Huyết Hoa
CHÍNH KIẾN
Lo nước là bệnh thái của những phái thanh
đàm nói rỗng, những kẻ lạc ngũ ngồi
xếp bằng tṛn chửi đời và chửi ḍng sống
tiến hóa, chửi tất cả những thế hệ
mới, không ai mượn lo hăo mà vẫn lo hoài!
Quá vui là bệnh thái của những
phái "tự nhiên không làm" những kẻ chực
làm thầy đời nhưng mà không có năng lực làm
việc thật, họ từ tự nhiên mà đi sang siêu
nhiên, bàng quang nḥm ngó ngoài lông da và phê b́nh theo giọng
xuất thế tất cả những khó làm và khổ
tâm của người làm thật.
Lại c̣n những nhà chuyên
môn yêu nước gọi là "ái quốc gia"
chỉ cốt được một vài biểu thị rỗng
tuếch không ư nghĩa cho sự thực, thế là hết!
Thế nhưng mà c̣n các hạng
"sợ nước"? Họ cho rằng nước
ḿnh mà độc lập th́ chỉ cá mè một lứa,
đâm chém nhau đủ chết. Cố nhiên cái nọc
độc của vua quan, với phản tuyên truyền của
quân xâm lược gây nên những tâm trạng không khỏe
ấy. Tính ỷ lại, ươn hèn, ở đó sinh
ra tính luồn ngoài làm cho họ giật lùi sợ sệt
trước sóng gió của tiến hóa.
Đến như các người "vô
quốc"! v́ họ thuộc về thế giới
phái, cho nên họ luôn luôn suy đoán bằng những căn
cứ mà họ đă hết sức xếp đặt
trong minh tưởng. Họ là những hạng ảo tưởng.
Họ là những nhà thần học của thiên
đường tương lai.
Sao mà người ta c̣n đặt ra cái tên "buôn nước"? Những kẻ buôn nước phải chăng là những hạng làm quan với giặc? Những Cao Khải, Nguyễn Thân và Lê Hoan, những Việt gian?
Không! không! Những kẻ nói
trên, dĩ nhiên muôn người đều trông thấy
rồi. Cái tên thần bí đó để đặt cho
lũ đầu cơ và hoạt đầu, buôn cách mạng?
Để đặt cho những quân gian tế của đế
quốc lẩn lút vào hàng ngũ tranh đấu chăng?
Hoặc giả cố nhiên là như thế. Nhưng mà
chính danh thủ phạm là những kẻ cách mạng thật,
làm cách mạng thật mà đầu cơ với hoạt
đầu. Những con người ấy không có chính kiến
nào xác thật, lung lay thỏa hiệp, những con người
ấy "vô đảng" (họ tự xưng
như thế) mà đảng nào cũng có hết. Họ
chỉ v́ cái địa vị và sống c̣n không danh dự
của họ ra khuấy hôi bôi nhọ mọi việc của
cách mạng. Họ chỉ nói bằng đầu lưỡi
(lưỡi không cuống) và chỉ làm bằng chỉ
tay năm ngón (giấu mất cánh tay). Họ có thể
là hết những cái xấu xa nhơ nhuốc, liếm váy
máu của ngoại quốc, không biết ngoại giao của
cách mạng mà chỉ chủ trương "ngoại
giao đặc biệt" ở hải ngoại. Không
có một lập trường xác đáng, chẳng có một
thái độ trực triệt. Điều kiện yêu nước
của họ phải là phụ thuộc của những
điều kiện cá nhân. Chủ nghĩa, thời cơ
là thủ đoạn của họ ra buôn bán.
Lại những ông xuất dương
rồi mới ghê! Những đứa Do Thái không có tinh
thần dân tộc đó (xin đừng động ḷng,
ai có tật giật ḿnh), quanh đi quẩn lại chỉ
oai nghi và lừng lẫy ở hai chữ "xuất dương"
mà thôi. Tất cánh, họ đă học được
những ǵ khi v́ dân tộc, v́ quốc gia phải vất
vả dấn thân vào gió bụi, vượt trùng dương
đi cầu lẽ sống cho ṇi giống? Họ đă
học được những ǵ và làm được
những ǵ? Zéro! Họ có thể mang nước và dân
đi dâng cho một nước ngoài trước khi tranh
đ̣i và khôi phục lại được nước
và dân ở tay một nước ngoài.
Theo đuôi ngoại quốc th́
có nhiều, bởi v́ theo đuôi cho nên kiến giải
của họ không nền tảng mà chẳng bờ bến.
Ở đó, gây nên bệnh "thiếu máu" và
"thiếu óc" cho cách mạng của dân tộc,
cũng chỉ v́ đó mà những chia rẽ về lư luận
cách mạng chỉ rỗng tuếch, nhưng vẫn
ồn ào ra phết ta đây. Đặc biệt là những
anh oắt lâu la cũng ra tuồng múa mép. Thế mà làm
lănh tụ th́ ai cũng muốn! Những ông cụ sống
lâu lên lăo làng với những tay ta đây tiền tiến
kẻ giờ chỉ muốn làm lănh tụ của Đảng
và tiến lên làm lănh tụ tối cao của dân tộc.
