thú và sáng tạo khi tự tỉnh lại mới thể
nghiệm thấm thía được biểu hiện quyền
sống còn, độc lập và tư cách sống còn,
chính nghĩa thật đúng đắn. Quyền ấy và
tư cách ấy mới làm nên một chế độ tự
do và dân chủ được, phồn thịnh
được bằng mang sự vất vả ấy ra
áp dụng vào công cuộc đấu tranh cho cái lý tưởng
đã thể nghiệm được đó.
Một văn minh mới như
đóa hoa tươi tốt và to tát sẽ nở bùng ra.
Ví như thể đất Mỹ trải qua một thời
nòi giống xâm lược, máu và nước mắt, xấu
ác hôi tanh ở trên mồ đống đã nở ra
đóa hoa tháng Năm. Ðóa Hoa Tháng Năm đó đã sum
sê phủ kín cái mồ đống tội ác lịch sử
kia. Ðóa hoa ấy bón tưới bằng những chất
tố lịch sử của mồ đống đó.
Tội ác của thực dân phải
đền bù bằng mọi sự hối hận thầm
kín nơi đáy lòng. Có khi người ta phải tự
trừng phạt mình cho khỏi lởn vởn cái hình
bóng tối tăm của tội ác cứ lởn vởn
mãi trong hồn. Ðó là trường hợp của 1865,
Nam-Bắc chiến tranh cho cái lý tưởng cởi mở
dân tộc da đen.
Cuộc chiến tranh ấy gọi
là phân liệt (sécession) thì chửi rủa lý tưởng
lịch sử quá. Cuộc ấy phải là thần thánh
chiến tranh, thuần vì lòng yêu thương và nghĩa
công đạo. Cuộc ấy phải là vị tha chiến
tranh, không tư lợi và không vị kỷ.
Ðóa Hoa tháng Năm trong màu đỏ
của nó sở dĩ đỡ hoen ố mà thêm đôi
phần tươi hồng là nhờ ở 65. Người
ta thấy hối hận đau thảm khi nhắm mắt
lại tưởng nghĩ, tức giận, còn đau thảm
hơn khi bừng mắt ra trông xét; người ta thấy
phải không tiếc một cuộc chém giết ruột
thịt để xóa nhòa trong hăng hái cái vết
đau tội lỗi gia truyền đi, chém giết ruột
thịt để rửa sạch những bướu nhọt
còn di độc lại trong huyết thống sinh sống
dạt dào nó nối liền nòi giống tới tương
lai. Dòng sống phải trong sạch thì đời sống
mới được an ủi trong linh hồn, hết cả
những lởn vởn của hối hận, đau thảm
và tối tăm, đời sống mới có hạnh
phúc và hòa bình thật chân chính. Loài người muốn
hết chiến tranh phải nhắm mắt lại rồi
bừng mắt ra bằng cuộc chiến tranh sau rốt
là cuộc phán quyết sau cùng, phải đánh giết
ngay tự mình nếu tự mình có tội lỗi. Như
muốn còn có chiến tranh phải ca tụng những cuộc
chiến tranh thần thánh vị tha như thế ấy.
BASTILLE
Kant là người hy vọng và
thất vọng cuộc 1789. Trong cái hy vọng của Kant
với loài người mà Kant đại biểu, tỏ
lộ ra rõ rệt cái lý tính thực tiễn sẵn có,
cần có và phải có cho 89. Ba cái luật lớn của
luân lý, hợp lý chủ nghĩa: "Phải coi tự
mình là mục đích, tuyệt không phải coi là thủ
đoạn", như thế tự mình với đời
sống, tự mình là thực thể của cái lý tưởng
trong thuần túy lý tính hiện thân trên thế gian. Phải
làm cho tự mình và đời sống tự mình thành một
mục đích của cái lý tưởng đó.
Như nếu coi tự mình là
thủ đoạn thì người khác và tất cả
loài người, mình cũng chỉ là thủ đoạn
bên ngoài tự mình mà thôi. Phải cả người khác
với loài người đều là mục đích, người
đứng trước người là thần thánh. Thần
thánh là đại biểu của lý tưởng, là hình
tượng của cao cả lý tưởng, cao cả tuyệt
đối, là thật, là lành và là đẹp. Phải
coi tự mình là một vật mình phải thờ phụng
và nâng lên thật lành và đẹp, đối với
người cũng như thế.
Nhưng mà lý tưởng đó
vào đời phải trải qua đấu tranh, sự
đấu tranh để thắng cả tự mình với
tất cả những ác thế lực nữa thì sự
đấu tranh đó nổ bùng bằng sự phá vỡ
Bastille, kiến trúc của phong kiến, chuyên chế, bất
đạo đức và bất bình đẳng. Bastille là
tượng trưng của tội ác. Phá vỡ Bastille
là làm thức tỉnh toàn thể dân Pháp với tất
cả gậy gộc, sẻng, cày ra hoàn thành trận
Valmy đuổi hết xâm lăng.
Cái khí thế của nó sinh ra
Napoléon. Cái trí tuệ của nó cải biến hết thảy
tư tưởng và chế độ trên thế giới.
Trước bàn thờ Tổ Quốc,
thờ sùng phụng đấng tối cao và lý tính, việc
đó cắt nghĩa hết cả, việc ấy là
nhân đạo chủ nghĩa của lý tính chủ nghĩa
và dân tộc nguyên tắc của lý tính chủ nghĩa.
Tổ Quốc đây phải trở về cái thực thể
của đời sống quốc dân trên huyết tính của
Lý là lý trí của khoa học mà đối với xã hội
là lý tính của đạo đức.
Dân chủ phải xây đắp
lại trên nền tảng chân chính ấy.
Nhân quyền hiến chương
phải có bảo chướng bằng tự đời
sống tinh thần và vật chất của mỗi người
trên tất cả mọi người.
THÁNH HÙNG
Có những tấm lòng thuần nhân ái to rộng và lớn
lao, nồng nàn và chân thật, cũng không phải là lối
từ thiện, cũng không thể đem mua bán ngoài chợ
được, ví như khó mà tả cho ra, vì đó là
biểu hiện của Phạn (Brahma) không bờ, không bến,
cùng trước, cùng sau, Phạn từ bi và hỷ xả.
Cho nên Gandhi là Mahatma, là Thánh Hùng, là kỳ nhân đời
nay ví như Messie của Ấn Ðộ. Thánh Hùng là lịch
sử một muôn năm của Ấn Ðộ trong dòng
sông Hằng Hà kết tập tất cả tinh thần sống
mà nặn nên. Phải hiểu Gandhi bằng hiểu dân tộc
tính của Ấn Ðộ. Cho nên hơn 300 triệu người
Thiên Trúc ngày nay thiếu Gandhi không được.
Lịch sử phải nối tiếp
nhau liên tục bằng những nút người thuế
biến như thế. Nếu nói Gandhi là hiện thân của
hết thảy những khuyết điểm và nhược
điểm của xã hội Ấn (Nehru) thà nói đời
sống và con đường trường với bước
đi lịch sử xã hội Ấn phải lấy Gandhi
làm cầu nối mà chuyển sang điển hình của
Nehru. Sự tiến hóa loài người đích xác phải
diễn bằng cái trật tự đó nó đầy
đủ biểu hiện mỗi đặc tính dân tộc
và đặc điểm phát triển như vậy.
Thánh Hùng là người lý tưởng
đất sạch thường trong sáng của tất cả
đời sống nông nghiệp và phong kiến tỏa
thoát lên như ánh trăng sực có hơi thu vậy. Mục
tiêu, lý tưởng chính trị của Gandhi là do quan niệm
Vệ Ðà đó góp thành, không thể để cho những
nhà chính trị đời nay và khoa học khâm phục
được. Nhưng Gandhi với lý tưởng chính
trị lờ mờ như thế càng tỏ rõ cái địa
vị lịch sử và sứ mệnh tinh thần của
mình. Cương lĩnh chính trị nào mặc dầu
hay, hay dở cho tương lai người Ấn là do
Nehru cả.
Nòi giống Phật không có sát
sinh thực từ lòng tự nguyện mà ra. Gandhi dùng thủ
đoạn hòa bình và tiêu cực, bất hợp tác
(1925), bất bạo động (1939) thực từ ở
đó mà ra. Tự xả và tuyệt thực là vũ khí
chính trị của ông. "Tự cấp" và "tự
tạo" là công cụ kinh tế của ông; quân
địch thù là tính hiếu chiến ở trong lòng ông
và nòi giống ông. Trong Gandhi, mục đích cho hết thủ
đoạn, thủ đoạn ấy phải là mục
đích nhân ái trùm hết chính trị, tinh thần trùm hết
lịch sử và lý tưởng Brahma trùm hết tương
lai.
Ðịa vị của Ấn Ðộ
và tiến triển của Quốc Dân Hội Nghị
Ấn Ðộ chỉ là sự nghiệp của cái sức
cảm hóa và khải dịch lớn lao bằng linh hồn
của Gandhi mà thôi, tất cả qua đại đa số
quần chúng vô luận phải biết đều thống
nhất thành một khối dưới sự lãnh đạo
tinh thần và thanh khiết ấy. Sự vu miệt Gandhi
là độc tài chỉ là sự chứng minh cái quyền
uy vô thượng của đạo đức. Gandhi chỉ
có tự tỉnh, tự hối và tự trừng mà
thôi. Gandhi không tranh giành vu miệt và lừa dối ai hết.
Cái phong cách ấy đáng nói Gandhi là lãnh tụ của
hết thảy lãnh tụ, như Thích Ca là thầy của
hết thảy các thầy, như Christ là chúa của hết
thảy các chúa đó vậy.
Lịch sử cách mạng
Ấn Ðộ là lịch sử riêng của Gandhi. Cuộc
đấu tranh lớn lao kia cả hàng ngũ năm
năm tề chỉnh nên, tự xả và hy sinh với
quân thù địch đế quốc chủ nghĩa mạnh
ác và bền dẻo nhất thế giới, biết bao
nhiêu máu lệ đã đổ cho Swadeshi (độc lập
vận động) và Thánh Hùng cho tới hiện nay
đang trầm ngâm trong hy sinh một cách thần thánh.
Chỉ có nan hành khổ hạnh
mới có thể cứu sống được đời.
Chỉ có trở về đời sống dân chúng mới
có thể phục hưng được dân tộc. Chỉ
có lòng nhân ái vô biên của Phật lý tưởng mới
có thể an ủi và tế độ được hết
chúng sinh. Thánh Hùng còn sang sảng nói: "chúng ta phải
tự sức một mình đánh với toàn thế giới
để cởi mở cho tự dân tộc chúng ta, còn
để cởi mở cho cả dân chúng bị áp bức
toàn thế giới, không những thế mà lại cởi
mở cho cả dân chúng nòi giống da trắng, họ cũng
bị khổ nạn không phải không là không".
Brahma cùng với hết thảy
Ma ác đấu tranh. Ấn Ðộ và thế giới là
địa ngục vô cùng đau thảm. Brahma phải
đấu tranh và đau khổ nhưng vẫn tin chắc
rằng: "Thế giới một ngày kia sẽ biến
thành cõi sống trang nghiêm, đó là bình đẳng
ở trong bao gồm cả Ma ác cũng được yêu
thương nữa".
Ma với Phật là một.
Gandhi là như thế và có tấm lòng nhân ái thực,
nào ở đời phải lấy Gandhi làm thực cứ.
SƯƠNG MAI
Loài người là cõi Tinh và Ma
thống trị, Phật tự trị. Phật với
Tinh và Ma đấu tranh không dứt ở trong đau khổ
không bờ bến, nhưng mà Phật, Tinh và Ma là thể
thống nhất trên chế độ của loài người.
NGƯỜI, người khi bị đè nén, đau khổ,
tự tỉnh lại và trở về nguồn gốc
sinh mệnh và lý tưởng cao cả trong giác ngộ lớn
lao, đó là Phật.
Người khi hút máu người,
đè nén người, mê ly trong cõi điên cuồng của
dục vọng không chán, đó là Tinh và Ma. Thế giới
lúc nào cũng tối đêm vì loài người bao giờ
để mà sống, còn cần phải, còn bị thống
trị. Thống trị ví như màn đen, chăng lên
bao phủ hết cả cho đen tối. Ở dưới
cái màn đen đó chỉ có những mùi hôi tanh, xương
máu, mồ hôi đẫm với lệ và tất cả
những cái hư nát. Loài người cần ánh sáng và
thanh thoảng đó. Sự đấu tranh giữa Tinh và
Ma càng làm cho ảo não và đen tối. Chỉ có cuộc
thánh chiến giữa Phật và Tinh, Ma khi thắng mới
mang được đến ánh sáng và thanh thoảng cho
loài người.
Sinh mệnh của toàn thể
loài người là chế độ người đi
đôi với bối cảnh của chế độ Phật
hay Tinh hoặc Ma. Loài người hiện nay đang trong
cuộc hỗn loạn giữa Tinh, Ma và Phật đó.
Ðêm tối đang giày vò và hôi tanh đang sặc sụa
mà lý tưởng nghĩa là ánh sáng và thanh thoảng thì
thật xa vời. Sao cho chóng đến ban mai. Sao cho chóng
đến ánh sáng và thanh thoảng. Cầu khẩn
đi! Nhưng cầu khẩn là hèn nhát. Tìm tòi đi.
Nhưng tìm tòi là dò dẫm. Ðấu tranh đi. Chỉ có
đấu tranh mới giải quyết được lý
tưởng.
Sự cải tạo làm lên
trên thối nát, hôi tanh và mục đổ. Phật
ở trong đó mà ra, rạch hết thối nát hôi tanh
và mục đổ mà mọc lên đóa hoa Sen của lý
tưởng đầy Chân, Thiện, Mỹ, chọc màn
đen ra bằng đấu tranh, hy sinh và vun bồi mà
đưa hương thơm, ánh sáng và gió thoảng lại.
Chỉ có ở dưới đáy bùn mới ươm
giấu sẵn những chủng tử của Phật
đó. Tinh và Ma tất cánh là sức trên mặt tầng.
Các nòi nước nhỏ yếu
và giai cấp bị đè nén, toàn loài người đã
đến lúc đoàn kết, sự tìm tòi tự muôn
đời đến nay đã ví như hạt giống
ươm trồng chồi nẩy, màn thống trị
bùng nhùng để lộ ánh bình minh. Ánh sương mai
đã róc rách suốt cõi tự trong đáy lòng người
cho đến suốt cảnh vật, hết thảy
đượm cái sinh khí mới mẻ đó, như tỉnh
lại và phải bồng bột.
Ánh sương mai đã thấm
thía ánh bình minh lóng lánh, sóng tân sinh đương dào dạt
khắp lòng người. Ðấy là trẫm triệu của
Di Lặc.
QUÁN TƯỞNG
(Contemplation)
Từ không trước đến
không sau, từ nhỏ tắp đến to ngời toàn vũ
trụ cấu tạo bằng vật chất. Cái cực
chất tinh diệu đó là tự kỷ nguyên nhân cho một
cuộc vận động không dứt xoáy trôn ốc
trong đường trường vận động đó
bằng mỗi nền tảng của gặp gỡ và mỗi
điều kiện của thế thái mà tom góp nên muôn vật.
Loài người là do cái bối cảnh của vận
động đó mà kết thành.
Hãy nhắm mắt lại, trở
lại tự mình, xem cái sinh mệnh của tự mình tất
thấy cả cái kết hợp và vận động
đó, xem tất cả cái sinh mệnh của loài người
trước mặt và xem tất cả các sinh mệnh của
lịch sử muôn năm đã có đến ngày nay. Một
luồng sóng máu trào dồn dập và bát ngát vỡ tóe
tung bao nhiêu máu, óc, mồ hôi và nước mắt. Cái
luồng sóng trào đó gọi là dòng sống, có cơ
thể, mỗi đời thoát xác mà chuyển đời
đời. Bao nhiêu đau khổ, chỉ thấy đau
khổ và chỉ còn rớt lại đau khổ trong cái
vạch hướng thượng của đời sống
đó. Loài người thể nghiệm thấy sinh mệnh
của mình phải không dứt chắt ép để làm
trọn thăng hoa đời đời hướng theo
cái lý tưởng cứu cực không dứt đấu
tranh và chịu đau khổ. Vì chỉ có đấu
tranh và đau khổ mới là hiện thân của lý tưởng.
Lý tưởng là thể số học của sinh mệnh
trong tác dụng thăng hoa, tất cả những cố
gắng tính, tâm, thân, mệnh, trong đường lối
đó gọi là thực hiện.
Loài người là vật của
chân lý, của tinh thần. Dòng sống không dứt tiến
hóa để mong đến cõi thành tựu là cõi nhất
như. Cái cỗi tội (péché original) của loài người
là ở nơi đó mà lòng nhân ái cũng từ đó
mà có ra. Loài người trong mục đích chủ quan của
mình, cái tiêu chuẩn là phải thắng khách quan mục
đích của tự nhiên; hãy trông trong con mắt người
mù không dứt ngẩng lên nơi chúa mà đi (Byron); cái
hình ảnh của loài người trong tiến hóa cũng
hệt như vậy. Mù nhưng mà phải sống, con mắt
tối gầm nhưng trong là sống, và thể sống,
người mù tự thấy mình cũng có một mục
tiêu trong đời, người mù kém cỏi và tàn tật
hơn hết nhưng mà bao giờ cũng hy vọng ánh
sáng của nắng, người đó không thấy bằng
mắt, nhưng mà trông thấy bằng lòng. "Hy vọng
là mẹ hết tư tưởng" (Tolstoi).
Ấy thế cho nên "tin thờ là mẹ đẻ
của hết thảy công đức cho cõi đạo"
(Hoa Nghiêm Kinh). Cái tin thờ là chất tố của hy vọng.
Từ tin thờ mà sinh ra hết tội lỗi với
đạo đức, sinh ra hết cái đáng yêu và
đáng ghét.
Người ta chỉ có thấy
bộ mặt đáng ca, đáng khóc, đáng khâm, đáng
sợ của hy vọng, tin thờ và lý tưởng trong
đau khổ, thất vọng và thất bại. Vì
đau khổ, thất vọng và thất bại là ba mặt
biểu hiệu của chiến đấu đang tồn
tại đang sống. Phải tương lai đắc
thắng, dù sao cũng là bộ mặt xấu ác của
tội lỗi. Cho nên hãy xem, hãy trông một thân con người
phải quỳ gối, cúi đầu: đừng xem,
đừng trông, đừng để ý đến quỳ
gối cúi đầu, hãy trông vào con mắt của người
lúc ấy, đó là hình tượng của bao nhiêu thê
thảm của thê thảm, của bất đắc
dĩ, của khổ tâm.
Ừ, mặc dầu con người
ấy là gian, là ngay, là tội, là oan. Gian, ngay, oan, tội,
không xá kể gì, chỉ kể con mắt đau
thương làm nẫu hết thế gian, chỉ kể
con mắt đau thương ấy nó tả hết hình
ảnh chân thực và lịch sử loài người
đời đời.
Cho nên không thể ca tụng
được những cái xưa kia của đắc thắng
nếu cái đắc thắng ấy không phải là cái
đắc thắng của buồn rầu, đồng thời
chỉ có thể ca tụng được những cái
đắc thắng không tội lỗi, cái đắc thắng
thuần túy trên loài người không chia thắng với
bại, không chia phải trái với người ta nữa,
cái đắc thắng vô ngã nó làm muôn nghìn nghìn hết
thảy không sót một chúng sinh nào còn "mắt mù
và mặt cúi" nữa. Có thế lịch sử mới
đến đoạn chân thật của lý tưởng
và loài người mới đến đời sống
chân đại đồng: cái đắc thắng của
yêu thương.
Trời ơi ! Ta đã đi
đến bờ cõi của tông giáo. Không yêu thương
là tông giáo tranh đấu; văn nghệ, tông giáo, triết
học và khoa học chỉ còn là một thứ văn
nghệ nhiều mặt của yêu thương. Lịch sử
chỉ còn là thứ văn nghệ của yêu thương
tranh đấu có sự thực. Yêu thương là của
nhân đạo. Nếu bảo rằng yêu thương là
của thần thánh cho ta một sứ mệnh; nếu
nói rằng yêu thương là luật hấp dẫn chung
của vũ trụ, ta đều không thể tin
được yêu thương là thể chỉ có thể
coi được như một "bản ngã"
của sinh mệnh loài người, cho đó là một
công năng đặc thù tiến hóa hơn và lý tính
hóa của loài người.
MUSES
Nhà văn nghệ phải phát
thệ cái yêu thương; yêu thương là huyết
tính của loài người. Nhà văn nghệ phải thể
nghiệm được yêu thương trong sinh mệnh
lịch sử, hiện tại và tương lai trong loài
người, trong sống thật, sống máu và sống
đấu tranh của loài người. Nhà văn nghệ
phải ca tụng những cuộc đắc thắng vô
ngã.
Thế cho nên nhà văn nghệ
phải là của dân chúng, phải trở về bình
dân, phải là phần tử bình dân, còn phải là người
tin thờ bình dân, đấy là toàn thể cái hiện
thân của yêu thương, hy vọng, tin thờ lý tưởng
đang tranh đấu phải "mắt mù",
"mặt cúi". Nhà văn nghệ không làm "mõ
chợ" được, văn nghệ không thể
làm tiếng "chó sủa" được
(Shelley), đồng thời không thể làm đồ
đùa cho giai cấp độc quyền (Tolstoi), cũng
không thể làm "đồ chơi của bọn tục".
"Nó là tiếng đau khổ thực ảm đạm
và nghiêm nghị" (Chu Xuyên Bạch Thôn). Bỏ loài
người ra, văn nghệ không có giá trị gì hết,
nhưng bỏ đa số loài người ra với bỏ
lòng yêu thương vô ngã ra, văn nghệ không thể
có một giá trị thích đáng. Nhà văn học phải
là một "giáo sĩ tiên tri và dùi mài"
(Fichte). "Phải thổi tiếng kèn đánh thức
lên" (Shelley). "Phải làm sao cho loài người
tự hiểu mình, tự tin mình và càng khát mơ chân
lý" (
Cái lương tâm và việc
đánh thức chỉ có thể bằng yêu thương
đang đau khổ trong vật lộn. Muốn
được thế, văn nghệ phải vô ngã mà
không còn chấp trước nữa. Văn nghệ còn
là hình thể của lý tưởng, cho nên văn nghệ
tự thân cũng phải lành, đẹp và thực.
Lành và thực không hỗ giải được cho có một
tiêu chuẩn đúng đắn, chỉ có đẹp biểu
hiện được rõ ràng giá trị nhất.
Cho nên văn nghệ là hình tượng,
cảm tưởng và tượng trưng. Ðẹp phải
biểu hiện độc lập và thuần túy trên
hình thể và mầu sắc, đẹp phải trình bày
cái độc đặc của nội dung, "chỉ
có thực chất sinh ra hình thức" (Goethe). Văn
thể phải là sự tỏ lộ của nội tâm
người cầm bút (
Văn nghệ là hoa của
đạo lý, huyết hoa. Văn nghệ phải là sống.
Hãy mở cửa sổ ra cho ta
hít hơi thở của không khí anh hùng (Romain Rolland). Phải
phá tan màn tối ra cho ánh sáng, hơi thoảng chiếu vào
phát nhiệt cho loài người khỏi tăm tối,
cho hạt giống của hoa quý từ dưới thối
ra, mục nát, bùn lầy, hôi tanh, đượm hơi
sương mai và không khí sáng mà nở lên trái quả tươi
màu.
Nếu loài người duy vật
thật, tất không có văn nghệ, chỉ có khoa học
của vật chất luật tắc.
Nếu loài người duy tâm
thật, tất không có văn nghệ, chỉ có tông
giáo qua thần thức.
Văn nghệ là chủ của thời đại mới
dẫn dắt loài người bằng phương pháp
ý thức của tự loài người.
Văn nghệ không phải là
thượng tầng kiến trúc, chỉ là dưỡng
sinh nền tảng của mọi người. Cho nên Lễ
Nhạc chính trị là phương thức chính trị của
Nho duy sinh. Lễ Nhạc phải phát xuất tự nơi
dân chúng và sống thật mới được.
Lễ Nhạc (một trong
văn nghệ) phải chính trị hóa, hơn nữa là
giáo dục hóa. "Một văn nghệ nào, nếu
không lấy đạo đức hóa lý tưởng và
thực dụng làm mục tiêu chỉ là một thứ sống
bất lương và bệnh thái".
Nhưng mà văn nghệ không
thể ở bọn quan liêu, chính khách và nhàn tản theo
đòi được. Văn nghệ phải để
cho yêu thương của lý tưởng có tranh đấu
chủ trì, văn nghệ là của dân chúng mới
được.
X.Y. Thái Dịch Lý Ðông A
4823 tuổi Việt (1944)
2.
SỬ HỒN
HỐI HẬN
Người ta đã tốn bao nhiêu lời lẽ ca tụng
những cái lớn lao của thời Tam Ðại nước
Tàu cùng các cuộc 89, 17 của Pháp với Nga. Sau cuộc
Phục Hoạt cổ điển Âu Châu, người ta
đã đặt hai thời kỳ đó làm khuôn mẫu
thế giới sử trên nhân loại học. Từ nhân
đạo thành lập đến nhân đạo tăng
tiến, chúng ta ước ao loài người bước
lên một bước thứ ba để ổn định
cái văn hóa hòa bình của nhân đạo thực thể.
Hai thời kỳ trên tuy nhiên trong hành trình của nó dắt
theo bao nhiêu những hắc muội của dã man cùng cực
làm cái hối hận ray rứt của tâm hồn ảo
não cho đạo đức của Sử.
Một cái văn hóa trùm lấy
cả Á Ðông "Tiền nhân chủ nghĩa" thực
hành chính trị tối khoa học của nông nghiệp
và âm dương học trên "chữ Lễ"
suy động bởi một cơ trí "Thiên Triều
chủ nghĩa", "Hán tộc thiên hạ chủng tộc
đế quốc chủ nghĩa" đem kết
tinh hết cái cực thiện và cực mỹ vào một
công cụ "Phong Thiện" để diệt
chủng bốn chung quanh. Chúng ta còn được thừa
hưởng cuộc đấu tranh thất bại của
tổ tiên ta với nòi Hán, cái vết máu nhơ nhớp
và cột đồng Mã Viện.
"Ðồng Trung Hoa đến
mang làm cột".