Nhưng mà khổ lắm, cá mè một lứa, lại
không có óc tốt, không có mắt sắc, không có tay làm,
th́ làm lănh tụ cho chết dân tộc à! Dân tộc!
Dân tộc! Mồm mồm nói dân tộc, giờ giờ
nói dân tộc, nói quá đâm nhàm, cho đến lúc tiếng
"dân tộc" thành ra tiếng đầu lưỡi
hàng tôm, hàng cá rồi khéo cũng không tha!
Quốc gia với dân tộc chỉ
là một "khái niệm", một tên gọi rỗng
không, nếu không sung thực cho nó một cái thực thể
ở bên trong. Cho nên quốc gia hay dân tộc chỉ là hư
danh, cái sinh mệnh thực thể của giống ṇi và
toàn dân hướng theo một lư tưởng và chính nghĩa
mới là đúng thực.
Bản thể với mục
đích của nó như thế mà thủ đoạn
để đạt tới những yêu cầu đúng
đắn của nó cũng phải như thế.
Phải nhận thức sâu sắc
bằng xung động và lư tính thực tiễn của
đời sống lịch sử, thế giới và quốc
dân trên nền tảng và điều kiện của hiện
thực, suy xét suốt hết muôn đầu ngh́n mối,
vạch một vạch sống cho dân chúng với
đường đi chính trị và lịch sử của
quốc dân với dân tộc, chỉ có thế (nói ít
cho dễ đi như thế) mới có được một
chính kiến xác đáng. Thắng Nghĩa v́ hơn mọi
chính kiến, có như thế mới gọi là Thắng
Nghĩa.
SINH SỐNG
Có một Mạnh Tử nào đó bên Tàu đời
xưa nói: "Trời sắp giáng đại mệnh
cho ai, tất bắt người đó óc mỏi, gân nhừ,
tim héo, phổi ṃn, đủ chiều khốn khổ, bách
chiết thiên ma, làm cho người đó động ḷng
đứng dậy mà lớn lao lên". Người nào
đi t́m lẽ sống cho riêng ḿnh, nói rộng ra cho một
dân tộc, đều phải nan hành khổ hạnh như
thế. Người đó phải là Thắng Nhân đă.
Người đó phải tự thắng ḿnh trên từng
bộ phận của ḿnh và từng cơ năng của
sinh mệnh thắng ḿnh đă, cái thắng lợi xiết
bao gian nan, yêu cầu biết bao gắng gỏi đă, rồi
mới có thể thắng được mọi ngoại
vật. Người hy sinh là đă hy sinh rồi trước
khi hy sinh. Chết đi là một việc dễ dàng hơn
là đă chết ở nơi tự ḿnh một lần rồi
sống lại với thai cốt mới. Bỏ tài sản
với thân thế, nghĩa là đă tự bỏ
được ḿnh xong lâu rồi việc mới thực
hiện ra bên ngoài.
Cho nên cách mạng phải
đi đôi với một tu dưỡng của cách mạng
mới, khác với tu dưỡng cũ. Học hỏi của
cách mạng cũng thế, nó phải có một thể hệ
đặc biến trong tái sinh của muôn vàn học hỏi.
Không thể tự an ủi
được: cách mạng là thuần thủ đoạn,
cách mạng là thuần phản bạn, phạm pháp. Cũng
đừng nói láo: mục đích chứng minh cho thủ
đoạn. Thủ đoạn tự chứng minh cho thủ
đoạn, mục đích phải ở bên trong thủ
đoạn rồi mới đúng. Công việc máu phải
làm bằng máu, tự máu phải là một thứ máu
có những huyết tính thuần túy, tinh thành và tiền
tiến, th́ thủ đoạn máu mới tự chứng
minh cho ḿnh được. Thủ đoạn đồng
thời phải là bản thân của mục đích, thủ
đoạn ấy mới là chân chính.
Thế th́ đời sống
đồng chí chứng minh cho thủ đoạn tự
thân là mục đích. Nhân tài của cách mạng c̣n
ở trong đời sống đồng chí bồi dưỡng
lên, vận dụng sẵn những nhân tài chỉ là thứ
yếu. Nhưng mà, đào tạo nhân tài của cách mạng
phải trông vào người đào tạo. Người
ấy phải chịu khó và chịu biết hết. Phải
tham gia vào mọi khó và mọi biết của mỗi
đồng chí. Phải coi mỗi đồng chí là một
mục đích của lư tưởng nước ṇi. Phải
bằng hết phương thức, phương pháp và
h́nh thức tùy cá tính, khí chất và đặc trường
của mỗi đồng chí mà đào tạo cho một
bản lĩnh nền tảng về các mặt lư luận,
kỹ thuật và tu dưỡng. Ngoài ra, c̣n phải
đào tạo cho mỗi đồng chí một bản lĩnh
phụ đặc biệt khác. Như thế th́ công việc
cách mạng không sợ thiếu nhân tài. Thế nhưng
đố kỵ và lợi dụng th́ nhân tài không những
thiếu, không có, mà dẫu có rồi cũng hao hụt
đi nữa, nói chi đến dân chúng! Cho nên lănh đạo
nếu không có một nghệ thuật hay một kỹ
thuật, thứ lănh đạo đó là giả dối.
Lănh đạo là tâm thuật. Lănh đạo là mục
đích luận hay cứu cánh luận.
Đồng thời sinh sống là
sự biểu hiện của tất cả cái huyết
tính thuần túy tinh thành và tiền tiến. Sinh sống
là mục đích luận hay cứu cánh luận.
Chỉ có sự sinh sống thực
tiễn trong đời sống thực tiễn của quốc
dân với dân tộc với sự sinh sống thực tiễn
trong đời sống lịch sử và tương lai của
nước ṇi mới trỏ rơ cho chúng ta bằng một
ánh sáng rất thành thực và soi suốt một con
đường đi chính xác trong cách mạng và kiến
quốc. Phải nắm giữ lấy sức chủ của
cách mạng, điều khiển được sức
phụ của cách mạng, kiến thiết và dự liệu
một văn minh mới trên cái phương tŕnh thức
kỷ hà học của những h́nh thể tỏ lộ
lên từ tâm lư b́nh diện của quốc dân đến
tâm lư lập thể của quốc dân. Những thế
hệ mới của thời đại trong con đường
tân trần đại tạ của đời sống lịch
sử dân tộc phải đúng đắn và vừa thời
nắm giữ lấy cương vị chủ đạo
của ḿnh và gánh vác lấy sứ mệnh sáng tạo của
ḿnh, chỉ huy các thế hệ khác bắt đi theo con
đường đi của dân tộc.
Cho nên lịch sử là quyển
truyền phả và môn học vấn duy nhất cao sâu
cho nguyên tắc lănh đạo. Chính trị là lịch sử
ngày nay mà lịch sử là chính trị những ngày qua.
Thời đại là cuộc sống bây giờ, mà lịch
sử là cuộc sống những buổi qua. Sự vận
hành của hai thời gian đó kết hợp nên và quy
định ra con đường của ngày mai sau. Đồng
thời, sự tẩm nhuần tự ḿnh bằng nghệ
thuật sống, cách thức sống và phong vị sống
trong giữa thực tiễn của quốc dân là tu dưỡng
nền tảng. Tất cả những lời nói của
dân chúng bằng ca dao, tất cả những việc làm
của dân chúng bằng sinh sống đủ để
trau giồi hết thảy những mục tiêu nền tảng
cho những phương lược lâu dài về quốc
pḥng, chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, xă hội,
nhân chủng và sinh hoạt của nước ṇi. Những
thú vị của quốc dân biểu hiện ra các chuyện
cổ, những sắc thái quốc dân biểu hiện ra
trên nền tảng của văn hóa đặc điểm
đều là những h́nh bóng với gia vị cho chúng
ta không thể không đầy đủ trong đường
trường xây đắp một văn minh "nước
vối, áo the và rau muống". Phải chăng đấy
là những tiêu biểu của văn minh b́nh dân hết
sức ăn rộng và ăn sâu trong sinh hoạt của
dân tộc, đi đôi với những lời nói không
lời của mỗi xó góc trên giang và của tất cả
những động tác nhỏ nhặt trên ḍng sóng đáy
đều là những tài liệu và phương pháp nghệ
thuật của chính trị. Nó là tất cả những
ư thức và tất cả những cái ǵ đích xác,
chúng ta phải thấm nhuần qua để mà có một
tâm thuật vững vàng trên đường cách mạng
mới. Nó là văn nghệ của quốc dân không lời
mà đủ vẻ.
Cho nên, "ḷng yêu với
máu đào" của chúng ta dỏ ra v́ ḷng yêu từ
người thân với những con người mà máu chảy
ruột mềm đă bén tới, cái máu đào đó dỏ
ra để sống và thờ phụng cuộc sống
chung, dỏ ra để đấu tranh với quân thù,
cùng tẩm nhuần với quân thù trong đồng ruộng
của xứ sở qua các thời gian. "Bàn tay với
đất đai", sức lao động và trí cần
cù đem mồ hôi ra trộn với nước mắt của
ḷng yêu, tất cả để không dứt mở mang
đất đai, xây đắp cơi sống, cái đất
đai yêu quư đă từng nuôi sống chúng ta, từng
để yên nghỉ ông cha và sinh sôi con cháu, cái đất
đai mà đầu mày cuối mắt chúng ta đều
nhớ, đều quen, đều từng ghi nhớ mỗi
cái khổ, cái vui, cái hy vọng, cuộc sống, cuộc
chết, cuộc bể dâu của đời đời,
nó đă nói ra bao ư nghĩa và gồm bao nhiêu giá trị.