Lại bây giờ người
ta công kích cuộc 89 chỉ là sự cấy mạ của
giai cấp phú hào. Nếu lấy con mắt thiển cận
của biện chứng duy vật mà xét thì người
ta cho thế là phải. Nhưng lấy con mắt công
chính lịch sử nhân loại tập trung mà nói, nó chỉ
là cuộc vật lộn của chân lý. Sự chiếm lĩnh
và hưởng thụ những tinh thần và vật chất
công cụ của mỗi sự nghiệp tiến hóa trong
tay mỗi người và mỗi nòi tùy theo tính chất
và xu hướng của nó mà phấn động với
công ích thuần nhân loại, có phải tội của 89
đâu? Tuy nhiên cái cực thiện, cái cực mỹ của
đời đó rớt lại cho con cháu Pháp Lan Tây
đế quốc về sau này chỉ còn lại cái vô
dân chủ suy động bởi cái "máy đoạn
đầu đài", người ta gọi nó là
guillotine không đúng, nó là "La Fran硩se",
máy Pháp Lan Tây phải hơn.
"Máy Pháp Lan sang để chém
người".
Stalinisme làm cho cuộc cách mạng
17 mất hết nhân loại toàn tính, nhưng mà cũng
mang đến cho người Nga Sô một địa vị
của Thiên Triều chủ nghĩa, Trung Quốc chủ
nghĩa sô viết đội lốt Pierre Alexandre, tóm lại
đội lốt Tsar Komintern, than ôi! chỉ là cái tổ
chức hắc ám của Franc maconnerie tính cách Anh Cát Lợi.
Cái biện chứng duy vật kia có cái tác dụng thời
đại và địa phương của nó cũng
như cái lý tắc cơ giới của thế kỷ
XVII đẻ ra vô dân chủ, tuy không được
đúng chắc, nhưng mà cũng vừa đủ để
sửa soạn một cuộc tiến hóa, cống hiến
một cuộc phản tỉnh về đời người
ta trên thực tiễn, phê phán và tu chỉnh cho nhân loại
một nền tảng kinh tế trên "phụ kinh tế"
mà không "siêu kinh tế". Trên thực trạng
của Nga Sô Viết, nếu Marx mang Nga quốc hóa đi
được trên thực thể của biện chứng
đó, đó là vấn đề kỹ thuật, thì nghĩa
là thực hiện một Thiên Triều chủ nghĩa
Komintern, một thứ Tsarisme.
Thế giới muốn ổn
định phải giác ngộ không một thiên hạ chủ
nghĩa, hoặc đội lốt dân chủ, hoặc
đội lốt Tam Dân, hoặc trắng trợn như
Phát Xít hay hùng hồn như Nazi làm bận lòng các anh. Ðừng
ngừng trệ, đừng theo đuôi, nếu Lão Tử
với Gandhi gặp nhau tất cũng đồng ý rằng
chỉ có chủ nghĩa của các ông ấy như có
thi hành ra được họa may mới có toàn tính
nhân loại, thực thể nhân loại, mới cộng
sản, dân chủ và nhân nghĩa được. Trotsky bị
giết đi để chứng thực cho thế giới
rằng Mác Xít chân chính đã bị chối bỏ.
Có cái gì qua các thời đại?
Cách thức sống của các bộ lạc, các nòi giống,
các thời đại, các khuôn khổ. Người ta cần
bàn tay với luân lý gia đình cho nông nghiệp; người
ta cần lý trí với bản lĩnh cho thương nghiệp,
người ta cần lý tắc với vô đạo
đức cho công nghiệp. Tổ chức Teuton bên Ðức
hay Lạc Chế bên ta đời Hồng Bàng còn vẽ
được chân hình cái toàn tính của loài người.
Như muốn xác định nữa, còn phải theo Lão
Tử với Gandhi. Sự sống của người ta y
cứ vào người ta hết. Bởi vì người ta
sống trong vũ trụ; vũ trụ đó là đối
tượng đại đồng của loài người.
Người và vũ trụ trên nền tảng và điều
kiện chủ khách quan sinh sản ra hết thảy. Tự
ta quyết nhiên có cái bản lĩnh độc lập, tự
do, sinh tồn ở ta đó. Bao nhiêu cái hoa mỹ, bao
nhiêu cái tinh vi, bao nhiêu những năng lực và công cụ
tinh thần với vật chất, hữu hình hay vô hình
chỉ là những thuộc tính của sống còn Duy
Nhân, Duy Dân chân lý ở trên cái nút tự tại trong vũ
trụ kia. Thái cực, giác ngộ, chân như, thượng
đế, cực chất của xã hội theo cái tính lưu
động của loài người mà lưu động
phải tìm đâu xa!
"Nhân đạo đừng
mong quân lợm khẩu"
"Nhân quyền chớ cậy
đứa xanh ngươi".
Quản Trọng nói câu: "Nước
lớn nhiều thì hợp các nước lớn vào
đi đánh các nước nhỏ để làm bá
đạo. Nước nhỏ nhiều thì hợp các nước
nhỏ lại đánh các nước lớn để làm
vương đạo". Hãy hối hận, hãy luôn
luôn đề phòng và cảnh tỉnh cả mình và mọi
người để đi tìm nhân nghĩa và đạo
đức. Dân chủ, vương đạo nếu chỉ
nắm được cái vỏ của nó, cái bóng của
nó trên bao nhiêu hoa mỹ, anh hùng vinh quang của nó mà mất
thực thể của nó thì trên hành động và nhất
là lập ngôn của các anh sẽ chỉ là của độc
sâu cay cho loài người mà thôi. Duy Dân chủ nghĩa
như muốn thế giới hóa hay hợp hơn, đồng
nhân hóa, phải làm cho thế giới mỗi người,
mỗi nòi nghiêm ngặt hiểu rõ những thống khổ
và hối hận kia. Phải sám hối, phải nghiêm ngặt
giữ gìn cương thường Lạc Chế làm nền
tảng tự lực trên hết mọi chính sách kinh tế,
chính trị, xã hội và nhân chủng. Các thứ chế
độ chỉ là ngành ngọn mà thôi. Ðạo đức,
nhân nghĩa, vương đạo, dân chủ như lột
truồng ra, trút sạch một tấm lòng yêu thương
loài người trên thực thể, há chẳng phải
chỉ còn một thủ đoạn khoa học làm khéo của
giống buôn loài người, giết người, buộc
người một cách văn minh "theo ý nghĩa dã
man" ư? Cuộc Duy Dân cách mạng của nòi Việt
muốn là một "Kultur Kampf" cho nhân loại
nguyên tắc toàn thế giới, nhân loại là một
nhân đạo toàn tính mà không còn những độc
chiếm hay tự do độc quyền như lối
English Liberty, hay Liberté Fran硩se, hay hưng Hoa diệt Di được
nữa.
TRƯỜNG HẬN
Ðây là mối dằng dặc trường hận của
cả một vũ trụ trường hận, tấm lòng
của cả một mênh mang sống vô bờ bến.
Còn gì nữa? Ðã nghe kêu: O horror! O horror! O horror! Ôi gớm
quá! Vũ trụ chỉ còn sau mỗi đổi đời,
thất thanh kêu gào rít lên như vậy trong đáy lòng
mỗi con người Phật. Bao nhiêu linh hồn cũng
như bao nhiêu thể sống chưa thành tựu đều
tìm một an ủi, một ôm ấp trong cái hoài bão lớn
lao của rỗng không vô tình đó. Một hữu tình
lớn lao? Không phải! không phải chỉ riêng một
loài người, một loài người con con, mỗi sát
na, mỗi vi trần đều là thể sống, sống
thực, cần phải thuyền từ, bác ái và tế
độ. Nhưng mà chính thế đó, chúng sinh vô hạn
lượng, tự cứu lấy mình không cứu nổi
ai. Mỗi phiền não rất lớn ở trong cái vô ý
nghĩa rất lớn của vũ trụ, lòng đại
độ mấu cứ vào cái ý nghĩa lớn trong cái
vô ý nghĩa rất lớn lao đó.
Chỉ có rỗng không là rỗng
không. Mỗi tư tưởng bắt rễ bén mầm
trong cái sầu thảm của rỗng không đó, sống
còn vô bờ bến. Hết cái bờ bến của vô bến
đó có một bờ bến viên mãn là sự yên lặng
rất sống, rất sáng, rất cơ, rất thực,
rất đẹp ngay trong đó là một công cuộc cứu
vớt ở vô cùng trong luân hồi vũ trụ đó.
Không, quyết không, thật không có cái gì là tài phán cuối
cùng của ai hết; không ai làm chúa hết, chỉ có
lòng Phật làm chúa mà thôi!
Tất cả vũ trụ phải
được cứu, sự cứu vớt ấy luôn
luôn không dứt. Mỗi vi trần và mỗi sát na hờn
oán, đau khổ, tối tăm, mê mẩn, sợ sệt,
tức bực là chỉ đều quay về hết lòng
từ bi vũ trụ, đã đồng nhất hóa với
cái bản thể vũ trụ rất sống, rất sáng,
rất cơ, rất thực và rất đẹp. Im lặng
và nhắm mắt lại, im lặng cứu lấy vũ
trụ hồn nhiên, cứu lấy, sao không cứu
được mau! Không cuộc cách mạng nào lớn
lao đến để cứu vũ trụ ư? Chịu
để cho vô thủy, vô chung giày vò mãi sao? Nhắm mắt
lại, hãy im lặng làm hết những cái anh có thể
làm được đi. Ðóa hoa xuân đã nở, đợi
mùa thu sang rọi ánh trăng tròn. Xuân với Thu luân hồi
nhau mãi, mãi mãi vũ trụ còn dằng dặc cái trường
hận đời đời! Thích ca đã thất bại
một cuộc cách mạng. Jésus, Lão, Marx đều
đã thất bại cả, để lại một bài
thơ Thu Nguyệt Xuân Hoa! Ôi gớm quá! Ôi gớm quá!
Ôi gớm quá! Còn gì nữa? Còn gì nữa?
Những lợi hại thị
phi, thiện ác, buồn vui, sống chết của vô thường!
Nhưng mà Phật hãy còn, còn luôn luôn, ngày ngày còn, mãi
mãi còn, còn luân hồi của cái vũ trụ trường
hận ấy. Phật vẫn còn, còn gì nữa? Ðâu là
Thích Ca? Chỉ còn có mỗi cái phiền não sầu thảm
của trường hận vũ trụ đời đời!
Còn cái phiền não đó, còn nhiều Thích Ca và là Thích
Ca những ai đã cứu được cái phiền
não đó. Tiếng gọi của Sử, như một tiếng
động vang trong sương ra tỉnh vào mê, không dứt
dào dạt với muôn đời gọi lên một hồn
nghĩa vụ. Sự đào thải với tái sinh qua
các cuộc mưa nắng Xuân Thu biểu hiện lên một
tình cảm, đó là tâm sự của Sử. Tất cả
những lời máu và thủ ký của Sử đó còn
lại với tiếng gọi và tâm sự của nòi giống
ở trong cái di sản toàn bộ của Sử. Thử hỏi
di sản của Sử có những gì? Cả một nòi
giống trên sự thực sống biết, sống tinh
thần và vật chất theo một phương châm dẫn
dắt bằng một linh hồn của sống ấy,
nghĩa là cả một thiên hạ hiện tại để
làm cho ngày mai và cả một thiên hạ ngày mai làm cho
ngày kia nữa. Tất cả những chuốt lọc
thiên nhiên và nhân vi trong đời người đã
để lại của quá khứ những gì làm nền
tảng và điều kiện cho ngày nay. Lê Văn Hưu
cũng như Trần Hưng Ðạo, Hàn Nguyễn Thuyên
cũng có ý nghĩa như Lê Thái Tổ làm nên cả một
truyền thống của dòng máu Việt.
Những chất liệu linh hồn
ấy đã hòa thân vào ý chí sống chung và cả đời
đời thành những lượng tử (quantum),
năng tử (neutron) hoạt động hơn, nó chuyển
động tất cả một kết cấu nguyên hình
chất (protoplasma) của
nòi
giống, một văn minh trọn vẹn và đầy
đủ, ví như văn minh đời Hồng Ðức
đặt cái cương thường trăm thuở (24
điều giáo hóa) làm đề cương cho pháp luật.
Dưới cái cương thường đó tổ chức
nên một sinh mệnh chung cả của đạo đức,
văn đức, vũ công và kinh tế. Lịch sử
còn chuốt lọc và mài giũa nên mỗi chủ lực
của đời thuở làm lõi chốt cho quốc dân.
Thế hệ ngày Bông Lau còn phục hoạt lại ngày
Bình Ngô, mỗi văn minh trên vận hành của Ðại
Việt ta không dứt bằng khởi điểm của
nó, không giờ phút nào ngơi. Chu Văn An cũng như
Nguyễn Du, di thần nhà Lê cũng như di thần nhà
Trần đều là những hạt giống khí tiết
và những mô phạm của chân tài tử chỉ có những
sĩ khí tiết và những chân tài tử, mới sống
được ở trong sự sống của hồn Sử
và quốc hồn.
Lý tưởng của Sử nở
lên như một bông hoa Tổ hồn, văn minh là như
thế. Hồn của Sử là hồn đáy tầng của
nòi giống, đáy lòng mỗi người, đáy sống
của Tổ Tiên truyền dõi mãi mãi. Hồn của Sử
thiên vạn cổ còn nhắc đi nhắc lại trên
truyền thống của loài người một cái ám
ảnh sáng ngời trong tâm lý.
"Tri ngã giả kỳ duy Xuân
Thu hồ"
"Tội ngã giả kỳ duy
Xuân Thu hồ"
Ôi! Cảm được thấu
cái tâm sự Xuân Thu đó nghĩa là sống bằng Hồn
Sử, không ra ngoài hồn của Ðạo, của Sử
muôn thuở. Trung với quốc gia, hiếu với nòi giống
"tôn quân phụ" trên nền nhất thống,
đòi cuộc độc lập, đuổi giặc xâm
lăng, trừ giống hủ bại, dẹp quân phản
động diệt đàn phá hoại, đòi nhất thống,
thảo loạn tặc, giữ nắm cương thường,
tôn trọng thể chế, làm chính lòng người, rửa
sạch tà thuyết với dị đoan, làm cỏ tà
đảng với gian đảng, tôn phù lẽ công,
sáng tạo lý cụ (outillage) và khí cụ (matériel), vót
nhọn vũ khí ý thức làm nên vô lậu quốc
phòng, chấn chỉnh văn minh chính nghĩa, làm nên tĩnh
độ hòa bình đấy là sứ mệnh của
Xuân Thu. Ôi! Công việc của thánh với vương,
nhưng mà trách nhiệm của bố cu mẹ đĩ
hết cả với cuộc hưng vong tồn tục của
loài người và của nòi giống. Người ta
cũng như con vờ, sống ngắn ngủi như thế,
nhưng mà sống vô cùng, vì loài người còn sống
mãi mãi, mỗi con vờ có ý thức và tư tưởng
là một tế bào hoạt động của sinh mệnh
Xuân Thu. Người ta cũng như con dã tràng xe cát bể
Ðông, nhọc lòng mà không công cán như thế, nhưng
mà là có công cán lớn lao vì loài người còn nhớ
mãi công cán của mỗi con dã tràng ấy! Người
ta cũng như con thiêu thân chui đầu vào lửa mà
chết. Nhưng mà mỗi sự hy sinh cho ánh sáng của
loài người là mở đầu cho mỗi đun
đẩy văn minh đó. Vai Atlas có ai khiến vác quả
địa cầu? Chu Văn An thế mà dâng biểu giết
nịnh! Những công việc đó đều là công việc
của Hồn Sử nghìn Xuân Thu, của tất cả
loài người cũng như của mỗi dân tộc.
ÁI HOA
Tất cả những tài năng đạo đức
chỉ là hương thơm của đóa hoa Nhân Ái nở
mãi không tàn. Nhân ái một khi được sáng suốt
viễn kiến, chế độ hóa, thực tiễn
hóa, quy củ hóa mới chân thực là nhân ái có thực
hiện thực thể cho loài người và vũ trụ.
Ðóa hoa nhân ái là cả một kiến trúc lẫy lừng
của lý tưởng, cái lý tưởng lập thể
của nhân loại. Ðóa hoa nhân ái thấm vào thấu suốt
mỗi sinh mệnh làm cho những tiếng gọi sứ
mệnh, tiếng gọi vô thanh, vô hình. Chỉ có hương
thơm, hương thơm của nhân ái. Nhân ái mà cũng
đến bị bài xích, bị lợi dụng, bị
chiêu bài, bị đầu cơ, thôi hết cả! Mà
đến thế, trời đất mà đến thế.
Ai là những người kỳ ưu thiện ý?
Ðóa Ái Hoa còn là đóa trí tuệ
hoa. Bây giờ ta mới chân thực hiểu thế nào
là sinh tri. Sinh tri chẳng phải là nghiêm ngặt và
ấu trĩ đẻ ra đã biết, biết từ mới
đẻ. Sinh tri là trí tuệ tự sinh, sinh ngay bằng
sự bừng nở cửa trí tuệ. Chữ giác ngộ
của Phật cũng cùng một ý ấy. Tịch chiếu,
hội quan, quán thông, quán tưởng, trầm tưởng,
mặc khải đều là những thuộc từ của
sự sinh, sự tri... Phải là một sinh mệnh dàn dụa
nhựa sống, đầy dẫy ánh sáng của xuân
tình mới nẩy nở ra cái cơ sinh tri đó
được.
Ðóa Ái Hoa còn là đóa ngữ
hoa, giải ngữ hoa, giải hoa ngữ, ngữ giải
hoa, hoa với ngữ như sát chặt với nhau trên sự
thăng hoa tuyệt diệu và tột bậc của vóc
tinh thần thiết diện, linh thiêng ở những lời
hùng hồn của từ bi hay của nhân ái hoa là tri âm
hoa với tri âm ngữ, cái tinh kết của sinh mệnh
đời đời, khúc nhạc của vận động
thuở thuở.
Vườn xuân của đời
nhân ái hoa nở đầy lý tưởng hoa: xuân thu hoa,
ái hoa, tri âm hoa, trí tuệ hoa; tiếng đồn dậy:
tri âm ngữ, đồng chí ngữ, ái ngữ, lý tưởng
ngữ, vong quốc hoa (Nam Thi) phải là nhịp uyển
quỳnh đủ cả tình tang của muôn tiếng.
"Thiên hạ vạn nhi tranh hồng
tử"
"Thùy thức kiền khôn tạo
hóa tâm".
Người Việt tri âm hãy lặng
ngắm quốc hoa Việt, hãy đọc quốc ngữ
Việt, ái nhân, nhân ái, chúng ta mới biết được
rõ ràng là tri âm ngữ với tri âm hoa của Ái Hoa.
BẠCH VÂN
Những tầng lớp mây trắng bay đùa sao mà
xúc cảm thế. Hình ảnh của vận động
tang thương không gì não nuột và bực chán bằng
mây trắng.
"Tiết gìn thiên cổ tình
khôn dãi"
"Óc tính trăm năm gan dễ
phơi"
Mây trắng bay trên trời
không còn ngăm mãi ở lòng người, còn ngăm mãi
ở đời sống người, ngăm mãi trong thâm
đáy của dòng đời nay đã in bóng xuống nước,
mây bay nước chảy nhưng mà nước còn mãi
tâm tình mây. Những từng lớp thế hệ dằng
dặc kéo vào thâm đáy của quá khứ. Không, không,
thời gian không chảy xuôi, thời gian rút ngược
lại, từ bây giờ trở lại, từ ngày qua trở
lại, nó kéo dồn dập về sau lưng ta. Ta đi
xuôi, ngược lại cái sống ngược lại,
những tầng lớp thế hệ kéo ùa vào quá khứ,
nhưng mà hình ảnh và tác dụng còn tích cực khuấy
động đời đời.
"Trúc lụa đã dày phen trị
loạn"
"Son xanh còn chiếu dạ hơn
thua"
Những linh hồn xưa còn
ký ngụ vào làn Bạch Vân trên sử Xuân Thu không dứt,
những linh hồn của các tầng lớp chiến
đấu đời đời. Có những chiến sĩ
làm việc dương chu, có những chiến sĩ làm
việc âm phát, có người làm việc hữu hình,
có người làm việc vô hình, có những công việc
đã hiểu rồi, có những công việc vẫn tưởng
vi mang, có những tinh chỉ chế độ thúc đọng
lại, vùng vẫy hay tản mạn trong đáy dòng sử,
sống trong đáy hồn, đáy tầng.
"Kéo lớp lớp trên am Bạch
Vân
Mà còn cái gì? Những cái sống
Mà vì cái gì? Vì những cái bởi"
Người ta tưởng
tượng như đứng cung kính kiên thành trước
bậc đền Delphe, nghe cảm hứng lấy những
tiếng của đời xưa theo cái dòng sống người
ngược lại, cái dòng sử ngược vang vọng
lại hiện tại để mà nghe cảm hứng lấy
những tiếng vi mang đó ở trong mỗi động
tác, mỗi cái tầm thường, mỗi cái ngây ngốc,
mỗi cái ngu si, đến cả mê tín của đời
đáy tầng, tức là nghe cảm hứng lấy Tổ
hồn, Quốc hồn, Sử hồn, kể chi những
tiếng ai oán, những tiếng ước vọng, những
tiếng hằn học, những tiếng hò kêu, những
tiếng thúc giục.
Ý chí chi mà ý chí thâm
Ý ai mặc ý hóa công thâm
Ðương cơn lửa lạnh
thâm đầu rót
Chắc có còn thâm với hóa
tâm
Ở trước bàn thờ của
các thế hệ trước mà dân Việt đang còn
sùng kính, há không phải những tiếng thực tế
ư?
UYỂN HỒN
Thôi chúng ta biết cái tác dụng lịch sử tàn
ác, cái cấu tục sinh ra nòi Hồng Việt và bắt
nòi Hồng Việt than, bắt nòi Hồng Việt hỏi,
có ai giải cứu cho người Chàm, người Thổ,
người Mường? Chỉ có người Hồng
Việt. Ðau đớn thay dân Ngái, dân Mường, dân
Thổ, dân Mán, dân Kha, dân Mèo, dân Nùng nòi giống của
chúng ta. Một tiếng chuông chùa hồi thôi vừa hồi,
bây giờ không còn được nữa, chính là chỉ
đồng vọng tiếng khèn, tiếng hận của
Mế Hê, tiếng lòng của Khu Lân, Khu Lân người
anh hùng cứu quốc của Ðại Việt. Có ai biết
cái tiếng của đất nước nòi đường
ngược? Có ai còn nghe thấy cái tiếng ấy? Một
làn gió lạnh của Hồn Uyển!
Tôi đã không tiếc sao sinh ra
loài người Hồng Việt nữa, nhưng mà tôi
còn tiếc sao trong bao gian nan của tôi không cho tôi những
rỗi thì giờ đi bát bộ mẹng, đi hát trống
quân, đi hát đúm, đi hát ví, đi rước
nước, đi nghe đàn cồn, đi săn linh hồn
của tôi nữa, và nữa, vào cả những núi đá
kia, những vườn xanh kia, những đống củi
kia, những tháp tàn kia, những lều tranh kia, những
ruộng đỗ kia, để mà được hiểu
hơn nữa, và nữa, những linh hồn ấy nói
gì? Muốn gì? Hỏi gì? Tiếc mong gì? Nước chảy
xuôi, gió thổi xuôi! Còn trong không còn nữa, sống
trong không sống nữa! Ghê gớm chưa cái đãi lọc
muôn đời !!!
Ấy đấy, cả một
tâm trạng Bách Việt chỗi dậy sống lại
trên đời mới. Tôi không tiếc được nữa
tại sao chúng ta không sinh làm người Mường,
người Mán, người Thổ, người Lào
để cứ làm chủ nghĩa Bách Việt Duy Dân? Nhưng
mà đất nước hãy còn, không còn mà thực còn
ở trong lòng của cõi chết để làm cái đáy
vực, cái rốn bể của tiến hóa. Chúng ta cả
Bách Việt cứ giác ngộ Bách Việt và nòi giống
ấy là đã chân chính sống lại đó, sống
sâu sắc, sống triệt để, sống sáng quắc,
sống bộc liệt, sống oai hùng.
Người Phi Châu rồi sao?
Nói gì đến người da đỏ rồi sao? Ai hát
lại chiến ca của người da đỏ? Ai hát
lại xa xam của người da đen? Những câu hỏi
mỉa mai đó nó lật nhào hết cái đạo
đức kỳ quặc của văn minh thế kỷ
XVII, XVIII, XIX, XX Gia Tô lịch.
Người Atzèque sống lại
hay người Mexique trôi tàn? Âu Châu của nòi Hy La còn
mãi hay Âu Châu của người Barbares sống lại?
Ðều là những nghi ngờ thiên vạn cổ, hóa
công vẫn giải quyết ngầm.
X.Y. LÝ ÐÔNG A
3.
XUÂN THU
THỜI ÐẠI
Duy dân biện chứng đặt để nền tảng
của một lý luận đúng đắn về xã hội
với thời đại nó cắt nghĩa được
rành mạch và thực tại hết thảy hiện tượng
của lịch sử trên sự thực của sự thực,
chối bỏ được hết những sai lầm của
duy tâm, duy vật, duy sinh với thực dụng chủ
nghĩa.
Trào lưu của thời đại
gần đây gồm có ba:
1. Quốc tế cực quyền
chủ nghĩa (Totalitarisme International).
2. Quốc tế tư bản chủ
nghĩa (Capitalisme International).
3. Quốc tế cộng sản
chủ nghĩa (Communisme International).
Cực quyền nắm chủ
động được trước vì nền tảng
xã hội của các nước Ðức, Ý, Nhật: với
dòng sống lịch sử của họ quy định một
bước đi thời đại cấp tiến
hơn, ở đó có một chuẩn bị sớm và nắm
quyền chế phát. Ðến năm 1942 trở đi,
tư bản trở lại nắm được chủ
động từ trong nội dung kinh tế bền dai, rộng
rãi và tiềm lực của họ. Cho nên ngày Nga bị
lôi cuốn vào chiến tranh, rồi đến ngày Nga
tuyên bố giải tán Ðệ Tam Quốc Tế trước
khi Trotsky bị đồ đệ thân tín của hắn
va một búa ám sát (Ðệ Tứ Quốc Tế trong vòng
vỡ lở hẳn), và từ trước khi đó nhiều
năm, Cộng Sản không nắm được quyền
tả hữu của thời đại. Sự vận
động của lịch sử triệt để đào
thải sức đứng thứ ba, cho nên, nếu Cộng
Sản không bị tiêu diệt hẳn với Trục tâm
thắng, thì bị đồng hóa với Ðồng Minh thắng,
điều này đã dự đoán trước một cách
chắc chắn từ 1939, càng đi với thời cuộc
diễn tiến càng chứng thực không sót.