"Sức nhớ và lịch sử", cái sức
êm dịu và gắt gao kia, nhờ nó đă làm nối tiếp
đời đời, sức nhớ đó để cho
ta có thể sống được không đứt đoạn
trên đời sống bản thân và đời sống
đời đời. Cái lịch sử đă cho chúng ta
đầy trí tuệ và kinh nghiệm, lịch sử
đă từng đánh thức chúng ta tỉnh lại và
nhủ bảo chúng ta tiến lên. "Bộ óc sáng tạo",
tất cả những yếu tố đó gom góp lại
thành một thể sống chung, thể Brahma hay thể
Thánh Linh, thể Bồ Đề Đạt Ma cho toàn thể giống
ṇi trên một dây tự lực sáng tạo truyền thống
của dân tộc. Những yếu tố đó đồng
thời là khởi điểm của hết thảy mọi
văn minh, thông qua và trau giồi bởi tính, t́nh và chí
của mỗi dân tộc mà h́nh thành trọn vẹn mỗi
dân tộc văn minh.
THẾ HỆ
Thời đại dào dạt chảy đi lôi cuốn
tất cả các thế hệ tầng lớp theo nhau lên
thành tựu bằng một công cuộc thảm đạm
của cái tác dụng thay cũ đổi mới. Chỉ
có thế mới làm nên đời sống hoạt động
của thế giới loài người được. Những
cây cằn cỗi phải trút lá, để nhường
chỗ cho mầm mới can đảm chồi lên đầy
nhựa mạnh và sống. Những quả chín phải
nát đi, để cho những hạt giống nảy ṇi
lên những nguồn sống mới.
Mỗi thời buổi, trong ḍng sống của lịch
sử hoạt động như thế, phải có một
tuổi ra cầm nắm lấy sức chủ và làm cán
cốt cho đời sống chung hết thảy. Tất
cả trong thời buổi ấy, những cái c̣n sót lại
cũng như những cái đang chồi nảy, phải
dưới chỉ huy của cái tuổi làm sức chủ
đó th́ xă hội mới khai thông được mà
ṇi giống mới sống c̣n được. Chuỗi dây
lịch sử làm bằng những mắt xích như thế,
đời đời ca tụng mỗi thế hệ, dự
liệu mỗi thế hệ và hoài điếu mỗi thế
hệ. Ngày qua phải phục tùng ngày nay. Ngày nay phải
khắc phục ngày mai, nghĩa là phục tùng ngày mai.
Cái luân hồi xoáy ṿng trôn ốc có nút tết của
Phật Tam Thế đó chi phối hết mệnh vận
của loài người, như loài người muốn tự
ḿnh, v́ sống c̣n của xưa, nay, mai, cả ṇi giống
thân ái, phải nắm giữ cái luật tắc đó,
hợp thời mà phục ṭng nó, ở đó sinh ra cái
đạo đức với viễn kiến.
Mỗi thế hệ cũ phải
biết thời cơ lui về một bản vị có
ích chung.
Mỗi thế hệ mới phải
biết nắm thời cơ tiến lên ngôi báu của
thời đại mới mà chỉ huy và làm tṛn sứ
mệnh mới.
Mỗi thế hệ dự bị
phải thâu tóm hết những trí tuệ và kinh nghiệm
cũ; trau giồi cho ḿnh tất cả những điều
kiện cần yếu cho nhiệm vụ tương lai của
ḿnh, để sắp sẵn ra nối liền dây tiến
hóa.
Nhưng mà nếu loài người không biết tự
động như thế, đào thải tất đau thảm
và ác liệt của tiến hóa tất nhiên, sẽ cũng
bó buộc làm như thế.
Không ai tránh được luật
vô thường; luật vô thường có một phương
hướng, một quy tắc với một đường
lối rơ rệt của lẽ tiến hóa.
Lẽ sống là như thế.
Lẽ thật thuận theo với
sự làm trọn luật vô thường đó một
cách mến yêu, nhưng có khi v́ ḷng yêu mến đó mà
không khỏi được bất nhẫn.
Trong thế kỷ XX, nước
Việt đă trải qua bốn thế hệ người,
mỗi thế hệ có mẫu mực đặc sắc,
nó đánh dấu cho sự tiến hóa tất nhiên của
ṇi giống qua từng giai đoạn nào. Lấy năm
1940 đây mà nói, những vị già nua vào hạng cha
chú chúng ta từ 50 tuổi trở lên, không c̣n dư
địa làm chủ được thời đại nữa.
Nhưng các anh chị chúng ta từ 30 tuổi hơn
cũng không thích hợp và có viễn kiến, cái viễn
kiến có nền tảng đích thực để mà ra
dẫn dắt cho được đời sống mới
và khó khăn này trên một văn minh mới và phải
sáng tạo cho dân tộc được. C̣n những người
của ngày nay, nghĩa là 30 tuổi trở lại, 16 tuổi
trở ra, đấy chỉ là những nút chuẩn bị
và liên lạc cho một thời đại Việt lớn
lao lên và sung sướng lên trong máu xương và
đau khổ, hạng này là nền tảng của văn
minh mới. Nhưng mà chủ nhân chân chính của văn
minh Vạn Thắng mới của Việt là những con
em chúng ta 16 tuổi trở về. Họ sẽ đứng
lên oanh liệt và chỉ huy sáng suốt được lịch
sử dân tộc về tương lai.
Những con người của
40 đâu! Xúm nhau lại thành một sức lực, góp
nhau lại thành một trí tuệ, khơi mở
đường đi cho giống ṇi. Chung quanh những
con người của thế hệ đó, tất cả
các tuổi phải cúi đầu phục ṭng sự chỉ
huy nghiêm khắc, dũng cảm và sáng láng của thời
đại. Trái lại, tức là phá hoại sự tiến
hóa chân chính của tổ quốc với tự nhiên, sự
phá hoại đó sẽ dẫn khởi một đăi lọc
đau đớn mà thôi hết. Những người của
40 phải là những Thắng Nhân. Những người
của 80 sẽ thong thả hơn, sung sướng
hơn, lớn lao trên ánh sáng của 40. Họ thừa hưởng
cuộc Phục Hoạt sau 1.000 năm Cờ Lau mà những
người của 40 phải gánh vác tất cả những
nặng nề và hy sinh.
Nhịp kèn của thế hệ
40 thổi. Một thế hệ ngày nay đă chuẩn bị
xong xuôi. Một văn minh của Vạn Thắng mới
ngày nay đă cấu tưởng, chỉ c̣n đợi
giờ thực hiện lớn lao. Một cuộc đổi
đời bằng sắt, máu, lửa để nung nấu
tất cả những con người của 40 thành kim cương
Thắng Nhân đứng lên cao cả và oai hùng cầm
cành lau dẫn thời đại và người đời
đi, đi đến một cơi mới. Tất cả
các thế hệ sẽ kinh ngạc, sợ hăi, khâm kính
và phục tùng đi theo, hết ḷng ủng hộ cùng
làm việc lớn.
Văn minh mới này chỉ là
sự Phục Hoạt và tái hiện lớn lao, người
ta h́nh tượng bằng lư tắc của Totem quan để
tượng trưng cho lịch sử Việt một ư
nghĩa với giá trị để mọi người cùng
hiểu được.
Văn minh mới này trong thế kỷ nung nấu
đă chín, dung đúc đă thành. Một trăm năm
nay từ trải qua cố thủ, thỏa hiệp, hấp
thụ, dung ḥa, bây giờ đă đến kỳ phản
tỉnh mà sang sáng tạo. Nhưng mà, cố thủ, thỏa
hiệp, hấp thụ với dung ḥa, người ta trên
một bộ phận trên của kiến trúc thượng
tầng chỉ có làm những việc quá tầm thường
và nông nổi, trằn trọc giữa văn hóa Đông với
Tây, Hán với Pháp. Những việc mặt tầng đó,
những thế hệ cũ cố nhiên chỉ có biết
đến đó mà làm, nhưng mà chỉ có thế, chỉ
có những cặn bă đó sẽ lọc và mới nổi
lên mặt tầng. Công việc lớn lao đáng để
ư nhất trong kiến trúc của các thế hệ quả
là công việc đáy tầng xây đắp lấy cái
công cụ và ư thức (tiếng, chữ nước) ṇi
giống nung đúc, mài gọt, nay tạm đă có một
nền tảng. Cái nền tảng đó phải có chính
trị độc lập mới làm cho nó thực vững
vàng được, và thật có ích để xây dựng
một văn minh Việt thật Việt được.
Dung đúc tuyệt không trọn vẹn, dung đúc trừ
phi có phản tỉnh mới đi đến sáng tạo
chân chính. Phản tỉnh nghĩa là đem hấp thụ
với đồng hóa về cơ sở của dân tộc
cho thông qua dân tộc h́nh thái, lấy dân tộc làm lư tưởng,
mục đích, phương pháp và thủ đoạn
để mà sáng tạo một văn minh. Thế cho nên,
cuộc vận động Pétain ở nước nhà có
phải là cái để mà Bông Lau ca tụng đâu? Cuộc
phản tỉnh này dĩ nhiên có một ảnh hưởng
trực tiếp, gián tiếp vào ư thức thành niên mới,
dự bị cho cuộc phản tỉnh chân chính chỉ
có ngấm ngầm trong đáy tầng chưa bùng nổ,
sửa soạn tâm điệu của mọi thế hệ
cho có một phương thức ít nhất để tiếp
thu lấy văn minh Thắng Nhân là một trẫm triệu
nổi bật cho những ai c̣n mê chưa thức biết,
là đêm trừ tịch của cuộc xoay vần lịch
sử lớn lao trong dân tộc. Dĩ nhiên như thế,
nhưng mà nó chỉ là một thứ tiến bộ lom
khom và nhút nhát, c̣n đội mũ cánh chuồn; nó
không đứng dậy thẳng, nó cũng không đi lên
mạnh, nó không phản tỉnh cho đến đáy, nó
không phản tỉnh bằng chiến đấu, nhưng
cũng cứ tính cho là một cuộc phản tỉnh.