Sự đấu tranh gay gắt
của hai mặt trận chủ động cực quyền
và tư bản bằng tiêu hao, giết tróc, và kéo dài,
quy định nên một cuộc rối ren không thể bằng
sức người cứu vớt lại được,
nó làm cho dù bên nào thắng lợi trên chiến tranh cũng
sẽ thất bại đau đớn trên hòa bình; bằng
cái tình thế rối ren đó, cuộc đóng cõi
(frontières fermées) làm bằng cuộc hướng tâm cách
mạng dự đoán từ 1939. Những nguyên tắc
dân tộc và nhân tố tâm lý đi sát với diễn
tiến tất nhiên của kinh tế, văn hóa, chính trị
và xã hội làm cho hướng tâm cách mạng trọn vẹn.
Các dân tộc nhỏ yếu với các giai cấp đau
khổ lúc ấy sẽ là những lực lượng mới
ra sáng tạo một thời đại mới 2000.
Nguyên lý của dòng sống máu
một dân tộc có thể lấy cái nguyên lý của thủy
lực học (science hydrolique) mà chứng minh. Làn gió
đáy sẽ thổi dạt dào các luồng sóng đáy,
sức nước nguồn từ mỗi vỡ bờ sẽ
bằng tất cả cái sức mạnh của các bế
tắc thời đại với lượng nước
bị ứ tắc mà vỡ lở ra trong một phạm
vi quy định bởi sức lực, quy tắc và tinh
thần nội tại. Một cuộc nổ bùng 1793 và
Napoléon thức (éruption napoléonienne) sẽ đặt để
một văn minh Vạn Thắng mới của nòi Việt
từ muôn năm. Các lần vỡ bờ từ Ðinh, Trần,
Lê, Nguyễn Huệ sẽ tái diễn trên một nền
tảng to rộng và cao độ hơn bằng cả một
sức lực lịch sử và nhân chủng tích góp, theo
lý tắc Totem Rồng Tiên của Bách Việt vạn năm
trước mà giải quyết vấn đề Ðông Nam
Á, tức là Ðại Nam Hải Á Úc Châu một cách thỏa
đáng. Các nòi chi tiếng Môn sẽ lập lại một
trung tâm của sống còn mới.
Ấy, thời đại này
trên cái văn hóa quốc phòng khoa học, quân sự,
công nghiệp tư bản chủ nghĩa kinh tế, diễn
tiến bằng cái trào lưu là như thế, đặt
để bằng cái hình thế của giai cấp và
dân tộc toàn thế giới là như thế. Duy Dân biện
chứng pháp chối bỏ lối trông thời đại
của duy tâm là xâm lược với phản xâm lược
hay quốc dân chiến tranh, lại chối bỏ lối
xem thời đại của duy vật là tư bản với
vô sản hay giai cấp cách mạng, đồng thời
còn chối bỏ nốt lối xem thời đại của
thứ triết học duy sinh phiến diện
(superficielle), bình diện và thực dụng (empirique) là
chính trị đấu tranh thường phát sinh ra từ
hội nghị nọ hay hòa ước kia.
CHIẾN TRANH
Triết học duy tâm cắt nghĩa cuộc chiến
tranh này là do dân tộc tính ăn cướp của Ðức,
Ý, Nhật gây nên, bởi thế bóc lột hết thảy
các công cụ và các cơ năng chiến tranh của Trục
tâm là cần yếu, đồng thời các triết học
loạn đời với tất cả các tinh thần cừu
hận cũng phải làm cho mất tích.
Các nhân sĩ gọi là khai minh
hơn và lối triết học thực dụng duy sinh
cho là các nước dân chủ ăn no quá quên cả
phòng bị mà gây nên. Riêng phái duy vật cho và dự
báo trước bốn nguyên nhân:
1)
1) Ðế quốc chủ nghĩa
mâu thuẫn với đế quốc chủ nghĩa.
2)
2) Ðế quốc chủ nghĩa
mâu thuẫn với dân tộc bị bóc lột.
3)
3) Tư bản chủ
nghĩa mâu thuẫn với Tô Nga.
4)
4) Ðế quốc chủ nghĩa
từ trong nội bộ có tư bản giai cấp mâu
thuẫn với vô sản giai cấp.
Duy Dân chủ nghĩa chính đính
và chứng thực rằng cuộc chiến tranh này chỉ
là cuộc tranh bá chiến của hai mặt trận đế
quốc cực quyền với tư bản dân chủ giả
xúc tiến và chứng thực bằng lý luận và thực
tiễn của quốc phòng kinh tế trên các nền tảng
triết học của tư bản tái sinh sản chính
trị hóa (reproduction du capital). Trật tự mới của
Âu Châu, trật tự mới của Á Châu cũng như
khu vực tổ chức tập đoàn kinh tế trên
các hiệu triệu chiến tranh của chính trị
địa lý học, đi theo với thuyết sinh tồn
không gian (espace vital) hay tiến lên một bước là
thế giới liên bang (Fédération internationale) có một tổ
chức đằng sau phải là một hậu thuẫn
bằng vũ lực, đấy là mục đích tác chiến
của cả hai phái trong giai đoạn thế kỷ hai
mươi này (sẽ nói rõ trong vấn đề Chiến
Hậu). Sự khống chế thế giới phát sinh từ
cái nhu yếu của mỗi dân tộc đã đến
cực điểm của văn minh tư bản và vật
chất. Sáu vấn đề nền tảng của thế
giới (xem tuyên ngôn ngày thành lập Tổng Ðảng Bộ)
ví như không giải quyết được triệt
để thì vô luận một hiệu triệu giả
dân chủ hay giả chính nghĩa nào cũng chỉ là
ngoài mặt để che lấp cho sự thực của
phát triển xấu xa và tội ác tự nhiên tất có
của văn minh cũ đã thối nát.
Nếu nói cuộc chiến tranh
này là thần thánh chiến do cái mâu thuẫn của
đế quốc chủ nghĩa mâu thuẫn với dân
tộc thuộc địa thì chỉ là nói mơ, hoặc
tiến lên một bước là thay đế quốc
đánh lừa dân thuộc địa cho tưởng có
phần vinh dự của mình vào để mang nhân mệnh
và tài sản ra đỡ đạn cho ăn cướp
lịch sử.
Tội tình! Sự phân tán một
đống của có phải là ở kẻ có của yếu
ớt gây ra sao? Cuộc chiến tranh lần này dân tộc
nhỏ yếu là chủ động gây nên với đế
quốc? Cuộc mâu thuẫn giữa dân tộc thống
trị với bị thống trị là động cơ
của giặc giã? Dân tộc bị thống trị có
đủ vũ lực và chủ động ra tuyên chiến
với đế quốc? Một dân tộc từ thiện
nào để cởi mở cho các thuộc địa bị
đè nén mà gây chiến tranh? Muôn lần sai, nghìn lần
lầm.
Chỉ có một cuộc chiến
tranh thuần túy do mặt trận thế giới các dân
tộc bị áp bách đánh giết mặt trận
ăn cướp thống nhất mới gọi là cuộc
thần thánh chiến tranh đó.
Có người nói Trung Hoa đánh
Nhật Bản, đó là tiền tiến và đặc chứng
của trận giặc lần này, có biết đâu Tàu
với cuộc cách mạng Tân Hợi chỉ là một nước
"Thiên hạ chủ nghĩa" lối cũ,
đế quốc chủ nghĩa lối Á Ðông để
thích ứng với cách thức và đường lối
mới của đế quốc chủ nghĩa mới là
xâm lược chủ nghĩa lối Âu Mỹ, trong giấc
tự tỉnh của "con sư tử ngủ"
tự trở mình dậy để đi kịp trên con
đường chinh phục mới mà quán triệt cái
truyền thống tanh hôi của mình theo lịch sử,
cái đó chứng thực với bức thư kiến
nghị của Tưởng Giới Thạch gửi cho Tôn
Văn yêu cầu mặc nhận hiện trạng ngũ tộc
ở Tàu và bỏ chủng tộc cách mạng đi
để quán triệt mục đích Hán bằng chiêu
bài, bằng quốc dân cách mạng, lại chứng thực
bằng ý chí, thái độ và hành động khi cách mạng
của chính phủ Tưởng mà biết chắc.
Lại có người nói cuộc
cách mạng Ấn Ðộ là đặc điểm cuộc
chiến tranh này, có biết đâu là trên sự thực
và phản ảnh của sự thực ấy là bao nhiêu
lần thanh minh của chính phủ Anh, Ấn Ðộ chỉ
là vấn đề nội bộ trong đế quốc
Anh. Khoảng 1940 đến 1942, từ lúc Nhật Bản
để gót đến Miến Ðiện, trực tiếp
uy hiếp cửa ngõ cái kho lúa của Anh, với Ðức
đánh sát vào Caucasie, hai bên hò reo xông vào cướp giật
hạt ngọc trên đế miện của Anh, lúc bấy
giờ vì chính lược và chiến lược thế
giới, Ấn Ðộ trong địa vị cố nhiên
trọng yếu của mình cho số phận toàn thế
giới tư bản mà được Tàu, Mỹ, Nga chú
ý mà hô hào thôi, há phải là Ấn Ðộ gây ra cuộc
chiến tranh này? Ðức, Nhật cuối năm 1942 hết
sức và thất bại trong kế hoạch hội sư
ở Ấn Ðộ. Ấn Ðộ vấn đề cảm
thấy thế nào? Ấn Ðộ địa vị lại
trở lại một nội bộ nhỏ xíu, bị
khinh miệt, bị giày vò trong đế quốc Anh vậy.
Nhưng đứng về mặt Ấn Ðộ cách mạng
mà nói, thực tại Ấn Ðộ chẳng tán thành Anh,
cũng chẳng tán thành Ðức với Nhật. Ấn Ðộ
chẳng tán thành một cuộc chiến tranh nào duy trì
đặc quyền (Nehru). Ấn Ðộ đứng dậy
cởi mở cho toàn thế giới bị bóc lột kể
cả người da trắng bên trong bằng sự chiến
tranh với toàn thế giới (Gandhi). Thái độ với
ý chí ấy chính là đại biểu cho con đường
đi đúng đắn của dân tộc nhỏ yếu
suốt địa cầu, tiếc Ấn Ðộ chẳng
phải là sức liên hợp to tát tất cả các dân
tộc đó, lúc này chẳng phải là đại bản
doanh của mặt trận ấy, cũng chỉ là tiên
phong và cục bộ nhỏ của mặt trận ấy
chưa hết lộ mặt mà thôi. Còn nếu như nói
có dân tộc nhỏ yếu nọ, dân tộc thuộc
địa kia tán thành mẫu quốc hay lãnh đạo
quốc, hết sức tham gia cuộc chiến tranh này
để mong có một thí bỏ về giải phóng hay
độc lập, sự tán thành đó bằng vô tri hay
ngơ ngác, hoặc là cử động đầu cơ
của một lũ hoạt đầu, hoặc bị
đè nén cực chẳng đã phải đem con, em, gạo
lúa... của mình nộp cho đế quốc, chẳng phải
một phần ngàn nào đại biểu được
lịch sử và ý chí của toàn thể dân chúng đó.
Ðế quốc chủ nghĩa mâu
thuẫn với Tô Liên ư? Tô Liên trên cái hiện thực
của phương châm dân tộc tư bản tập
trung chủ nghĩa chẳng phải là cớ của cuộc
chiến tranh này. Tô Liên chỉ là một phần tử
lạc loài và phản động không bị tiêu diệt
bởi cực quyền thì bị hỗn hóa với tư
bản quốc tế. Tô Liên trong cuộc chiến tranh
này chỉ là thứ yếu và bị động. Sách lược
gia truyền của Lénine là đợi các đế quốc
đánh nhọc lả sẽ một tay hoàn thành cả
cách mạng vô sản hoàn cầu đã thất bại.
Những hành động bất trí trong ngoại giao với
Nhật, với Balkans (đứng địa vị khách
quan của mặt trận vô sản thế giới mà
nói) đủ tỏ rõ cái bàng hoàng của Tô Liên đứng
ngã ba. Tô Liên trong cuộc xâm Ba, xâm Phần và càng ngày
càng đi sát Anh, Mỹ, Tàu, càng tỏ rõ Tô Liên chẳng
phải là thế giới đặc biệt, đi đôi
với chính lược lui một bước lên hai bước
chỉ có thực tiễn thất bại. Ai bảo Tô
Liên là chủ động? Ai bảo Tô Liên là tổ quốc
của toàn vô sản thế giới? Lại nói các mâu
thuẫn nội bộ của tư bản với vô sản
giai cấp trong mỗi đế quốc làm nên trận
giặc này? Vô sản Anh vì Anh, vô sản Mỹ vì Mỹ,
Ðức vì Ðức, Nga vì Nga, Tàu vì Tàu, Nhật vì Nhật
trong cuộc quyết thắng của vận mạng giống
nòi với cuộc đánh bạc máu sắt ngày nay. Cộng
sản Anh yêu cầu từ 1921 tới nay bao lần vào
công đảng đều bị cự tuyệt. Sự
im lặng của toàn vô sản thế giới đối
với Nga vào trận, sự ám sát Trotsky bởi đồ
đệ thân tín càng làm cho cuộc cách mạng thế
giới càng chậm lại thế kỷ. Sự đột
nhiên giải tán đệ tam quốc tế càng chứng
thực. Các Cộng Sản đảng các nước từ
bao năm nay mỗi ngày mỗi xu hướng vào cách vận
động bằng hình thái dân tộc càng được
chứng nhận. Tình thế các giai cấp toàn thế giới
càng cho ta một nền tảng phán đoán đúng chắc
nữa (Xem nói về Cộng Sản ở dưới). Các
cuộc bãi công ở Pháp (Marseille và
Cuộc chiến tranh đã thế
cũng chẳng phải là do tính ăn cướp của
một vài dân tộc, hay do sự ăn no ngủ kỹ của
một vài nước trọc phú. Nó có một căn
nguyên lịch sử của Duy Dân biện chứng pháp.