Nó phải phụ thuộc cho cuộc phản tỉnh vô
h́nh trong đáy tầng, đáy Sử và đáy Hồn,
cuộc phản tỉnh chân chính đă thành thục sẽ
đi lên, một sáng tạo lớn lao, suốt mặt
đến đáy và hướng thượng của Thắng
Nghĩa mới.
Đấy, những con người
Đáy của 40. Và là Hồn của 2.000.
Có một ngày, những con người
ấy sẽ đứng dậy tất cả.
Ṇi giống Việt sẽ lớn
lao lên.
HOÀN CẢNH
VỚI NGƯỜI TA
Từ tối cổ tới giờ có thể chia lịch
sử loài người ra làm ba thời kỳ; sự
thành lập của mỗi thời kỳ đó đặt
để trên những nền tảng xă hội với
điều kiện kinh tế, văn hóa quy phạm, với
thực học thủy chuẩn nhất định: Thời
kỳ thứ nhất là thời kỳ thần học, thời
kỳ thứ hai là thời kỳ triết học, thời
kỳ thứ ba là thời thực học. Đó là theo cách
chia của Auguste Comte. Nếu chia theo Weber hay Hobhouse th́
loài người từ tối cổ đến bây giờ
có thể chia ra làm năm thời kỳ: dă man, nông nghiệp,
trung cổ, quá độ thời kỳ và văn minh.
Chia thế nào th́ chia, tổng chi ta được một
kết luận là bất cứ ở thời đại
văn hóa hay lịch sử nào, cái tối cao nhiệm vụ
của nó là kiến thiết con người, mà con người
quy phạm là sản vật hạn định của thời
đại, văn hóa và lịch sử. Thời đại,
văn hóa với lịch sử đó là cái hoàn cảnh
lũy tiến của loài người mà tự nhiên với
xă hội là những hoàn cảnh không gian bất di bất
dịch.
Cho nên biết hoàn cảnh bao
vây, quy định, làm sống hay tiêu diệt mỗi người
là tùy theo cái bản thân năng lực. Ta thấy hoàn cảnh
của mỗi người có thể bao gồm bào thai
hoàn cảnh, tự nhiên hoàn cảnh, xă hội hoàn cảnh,
giáo dục hoàn cảnh, thời đại hoàn cảnh.
Hơn nữa, ta thấy ngoài những hoàn cảnh ngoại
tại, c̣n những hoàn cảnh nội tại bó chặt
ta hơn, như thanh, hương, sắc, vị, sức,
ư, với lại tai, mắt, mũi, mồm... há chẳng
phải là những thứ lục trần, lục thức
như nhà Phật đă nói: "đă mê dụ ta,
đă khốn quẫn ta, đă tiêu diệt ta nữa".
Bất quá lịch sử là sự biểu hiện toàn bộ
cái ư chí sinh tồn và cái ư chí thực hiện của
loài người.
Ta thấy rằng loài người
bằng những công cụ siêu việt là: óc, tiếng
nói, tay... vận dụng những công năng siêu việt
là lao động, sáng tạo, cải tạo, tự kỷ
và hoàn cảnh, nối tiếp vật lộn để
đạt tới cái tŕnh độ văn hóa như ngày
nay.
Thần linh với tâm lư, nếu
ở trong một con người không có một sinh mệnh
hệ thống vững bền và thống nhất, th́ thời
đại, văn hóa với lịch sử hết thảy
những sản phẩm của nó đều biến thành
những sức lực vô chất và những h́nh ảnh
vô căn đến xâm chiếm và nhiễu loạn ta.
Mỗi tiếng nói, mùi thơm,
màu sắc, vị ăn, ư muốn luôn luôn lẩn quẩn
thành những quân thù địch vô h́nh muốn làm hại
ḿnh thôi. Cho nên sống nghĩa là chi phối một phần
nào cái hoàn cảnh; luật tắc khoa học đă quy
định xă hội đă chi phối từng người,
nhưng mà ư chí từng người trái lại có thể
chuyển biến được xă hội. Nhân định
thắng thiên, sự phát hiện được cái phạm
trù Người là một công cuộc tối vĩ đại
của triết học đời Phục Hưng
(Renaissance) bên Tây và đời Xuân Thu Chiến Quốc
bên Đông. Thanh niên ta ngày nay, châm đối hoàn cảnh
khó khăn của dân tộc và cái nhiệm vụ khốn
khổ của thời đại, trước hết phải
phát hiện được cái phạm trù Người
ở nơi thân ḿnh và ở trong cái nội tại của
phạm trù đó, phát hiện được cái tối
vĩ đại và duy nhất là TA.
NHÂN SINH VÀ NHÂN TỬ
Phải chăng t́m cái chốt của đời sống
mỗi người một trăm năm, và đời sống
của loài người muôn vạn thế, bao nhà tôn
giáo, triết học, khoa học, chẳng qua chỉ là
góp những tài liệu chung quanh cái vấn đề
trung tâm là nhân sinh quan và nhân tử quan, thống nhất
trên một mối sống.
Ôi đạo sống khó thay!
Sinh thế dị, trưởng thế nan. Thế th́ loài
người nghe đạo phải có tinh thần
"chiêu văn đạo, tịch tử khả hỹ"
nghĩa là sớm được nghe đạo dù chiều
chết cũng vui. Người sống c̣n ví như
người trong nhà bước ra khỏi cửa để
đi đến một mục đích địa điểm
nhất định, phải đă sẵn có cái mục
tiêu nơi ḷng, trong cái quá tŕnh đi đường phải
biết hấp thụ những tinh hoa và kinh nghiệm
chung quanh để đi tới nơi bằng một tinh
thần sảng khoái. Cho nên cái ư chí nguyên bản của
ḿnh phải nhất định. Những tinh hoa và kinh
nghiệm trong cái lịch tŕnh đó chỉ là những
cái tài liệu tích lũy vào cái ư chí nguyên bản, càng
phong phú dồi dào vào cuộc sống thêm viên măn, mỹ
lệ.
Có thể chia:
1)
1) Thiết lập một phương
châm sống và lư tưởng làm nguyên bản. Có thể
nói: Nhân sinh chi kế tại ư xuân. Lúc thanh niên chính
là lúc ḿnh lập chí.
Hăy nghe:
Nếu hoa xuân nở ngọn
cây
đó là để xui giục ḷng
người đi t́m ánh sáng đạo
nếu trăng thu ch́m đáy nước
đó là h́nh tượng cảm
hóa chúng sinh
và tất cả chúng sinh
đó là tái sinh
trên cùng một bông liên hoa.
2) Bằng cái lư tưởng
phương châm sống, kiến lập một cái sinh mệnh
chủ quan tuyệt đối có tính chất tiến hóa
và sáng tạo, trong quá tŕnh đời sống, hấp thụ
thiên nhiên với xă hội tinh hoa, sung thực và phong phú
sinh mệnh tài liệu của ḿnh cho đời càng
được triết học hóa, xă hội hóa, và nghệ
thuật hóa.
3) Dumas nói: Phải trông cái chết
thẳng trước mặt. Ôi đạo chết khó
thay! Biết bao kẻ sống chết như cây cỏ
nát, vô ích cho nhân loại, cho dân tộc. Biết cái chết
mới kiến lập được cái quyết tâm. Biết
cái sống mới dám đem ḷng hy sinh. Biết cái cực
chất của sống với chết ở nơi tự
ḿnh, mới hiểu rơ được cách đặt
để ḿnh vào xă hội. Có ba hạng làm việc:
làm thầy đời, làm bạn đời, làm tôi
đời (travail de maitre, travail dami, travail de serviteur). Mà
làm việc đời cũng có ba hạng người:
quyết tâm, thực hành với trí giả (homme de coeur,
homme daction, homme desprit). Phải nên hiểu ḿnh thích hợp
với cái khí chất ǵ, nhiên hậu mới quyết
định cách làm của ḿnh. Tóm lại một lănh tụ
phải đủ ba đức tính: có thể là nhà lư
luận, đồng thời là nhà hành động và nhà
tổ chức, không thế th́ không được.
Trong quá tŕnh sống của
ḿnh, hạt bụi, sợi cỏ, từ cái rất nhỏ
đến những cái rất to, từ cái vô h́nh đến
cái hữu h́nh, đều là tài liệu của biết.
Biết là trục của sống, mà học là cửa của
biết. Ôi đạo học khó thay! Cùng một cửa
mà ra thiên tài, mà ra nô tài, mà ra nhân tài.
Cho nên dạy người hay cầu
học tóm lại có ba phương châm:
1.
1. Nuôi
tâm sinh thiên tài.
2.
2. Nuôi
óc sinh nhân tài.
3.
3. Nuôi
thân sinh nô tài.
Trong trời đất, nhiệt
với thành là hai yếu tố nguyên thủy và hoạt
động. Vạn vật ở đó mà ra, t́nh, ư, chí
đều ở đó mà ra. Nhưng tất cánh nhiệt
với thành chỉ là những thể chất đồng
chất (homogène) thuần túy tự năng và tự động,
trải qua một quá tŕnh sung thực t́nh, ư và chí,
đem t́nh, ư và chí quy lại một lư tưởng tối
cao và biểu hiện ra một trung tâm công tác hóa.
Dạy người vời cầu
học là một công việc đồng đạo đối
lưu. Có ba lối học:
1.
1. Đắc
ư vong ngôn như Trang Tử, như Nhan Uyên, Đào Uyên Minh tự
lực, độc thiện kỳ thân như vơ siêu trần
bạt tục.
2.
2. Nhập nhĩ xuất khẩu,
vào tai ra mồm, vô ích thực tế.
3.
3. Nhập lư xuất sự,
học tập với làm việc thống nhất, lư luận
với thực hành không chia, nhân cách trung dung, tư
tưởng chấp dụng.
Có bốn cửa học:
Nhập nô xuất chủ
Nhập chủ xuất nô
Nhập chủ xuất chủ
Nhập nô xuất nô.