Cuộc chiến tranh này thuần
túy là cuộc tranh bá chiến của hai phe đế quốc.
Sự thất bại của họ trên hòa bình chính là
thời cơ nhằm đúng của hướng tâm cách
mạng, một con đường mới cho đời sống
thế giới mới trên con đường lịch sử
phải đi triệt để của các nước nòi
nhỏ yếu hợp với giai cấp bị bóc lột,
chỉ có thời cơ đó chân chính là một dịp
sống mới của loài người mới thuế biến,
đột biến và đặc biến.
CHIẾN HẬU
Cái nhược điểm của trào lưu Cộng
Sản tức là đệ tam quốc tế dưới
những áp bách của hình thế thực tiễn mà giải
thể (1942) sau khi cái nhược điểm của Dân
Chủ Cộng Hòa trận doanh là Pháp bị đả
đảo (1939). Nhược điểm của Phát xít
trận doanh là Ý Ðại Lợi vỡ lở năm 1943
(8/1943) mở đầu cho cái nhược điểm to
lớn nhất, bên nào cũng phải cần, cần
để rồi không tránh được đó là sự
thắng trận. Như đã nói từ 1939, chủ động
giật lại phía Dân Chủ tư bản thế giới,
mặt trận từ sau này mà đi tròng trành giữa lợi
thế về chiến lược trên địa giới
của Nhật với bức lũy sắc Âu Châu của
Ðức. Ðức có thể thua được trong ngoài
1945. Nhật bị nội bộ Ðông Á giải thể
trong ngoài 1946. Từ đấy thống trị bởi sự
thắng trận. Thắng lợi là chuyện tất yếu
của chiến tranh, sau đấy nó có thể mang đến
sự thất bại của hòa bình. Anh với Mỹ có
thể liên hợp thành một chủng tộc liên bang, lấy
kinh tế ra đè ép và buộc chặt thế giới,
hoặc Anh vẫn là Anh đế quốc kiên quyết cự
tuyệt những nguyên tắc Ðại Tây Dương
ứng dụng vào nội bộ của mình, Mỹ vẫn
là Mỹ đế quốc thực hành xong "monroisme"
mà cương quyết đòi môn hộ khai phóng toàn thế
giới. Hai đế quốc ấy đứng trên một
hàng trận có mâu thuẫn bên trong như thể chia
đôi bá quyền toàn thế giới. Sự giải quyết
chung nhau của Anh, Mỹ với vấn đề Nga xúc
tiến nên hội nghị Moscou (10/1943) ở đây Anh, Mỹ
muốn cho xong vấn đề Ðông Âu, Nga đánh Nhật
và đánh Ðức một thể, vấn đề Turquie
và Cận Ðông, Anh với Mỹ trong cuộc lãng giải,
như là khắng khít như thế, thực tại vì
đại địch đương tiền, đại
địch hiện nay là Ðức, Ý, Nhật, đại
địch tương lai là Nga, đại địch giả
định cho tương lai nữa là Tàu. Tàu tuy bị
gọi là một trong tứ cường nhưng mà sự
lãng bỏ khinh miệt với sự dè dặt và sự
đề phòng càng ngày càng phải tăng. Cái hình thế
nước Tàu phóng trông ra tương lai, 20 năm sau
1944 chẳng hay ho gì. Những dã tâm của Tưởng
Giới Thạch biểu hiện từ trong ra đến
ngoài rất đáng kinh khủng cho toàn nhân loại. Những
vấn đề Tàu yêu cầu chiếm lĩnh Việt và
Hàn ở
Họ đề phòng hết cả,
dự kế hết cả, nhưng mà có một thứ
ác hại nhất, lớn lao nhất, và đại địch
nhất của hết thảy thắng trận là sự
thất bại trên hòa bình một cách đau đớn.
Những trào lưu anarchy về kinh tế, xã hội, văn
hóa và tâm lý sẽ chạy từ những nước thắng
trận ra ngoài để gặp những sự thực
anarchy đã hình thành trên khắp các nước bại
trận đưa đến sự đóng cõi và phản
tỉnh cần cho mỗi nước. Cuộc đấu
tranh thực tế của các nước nhỏ yếu lúc
bấy giờ mới thành tựu nổi lên. Tàu sẽ
trở về một cuộc nội loạn và ngoại
hoạn để có thời gian cho Á Châu sống lại.
Họ sẽ thắng lợi
trên chiến tranh, nhưng sẽ thất bại trên hòa
bình, cái thất bại mạn tính (chronique) tới ba, bốn
mươi năm, nó cần họ tự cứu tế một
cách khổ nhọc và đau đớn như bị chứng
thần kinh suy nhược.
Các dã tâm, âm mưu, mắc lên
những cơ quan và kế hoạch sẽ đổ sụp.
Loài người bằng sự phản tỉnh và phục
hoạt sẽ tu chỉnh lấy lịch sử của
mình.
PHỤC HOẠT (Renaissance Việt)
Có những bờ đê chắc chắn ngăn be hết
sức chảy của dòng nước, để dòng nước
ấy từ trên nguồn sa xuống, hợp với lượng
nước ba bảy sông ngòi dồn lại đóng vạnh
đáy và bằng luồng sóng đáy sùng sục nổi
lên, chọc thủng hết, phá vỡ hết, để
theo dòng chảy của mình.
Ðời sống lịch sử của
một nòi giống cũng vậy. Từ 1940, nòi Việt
có thể nói, bốn bề đều là quân địch
hay là sức can thiệp tới quyền lợi và đời
sống Tổ Tiên với con cháu tối thiêng liêng của
mình và bởi những bàn tay với những ý chí ô uế
nhúng nhớp vào để sẽ chạm vào đáy hồn
và danh dự của chúng ta. Lúc ấy, từ bốn phía
quân địch đó, ở trong khói lửa và bụi bặm,
chúng ta sẽ vạch ra, chọc thủng và phá toang con
đường đi. Con đường đi ấy là
lối sống chính trị và lịch sử trên quốc
dân và thế giới của chúng ta, Vạn Thắng như
Vạn Thắng ngày xưa, mà tiến lên mục tiêu của
dân tộc.
Sự Phục Hưng đi
đôi với sự Phục Hoạt
Máu đi liền với ánh
sáng của óc.
Phục hưng và phục hoạt
đều từ trên nền tảng bản thân của
xã hội ta trong kết cấu của nó phối hợp
với những điều kiện yêu cầu của dân
chúng và thủy chuẩn của văn hóa ta, suy động
trong tiềm năng, tiềm thức mà đột hiện
lên bởi cái để uẩn sâu sắc của nhân chủng.
Sự phục hưng và phục hoạt của chúng
ta trên tính chất quy định của nó là đột
biến, đặc biến và thuế biến.
Bởi đột biến cho
nên phục hưng và phục hoạt mới anh hùng
Bởi đặc biến
cho nên phục hưng và phục hoạt mới sản
sinh ra một văn minh mới, bằng cái văn minh
ấy sẽ xây dựng một xã hội và thời
đại mới.
Bởi thuế biến
cho nên sự phục hưng và phục hoạt mới
dân tộc, mới Việt. Lý tưởng Việt như
đóa hoa thơm mọc từ sâu xa trong đáy hồn của
Tổ, đáy tầng của Dân và đáy lòng của Sử.
Sự phục hưng và phục
hoạt ấy là Duy Dân Thắng Nghĩa diễn ra bằng
một dòng nghệ thuật tất cả những điệu
nhịp sống của Viêm Việt Vạn Thắng.
THẮNG NGHĨA
Trong cái sứ mệnh lớn lao và đột nhiên như
lời Ðức Chúa ban cho Moise nào sai ra cứu thế,
phục hưng và phục hoạt bằng tất cả
và là tất cả. Một Lẽ Sống trên Lẽ
Thật, một Ðường Sống trên Ðường Thật
chỉ vạch ra, dựng dõi lên, rồi lại xây đắp
thành một thực thể của lý tưởng, tự
trong phản ảnh ra huy hoàng tất cả một văn
minh và làm sùng sục sôi tất cả một nguồn sống
máu.
Chủ trương thời
đại không đủ, phát quật và phát huy
được cái để uẩn của một văn
hóa để cho người ta sống no và sáng mới
đủ.
Chủ trương thời
đại không đủ, phải nắm giữ và vận
dụng được cái căn cứ của một cái
chủ trương đó mới có ích.
Chủ trương thời
đại không đủ, phải có được các
đồ lề tinh thần và phương pháp học
thuật để tìm vạch ra, nó mới chắc chắn
và sáng láng. Lại còn phải có đủ các vũ khí
của ý thức để phòng vệ cho nó, chỉ huy
nó trên mặt trận, bổ thụ cuộc thắng trận
cho nó mới đạt được tới một hiệu
quả của dự cầu nào của nó đấy.
Cách mạng, chính trị và kiến
thiết phải nối liền và hợp nhất vào một
tinh thần và luật tắc chỉ huy nó, vận dụng
nó, nắm giữ nó và hiểu biết nó.
Lý luận và thực tiễn phải
thống nhất trên một lý tắc trọn vẹn,
không chướng ngại, không bẻ vặt, không phụ
họa và gia giảm.
Thắng lợi phải nắm
giữ được thực thể rồi trước
khi ra trận.
Họ đã thắng lợi
trên chiến tranh nhưng rồi thất bại trên hòa
bình. Nếu dân tộc ta không có một nhỡn quang sáng
suốt thì hoặc cũng sẽ được thành
công trên cách mạng nhưng tất sẽ thất bại
trên kiến thiết, hoặc sẽ được thắng
lợi trên kiến thiết mà thất bại trên chính
trị.
Cách mạng, kiến thiết
và chính trị cần phải có hướng
thượng, cần hơn cả sự thành công chợp
qua. Chủ trương của thời đại có thể
thành công nhưng kiến thiết và duy hệ sự kiến
thiết và kéo dài sự kiến thiết ấy trên hướng
thượng, tức là chính trị không được
chỉ đạo bằng cả một để uẩn
của lịch sử và cả một thể hệ của
triết học, khoa học với thuật học, thống
nhất, sâu dày, đầy đủ, cặn kẽ,
đúng đắn và tiến bộ thì thế nào cũng
thất bại.
Chúng ta còn phải lấy một
con mắt công, con mắt thời đại, nhân loại
và lịch sử, con mắt của khoa học khách quan
mà phán đoán, đừng để bị che lấp bởi
ý thức hình thái của một thể chế xã hội
và văn hóa nào mà bỏ mất lập trường siêu
nhiên và thiêng liêng, nó còn là một quyền lợi của
trí tuệ hưởng dụng, của sức phán đoán
quyết định và hành động. Chỉ có khi nào
ta tự làm chủ, đừng để trụt xuống
làm tôi đòi trước cái ý thức và văn hóa,
chúng ta mới thực biết làm chủ của vũ trụ,
văn hóa, xã hội, văn minh và thời đại. Cho
nên chúng ta đừng vì đi học Anh, Nga, Mỹ, Ðức,
Ý, Nhật, Pháp, Tàu mà vội vàng đứng vào lập
trường những người đó, đối với
sự vật gì, trên nơi nào và thời nào vội
buông lời phán đoán, hay vội đứng sang chủ
trương mình.
Hiểu tức là nghiệm,
đuổi theo. Như thế hiểu một thời
đại, nghĩa là phải lấy con tâm và con mắt
lịch sử, nghiệm qua các thời đại để
mà đứng trên nền tảng với điều kiện
đó để mà hiểu thời đại đó. Lại
còn hiểu một văn hóa nơi nào, nghĩa là phải
lấy con mắt và con tâm quốc tế nghiệm qua các
văn hóa mọi nơi để mà đứng trên nền
tảng và điều kiện văn hóa nơi ấy mà
hiểu. Tức cũng như hiểu một người
nào, cần phải đem con mắt và con tâm để
nghiệm trải nhân tình, thế cố, mà đứng
trên nền tảng, điều kiện và lịch trình
đời sống người đó mà hiểu.
Chúng ta cho nên, để mà phục
hưng và phục hoạt, phải lấy một con mắt
nghiêm ngặt Việt, đứng siêu nhiên trên lập trường
Việt, thi thiết bằng những chính sách và kế
hoạch siêu nhiên và nghiêm ngặt Việt, có một
thái độ nghiêm ngặt và siêu nhiên lịch sử Việt.
Như thế thì khoa học phục tùng chúng ta, triết
học, thuật học và lịch sử phục tùng
chúng ta để chúng ta trên nền Người uốn bắt
cho cái danh nghĩa và sự cố Việt phục tòng
danh nghĩa và sự cố Người (cause humaine).
Dù sao phải có một ý thức
thực tại và khách quan.
Lý tưởng tự đó mà
mọc rễ, ăn sâu trong để uẩn của lịch
sử vận hành. Duy Dân chủ nghĩa, nghiêm ngặt
trong ý nghĩa Việt trên cách mạng, chính trị và kiến
thiết của Tiểu Việt và Ðại Việt, khoan
đại trên ý nghĩa Người trên triết học,
khoa học và thuật học, hiệu lực trong ý nghĩa
công cụ, phương pháp và vũ khí của văn hóa.
Duy Dân chủ nghĩa là sự
phục hưng và phục hoạt tất nhiên và tiên tri
cho nên gọi nó là Thắng Nghĩa, nghĩa là thắng
hết các chủ nghĩa, vạn thắng cả trên vật
chất lẫn tinh thần.
TAM DÂN
Người Á Ðông, nhất là những người
trong hệ văn hóa chữ Nho, ai đã đi, tất biết
đến chủ nghĩa Tam Dân mà Tôn Văn, người
sáng tạo ra nó, gọi là một chủ nghĩa cứu
quốc còn là một chủ nghĩa cứu thế giới
nữa.
Nhiều nhà cách mạng Việt
ca tụng và sùng bái cái chủ nghĩa này lắm.
Người Tàu đã tôn Tôn Văn
lên làm quốc phụ, chủ nghĩa Tam Dân còn là những
"nguyên tắc quốc sách tối cao" đủ
biết thế nào.
Người Tàu còn chực dẫn
dắt một cuộc vận động ở Tàu gọi
là phong trào quốc tế của chủ nghĩa Tam Dân.
Tôn Văn lại còn được
người ta tôn là đạo sư của cách mạng
cho các dân tộc nhỏ yếu, cố nhiên chủ nghĩa
Tam Dân phải ở địa vị chỉ đạo rồi.
Nhưng mà cái thùng "tả
pí lù hẩu lốn" đó, người Tàu lại
đánh cho kêu, rồi lại la hò rối rít, đối
với thế giới phải nên coi đó như trẻ
con ta đánh cái mẹt để cứu mặt trời
khỏi bị mặt trăng ăn mà thôi (nhật thực).
Tam Dân có thế giới tính?
Ðó chỉ là một chủ nghĩa của một dân tộc,
trong sự thật rất nghiêm ngặt của các phụ
tính của dân tộc, nhất là dân tộc Hán trên con
đường phát triển của nó bằng những nền
tảng và điều kiện thời đại quy định
ra nó sẽ có những đặc tính của nòi giống
và đặc điểm của lịch sử kết hợp
nên mà làm kim chỉ nam của một chính trị lộ
tuyến đặc thù.
Nó là một chủ nghĩa dân
tộc, dân quyền với dân sinh, chẳng qua là những
chính trị hình thái, chính trị kiến trúc và chính trị
quy tắc trong nội bộ của chủ nghĩa dân tộc
của nòi Hán đi lên đường. Chủ nghĩa
ấy là chủ nghĩa gì? Ðúc các dân tộc vào một
lò để thống nhất thế giới (Tam Dân giảng).
Bằng cách gì? Chủng tộc xâm lược hay bằng
chủng tộc vũ khí như nghìn xưa. Chủ
nghĩa ấy sản sinh ra một xã hội hình thái gì?
Dân quyền là một thứ quốc dân dân chủ
chuyên chính mà một đảng (phải là Quốc Dân
Ðảng Tàu) cầm quyền mãi. Dân sinh là một thứ
quốc gia tư bản cực quyền mà bọn tài phiệt
và nho sĩ phải làm trung kiên. Thứ chủ nghĩa
ấy đi đôi với sự lũng đoạn chính
trị của Tưởng Giới Thạch và bọn
đầu trùm Quốc Dân Ðảng (quân, tài phiệt)
đã thành ra một cái chiêu bài nhân đạo rất lớn
ví như cái mạng nhện mắc chết bao nhiêu con ruồi
vong quốc Việt, Hàn. Lại, trên chính trị hiệu
triệu khoáng trương dân tộc ra đến quốc
tộc, từ quốc tộc đến quốc quân, chia
xâm lược lộ tuyến ra tám đường diệt
vong dân tộc nhỏ yếu.
Tam Dân trên chính trị là một
học thuyết như vậy. Nếu lấy ý nghĩa
đúng đắn của triết học mà nói, nó khó
thành và khó đáng gọi là một chủ nghĩa. Nó
chỉ có thể gọi được là ba nguyên tắc
quốc gia xã hội, mặc dầu kẻ sau hết sức
nối liền Tam Dân với học thuyết Khổng Tử
và truyền thống của Tàu, nó biểu hiện rõ rệt
trong cái thời đại khô khan vì dã tâm, một chứng
bệnh bẩn óc rất ghê gớm. Những lý tắc
duy sinh nằm trong Kinh Dịch và Trung Dung được
phát quật lên để hàn liền chủ nghĩa duy
sinh với triết học duy sinh mới (Trần Lạp
Phu) và cũ (Kinh Lễ, Lễ Vận) của Tàu để
mà lại lúng túng với sự gắn khớp những
nguyên lý đó với dân tộc và dân quyền mặc dầu
Tàu vẫn tâng bốc Tam Dân là có liên hoàn tính. Lại sự
hấp thụ ăn không nhai kỹ và tiêu hóa không thông
đối với các khoa học mới đem dính vào sau
Tam Dân trông càng mâu thuẫn, đeo càng lẵng nhẵng,
tất cả những cái đó càng làm cho óc người
Tàu không có một hệ thống và tổ chức
được mà thôi. Sự phát minh kiến thiết
giai đoạn luận của Tôn Văn có thể ví như
sự phát minh cách mệnh giai đoạn luận của
Lénine, chỉ là những liều thuốc cứu cấp
cho một học thuật với một dự kế
không trọn vẹn, tự trong mâu thuẫn nó làm hư
phí cả tinh nghĩa của biện chứng đó
đi.
Nói tường tế về Tam
Dân hoặc có một dịp khác, đây cần nói, chỉ
là phê phán qua chơi những điều muốn để
cho quốc dân chú ý, nhất là hiện giờ đây có
một tụi người Việt có thể gọi là Việt
gian làm tay sai cho chính trị mục đích của người
Hán, cam tâm dịch chủ tái nô. Bọn ấy tự xưng
là tín đồ của kẻ chực đến xâm lược
đất đai ông cha chúng ta mong hòng để báo
ơn mẫu quốc và đưa dắt Tam Dân về
phía Nam, mở mang thêm những lãnh thổ mới kỳ
cho "phòng tuyến của dân tộc Hán suốt từ
Úc Châu đến Tân Gia Ba ở phía Nam đó".
DÂN CHỦ
Thanh niên lấy làm vinh dự để nói đến
dân chủ. Dân chủ ví như thần thánh "homo
res sancta homini", dân chủ là hình ảnh giàu có,
bình đẳng và khoa học.
Căn cứ của chủ
nghĩa dân chủ là chủ nghĩa cá nhân. Cho nên dân chủ
chính thể là kết quả chính trị của chủ
nghĩa cá nhân đó. Trong nước dân chủ phải
có tiền mới bình đẳng và sinh sản phải
tùy khoa học phát minh mới tiến bộ. Chế độ
tư bản dân chủ cố nhiên khi đầu mới
thay thế cho xã hội phong kiến thực là cứu thế,
nhưng đi đôi với tiến hóa của lẽ vô
thường, từ thương nghiệp tư bản tiến
lên công nghiệp tư bản làm cho trong nước giai
cấp ly chia và chính trị đảng tranh. Lại từ
công nghiệp tư bản tiến lên đến kim dung
tư bản, sự cần dùng thị trường nảy
nở ra đế quốc thực dân, từ đó đến
quân hóa tư bản gieo rắc chiến tranh cho thế giới.
Ðến mạt kỳ này, chế độ dân chủ xấu
nhất, nó làm cho nhân chủng linh lạc, gia đình linh
lạc, cá nhân linh lạc, ở đó mà quốc gia linh
lạc.
Sự cần yếu cho tái sinh
sản của tư bản nảy nở ra các hình thức
bế quan tỏa cảng lối mới như khối
Pound, khối Monroe, khối Yen và khối Franc càng suy động
cái dục vọng diệt chủng vong quốc người
khác bằng vũ khí kinh tế, và ở đó chiến
tranh; cũng ở đó là nguyên cớ chiến tranh chân
thực của kỳ này.
Vật hỏng tất phải
chữa. Wallace đề xướng ra lối dân chủ
mới trên truyền thống dân hữu, dân hưởng,
dân trị cũ của Mỹ. Dân chủ mới có năm
điển hình là: chính trị dân chủ, kinh tế dân
chủ, giáo dục dân chủ, dân tộc dân chủ và
nam nữ dân chủ.
Tất cả các kỹ thuật
cần dùng để xây đắp đời mới
ấy, tác giả không nói ngoài những phương án
hòa bình của quốc tế, nó họa may ấn định
được đời sống dân chủ đó.
Thế nhưng dân chủ phải
gồm các điều kiện toàn dân trực tiếp, tập
trung và chân thực, dân chủ ấy mới có thể vững
chắc được. Muốn thế, ta không thể
đề xướng ra một chủ nghĩa dân chủ
mới rỗng tuếch như trên. Ta phải tìm đến
tận cội rễ xã hội của nó mà chữa. Cho
nên lý tắc của dân chủ là "làm nghĩa vụ
đi để hưởng quyền lợi" (droit
et devoir). Song ta thấy nghĩa vụ không chìu người.
Muốn phục vụ hết nghĩa vụ, không có chỗ
để giả nghĩa vụ đó. Cho nên phải có
một lý tắc của dân chủ mới: "Có cơ
hội đó, làm nghĩa vụ đi để hưởng
quyền lợi" (chance, droit et devoir). Tất yếu
xã hội phải hoàn thành cái chế độ hiện
thực của cơ hội quân đẳng, nghĩa vụ
quân đẳng, quyền lợi quân đẳng mới có
thể có được đời sống dân chủ trực
tiếp, chân thực, toàn dân tập trung, thống quy dưới
một hình thái xã hội có lý tưởng, phương
châm, tổ chức và quy tắc, nghĩa là phải có một
kế hoạch dân chủ, hay là một dân chủ xã hội
hóa.
Xã hội là một tổ chức
nhân tính. Sự điều khiển nhân sinh phải bằng
một chính trị có một tác dụng tích cực là
thiết kế và chấp hành đi đôi với một
giáo dưỡng trọn vẹn và đầy đủ,
là khởi điểm và chung điểm của cái chính
trị đó. Cho nên một kế hoạch dân chủ và
một chế độ dân chủ xã hội hóa trọn
vẹn là xây đắp trên nền tảng của những
nguyên lý và quy tắc của bình sản kinh tế. Chỉ
có thế ý nghĩa xã hội hóa mới đạt
được những hiệu quả dự định
của nó trong phạm vi khoáng đại của nhân loại;
có thế, hiệu suất của đời sống loài
người mới một ngày một tăng tiến theo
cách thức và nguyên tắc của nhân loại học.
Chế độ bình sản kinh tế phải phối hợp
với một kết cấu xã hội hoàn toàn dân chủ
theo hết ý nghĩa rộng của nó.
Dân chủ làm cho loài người
bất tri bất giác thực hành chính trị dân chủ
trong cái tinh thần và tác dụng tối cao và sung sướng
của vô chính phủ.
Một kế hoạch dân chủ
phải làm trên sự phối hợp chặt chẽ cái
tinh thần của vô chính phủ, mới là dân chủ
chân chính.
CỘNG SẢN
Nhằm vào thời đại
Âu Châu thống trị tê liệt dưới máy móc và
giai cấp chia rẽ mà sản sinh ra cái triết học
duy vật đầy sáng kiến và cũng nhiều sai lầm
đó. Nếu kể lịch trình tiến hóa tới nay,
triết học ấy đáng là lạc hậu non 100 năm
rồi, nếu ngày nay phải nhắc lại mà phê phán
đó là vì cuộc cách mạng 17 với tất cả
những thất bại của đệ nhất, đệ
nhị, đệ tam, đệ tứ quốc tế, với
cộng sản đảng các nước. Bao giờ
xã hội còn giai cấp, tất còn những hiện tượng
với sự đấu tranh của nó. Căn cứ
của chủ nghĩa cộng sản là lao động
giai cấp đại chúng, đó là ý nghĩa xã hội
có thể gọi như một ý nghĩa chuyên môn. Trong
giai cấp đó, đại thể chia ra nông dân với
công nhân, nông dân đông hơn mà công nhân ít hơn;
ở đó chia ra cái mâu thuẫn mà là cái nhược
điểm chí tử cho chủ nghĩa vậy, mà cũng
ở đó khởi nêu cái ý nghĩa chua chát của cái
giai cấp ở trong có nội tại mâu thuẫn, gây
lên một sự phân hóa đau đớn giữa
vương giả lao động, quý tộc lao động,
bình dân lao động, lao động các nước lớn,
nước công nghiệp, nước thực dân đối
với lao động các nước nhỏ, nước
nông nghiệp và nước thuộc địa. Không những
thế, sự phân hóa ngay trong trận doanh cộng sản
trên vấn đề giai đoạn cách mạng, vấn
đề chủ lực cách mạng giữa nông và công,
chủ lực kiến thiết giữa nông và công,
một phần lớn đi đến thất bại, trên
sự thực của đấu tranh đã vùi dập dần
dà từ đệ nhất cho đến đệ nhị,
đệ tam rồi đệ tứ quốc tế.
Sự thất bại trên sự
thực của đấu tranh đó gây nên chủ yếu
là bởi sự sai lầm lớn lao của duy vật biện
chứng pháp: nó chia rẽ hẳn lý luận với thực
tiễn trong quá trình thực tiễn của thể nghiệm
lịch sử, đồng thời nó không thể giải
nghĩa một cách đúng đắn và nắm giữ với
vận dụng một cách thiết thực tất cả
những động cơ của lịch sử với luật
tắc của tiến hóa nhân loại.
Bởi cái bối cảnh phát
sinh của chủ nghĩa cộng sản là thời đại
của Anh, Mỹ, cho nên cái nền tảng xây dựng của
xã hội vô quốc gia đó cũng phải tùy tính chất
công nghiệp mà đặt trên một thế giới
hoàn toàn cơ giới hóa, công nghiệp hóa và điện
khí hóa.
Cái mục đích của chủ
nghĩa ấy như mọi cái tưởng tượng,
tư tưởng và không tưởng xã hội loài người
cố nhiên là tuyệt đối, là thiện mỹ nhưng
tất cả một thể hệ từ lý luận và thực
tiễn trên triết học, khoa học và thuật học
của cách mạng, kiến thiết và chính trị phải
cho hiện thực và lại lý tưởng mới có thể
thực hành được.
Kinh nghiệm của cách mạng 17 tỏ ra cách mạng
của cộng sản chủ nghĩa là thất bại.
Chính sách kinh tế mới đối với ba kỳ 5
năm kế hoạch đi theo với sự đi quay về
dân tộc tự lực, tự vệ và tự quyết
chủ nghĩa của Staline, sự tu chỉnh các chương
trình của đệ tam quốc tế tỏ ra kiến
thiết của cộng sản cách mạng là thất bại.
Sự bị lôi cuốn vào chiến
tranh, sự phân hóa trong nội bộ, sự miệt thị
các phân chi bộ coi như tung đội Nga, sự xâm lược
các dân tộc nhỏ yếu chung quanh tỏ ra chính trị
của chủ nghĩa cộng sản là thất bại.
Sự giải tán đệ tam quốc tế là một sự
kiện quan trọng có những nguyên nhân lịch sử
và xã hội học, ta cần phải phát biểu càng tỏ
cộng sản cách mạng là sai lầm. Thời đại
bối cảnh của sự giải tán ấy trông vào:
1)
1) Nội tại luật tắc
của cuộc kiến thiết Nga Sô Viết xu hướng
dân tộc tự quyết.
2)
2) Nội tại luật tắc
của cuộc chiến tranh hiện tại ở trong
trào lưu sô đẩy trên cái nền tảng giai cấp
ngày nay.
3)
3) Nội tại luật tắc
của bản thân đoàn thể đệ tam vì các xu hướng
về các cuộc vận động trên hình thái dân tộc
của mỗi cộng sản đảng mỗi nước.
4)
4) Áp lực của Anh, Mỹ
với nhu yếu về chiến lược của Nga Sô
bắt buộc trong thời kỳ ái quốc chiến với
Nazi này.
5)
5) Nhưng cũng coi là một
vẻ mặt và một chính sách "lui một bước
lên hai bước" một khi hoặc do trận này
dẫn khởi rối ren, hoặc chậm sau khi thế giới
này có thể đã bị thống trị dưới một
trận doanh quốc tế nào nhân là thời cơ thành
thục lại có thể xuất hiện ra bằng hình
thái đệ tam quốc tế sau năm năm, không thì
mười năm.
Ðó là lối xem của Duy Dân
chối bỏ duy vật biện chứng, nó tự bị
đào thải trong đường trường của lịch
sử thế giới và xã hội sống thực tiễn,
dân tộc là bản vị, giai cấp là cơ năng, sự
sống non một trăm năm nay càng chứng tỏ như
thế. Cho nên thế giới lao động cách mạng
quyết định là thất bại, có khi nó bị chết
nghẹt ngay trong thai nghén, có khi nó đẻ non ra.
Cái chết của Trotsky càng chứng
tỏ như thế.
BÌNH QUÂN
Ðược gặp các đồng chí lĩnh đạo
trong Ðại Việt Dân Chính Ðảng nên được
hiểu thế nào là sinh hoạt bình quân chủ nghĩa.
Tuy hiện nay các đồng chí ấy đã gia nhập
vào bản đảng phụng hành Thắng Nghĩa, sự
phê phán không phải là nói xấu, nó còn là những lời
cảnh tỉnh, cho nên ngòi bút của tôi không làm khách
được trước chân lý.
Sinh hoạt bình quân chủ nghĩa
chỉ có hai yếu điểm: đối bên trong làm
cho xã hội sống đều không có giai cấp, để
đối bên ngoài tranh đòi lấy một đất
sống với thế giới cho dân không bị thiếu
thốn. Tiếng chuyên môn của chính trị địa
lý là sinh tồn không gian (espace vital).
Chủ nghĩa bình quân muốn
căn cứ vào nòi giống hiện tại để lập
một nòi giống tương lai. Qua giọng nói của
các nhà lĩnh đạo chủ nghĩa ấy thì không
cần suy diễn lịch sử hay nguyên lý mà chỉ cần
đến những phương án thực tiễn và bàn
tay sắt là đủ. Sự thành lập đệ
tam Ðại Việt (Lý Trần là đệ nhứt, Lê
là đệ nhị), cũng na ná như sự thành lập
của đệ tam Reich. Sự tranh đòi không gian làm bằng
thủ đoạn luồng sóng di dân (vagues démigration) tức
là thủ đoạn vũ khí phát xít hay nazi của thực
dân địa. Xã hội làm sống đều bằng
thủ đoạn và vũ khí độc tài.
Chủ nghĩa ấy và đảng
ấy, từ học thuyết đến tổ chức và
hình thức (như hay dấu hiệu), đều quy
định ra trước bởi các thầy nazi và phát
xít. Thủ đoạn cũng noi theo, không có chi thay đổi.
Lòng ái quốc của thanh niên
nhiều khi vô lý, nhiều khi bồng bột, nhiều khi
lỡ việc, nhiều khi mù quáng: đấy gọi là
chauvinisme. Thêm vào chủ nghĩa yêu nước mù mắt
ấy, lý tắc thực dụng chủ nghĩa
(empirisime) không những đã nông nổi, bộp chộp,
phi khoa học, mà còn tỏ ra sự nghiệp mình mưu
đồ không được dẫn dắt bằng một
nhỡn quang cao đại; nó mới xứng để dẫn
dắt vận mệnh cả một nước nòi.
Chủ nghĩa nazi và phát xít
không thể thực hành được ở nước
ta cũng như thuần dân chủ, thuần Cộng Sản,
hay Tam Dân. Cái nền tảng xã hội ta với tất
cả các điều kiện văn hóa, kinh tế, khoa học
và quân sự không để cho ta, trong con đường
quốc tế tương lai, cư xử được
theo con đường đó. Kế hoạch đồng
nhân của chúng ta chính là một sách lược liên hợp
giải phóng của tất cả các dân tộc nhỏ yếu
trong Ðại Nam Hải cùng một huyết thống Viêm
và một văn hóa Môn từ muôn năm về trước,
nó là một chính sách cách mạng không phải là một
cương lĩnh xâm lược. Chủ nghĩa Duy Dân
của chúng ta là phục hưng và phục hoạt nòi giống
với văn minh Tiên Rồng, không phải là chủ nghĩa
chủng tộc xâm lược như nòi Hán, cũng không
phải là chủ nghĩa chủng tộc siêu việt như
Nhật Nhĩ Man.
Ðời sống của quốc
dân và dân tộc là toàn thể (trọn vẹn, không vá
víu lồi lõm) lại tích lũy (phát triển theo lịch
sử), nó như dòng nước chảy không dứt,
luôn luôn bồi chút cái nguồn sống theo nền tảng
và điều kiện các thời đại và khơi mở
con đường đi, không thể cắt ngang hay cắt
dọc lịch sử để lấy đâu làm xuất
phát điểm mà đi được cho đến
tương lai. Trong cái dòng sống không dứt ấy, người
Việt trong đời sống quốc dân, lịch sử
và thế giới ngày nay chỉ có thể nói được:
Ta sống cả một muôn năm ở trong ta, lấy
sức ngầm đó đứng lên chuẩn bị cho thời
đại 2000.
Mỗi chủ nghĩa là tinh hoa
của mỗi nguồn sống tập trung lại mà khai
hoa. Sự hấp thụ mỗi thứ tinh hoa trên tinh thần
giới chung đụng của loài người đó, phải
làm như con ong hút nhụy làm mật, chớ như con
bướm lượn cành mà chơi, cũng đừng
như lũ đồ nho nhai sách Khổng Tử không
tiêu hóa, hay lũ đồ Tây nhai sách khoa học không biết
phân minh.
Chúng ta chỉ cần mỗi phần
trong chủ nghĩa, trong điều kiện lợi ích của
dân tộc, châm đối theo nhu yếu của dân tộc
trên một trình độ nào và theo một phương
hướng nào.
Chúng ta nếu chỉ đi uống thuốc bậy
cũng bằng giá trị đi tự tử.
Nhưng nếu chúng ta bắt chước
Narcisse tự hoan hỷ với bộ mặt đẹp của
mình trên giếng cũng là đi tự tử.
X.Y. Lý Ðông A
4822 tuổi Việt
4.
BÔNG LAU
LÝ TƯỞNG
Cành lau bắt đầu tham dự vào cuộc sống
lịch sử của nước nòi chúng ta từ thế
kỷ thứ X, một vận đổi mới trong tang
dâu của Ðông Á, nhưng còn là một phục hoạt
lớn lao của Hồng Lạc với sự dựng lại
chắc chắn cái nền tảng vững bền của
độc lập cho quốc gia Việt thống nhất.
Trong hoàn cảnh gian nan khốn đốn ấy, với
bối cảnh chuyển biến gắt gao của quốc
vận Việt ấy, cành lau điểm trên thinh không
và thời gian một ý nghĩa và giá trị tuyệt vời,
cái ý nghĩa và giá trị sống đó đi đôi với
sứ mệnh và lý tưởng của Hồn Sử, Tổ
gốc gác và đáy tầng Việt.
Cái tên Ðại Cồ Việt xuất
hiện ra do cành lau, mà bắt đầu từ xung động
của hồn lau phát tiết ra hết thảy cái thực
thể lý luận của dân tộc. Cành lau dễ mọc
và dễ sống trên đồng lầy, giữa thôn
quê, trong bãi vắng, đi đôi với đời thiếu
niên thanh khiết của Ðinh Bồ Lĩnh, tỏ lộ
hết được đời sống thực tiễn
trên xung động thực tiễn của cái lý tính thực
tiễn của quốc dân trên lịch sử và thế
giới.
Những nhu yếu thực tiễn
từ ở những yêu cầu thực tiễn ẩn dấu
trong dòng sống tiềm lưu của bình dân, chỉ có
đại chúng mới thể nghiệm được chân
chính trong đáy hồn chủ nghĩa của dân tộc,
dẫn dắt và mở đường cho lịch sử
giữa nền tảng của thời đại sứ
quân. Cành lau là cờ hiệu chiến đấu của
nước nòi mưu cầu lấy thống nhất và
độc lập, vững trong và chống ngoài. Và cờ
lau đã thắng hết cả. Cờ lau thắng lịch
sử đô hộ hơn nghìn năm. Cờ lau thắng
đô hộ khủng khiếp, thắng đồng hóa
dã man, thắng tự trị ươn hèn, thắng chia rẽ
diệt vong, thắng uy hiếp trong ngoài, thắng tư
tưởng tối tăm, thắng nhút nhát, thắng phản
tỉnh không triệt để, thắng tất cả những
thất bại và hết thảy những đau đớn
của nòi giống dưới ách nặng nề và ma quỷ
của bốn bên, bởi cờ lau là cờ của Vạn
Thắng Vương, cờ Vạn Thắng.
Cho nên, cờ lau là cờ của
dân tộc Vạn Thắng, bình dân Vạn Thắng, chiến
đấu Vạn Thắng, thống nhất Vạn Thắng
và độc lập Vạn Thắng.
Cờ lau là cờ của Hồn
cũ tỉnh lại, Hồn và sóng đáy cuộn lên, cờ
giống nòi của Ðại Cồ Việt sống lại,
nối dõi cái thế hệ dân tộc đã dứt hơn
ngàn năm, xa hơn vạn năm trên lịch sử.
Cờ lau cắm lên giữa giới
vạch của lịch sử, khơi mở đời sống
mới về vô cùng tương lai, cho hết thảy
đời sống anh hùng về tương lai, đã thắng
hết cả và cởi mở cháu con ra bằng vinh quang
vô thượng. Cờ lau là cờ của một thế
hệ mới sinh ra để làm một văn minh mới
Vạn Thắng.
Cho đến ngày nay, trên bãi
hoang, nơi thôn dã, những cành lau phe phẩy trước
gió gợn đời đời, còn nhắc lại ai
oán thuở oai hùng tất cả những sống còn oanh
liệt cũ, và sau ngàn năm (thế kỷ X-thế kỷ
XX) đến ngày nay, giữa lúc nòi giống muôn vàn nguy
cơ, đã vi vu văng vẳng đưa những tiếng
gọi xa xăm dần dà gần lại, lanh lảnh vào
trong bộ óc và cõi lòng của các thế hệ đời
chúng ta, thức tỉnh trong đáy hồn và đáy tầng
một cuộc phục hoạt lớn lao và vẻ vang. Nhưng
bông lau chỉ mọc ở xứ nóng, chỉ mọc
ở bãi hoang, trong biểu tượng của những
linh hồn giàu thể nghiệm, nó còn nêu dựng hình
ảnh của muôn nghìn hồn tử sĩ trên lịch sử
bất tử, vất vơ với làn gió, sóng và nắng
yêu của bể Nam lớn, đời đời không dứt
gọi, kêu, và sống giám thị cho thời thế tang
thương!
Cờ lau là Viêm hồn, hồn dân tộc muôn năm
của Trăm Việt.
Cờ lau là cờ Cách Mạng
hồn và quân hồn của Việt.
Cờ lau là lý tưởng của
Sử vinh quang và sống tái sinh.