Dân tộc ta sở dĩ sức
thừa độc lập mà suốt trên lịch sử mấy
ngàn năm vẫn không triệt để uyên nguyên không
phải ở nơi gắng sức dở dang, phấn
đấu nửa đường, tài lực thiếu thốn,
dân chúng tản mạn, mà thực là ở nơi học
không triệt để, nghĩa là không triệt để
độc lập trên tinh thần, cũng không triệt
để phát huy được cái năng lực sáng tạo
và khẳng khái tối cao siêu của giống ṇi.
Chính trị ngày nay có thực
hiện được tối tân hay không là trông vào tư
cách của mỗi người quốc dân có hợp với
thủy chuẩn sinh tồn theo tâm thức hay không.
Lịch sử chỉ là cuộc
diễn tiến theo cái sinh mệnh hệ thống của
một dân tộc trên một quá tŕnh dự định
phát triển trên những điều kiện với sự
thực khách quan. Cho nên dân tộc ta cần những thanh
niên rất thuần túy và sung thực, đem ra làm trọn
vẹn hai tầng chức vụ của thời đại
là cách mạng và kiến thiết.
Những thanh niên ấy phải
biết đạo sống, đạo chết với
đạo học, phải biết kiến lập một
sinh mệnh hệ thống độc lập và siêu nhiên
cho tự ḿnh. Đời sống của người ta vốn
là một cuộc đi có dự định kế hoạch,
để đạt tới một dự định mục
tiêu, hoàn thành một dự định ư nghĩa và một
dự định giá trị cho nhân sinh.
Cho nên cái biết đă là trục
của sống th́ sự học vấn cũng phải ḍ
cho đến chốn của sự biết. Cần có hai
điểm:
1.
1. Khuôn
khổ phải to tát.
2.
2. Sợi đan phải nghiêm
mật.
Cái tổ chức sơ bộ của
học có thể chia:
a) Tổ chức lư trí hệ thống,
tức là học về lư tắc (logique). Tư tưởng
là một đồ dùng. Dùng nó phải có phương
pháp. Phương pháp dẫn dắt tư tưởng của
người ta, đồng thời giúp t́m ra những luật
tắc của tự nhiên và xă hội tiến hóa. Cho
nên tư tưởng của người ta khi đă tổ
chức theo lư tắc th́ mới khả năng t́m
được chân lư, sự thật trong sự thật,
mới chỉ huy không nhầm cái tâm lư sinh hoạt của
người ta.
b) Tổ chức t́nh cảm hệ
thống, tức là học về thẩm mỹ
(esthétique), học về nghệ thuật, tức là học
về cách tổ chức và biểu hiện cảm t́nh,
vũ trụ và xă hội sống theo những trật tự
và luật tắc của nghệ thuật. Có cảm nghiệm
cái tinh thần và phương pháp nghệ thuật th́
t́nh cảm của ta mới được hợp lư và
sinh hoạt của ta mới được măn ư.
c) Tổ chức ư chí hệ thống,
tức là học về lịch sử. Lịch sử là
sự biểu hiện toàn thể ư chí sinh tồn của
loài người và dân tộc. Phải lấy sự thể
nghiệm quốc hồn và giác ngộ dân tộc làm tối
cao mục tiêu, phải lấy tự kỷ khám phá ra cái
lư tưởng muôn đời của dân tộc. Căn cứ
vào đó, lấy cái sứ mệnh tối thiêng liêng, nối
dơi tổ tông, mở mang con cháu, sáng tạo văn minh
cho dân tộc ḿnh trên một nền tảng tối vững
vàng làm cái phương châm không di chuyển cho cả một
đời ḿnh. Biết lấy ư chí đó làm ư chí
ḿnh, há chẳng bền mạnh và hy sinh lắm ru?
CÔNG VIỆC
Những con người 40 sẽ
làm việc cho thời đại 2.000.
Công việc lớn lao của thế
hệ ấy sẽ Vạn Thắng. Những con người
ấy sẽ từ cuộc cứu lấy nước, giữ
lấy ṇi, tiến lên sáng lập một thể hệ sống
và một văn minh mới thực lớn lao, bền vững,
sáng sủa và sung sướng.
Người ta sẽ bằng một
thủ đoạn cách mạng, phối hợp với một
trí năng sáng tạo thành tựu công việc của lịch
sử suốt mặt đến đáy và hướng
thượng. Chỉ những con người đó trong sự
làm thực mới thể nghiệm ra đầy đủ
những ư nghĩa, giá trị và công năng lớn lao của
những công cuộc cách mạng. Phải coi xét nó bằng
tất cả lư tưởng, mục đích, phương
pháp và thủ đoạn của nó thành một thể
trọn vẹn không xé lẻ, không sai khớp và đầy
huyết tính.
Chiến tranh là cuộc đổ
máu đầy ư nghĩa. Chiến tranh đă quyết
định được hết vận mệnh của
người mặc dầu người đầy nhút
nhát, ươn hèn và sợ sệt chiến tranh. Chiến
tranh bắt thời đại đi vào những con
đường mà thời đại ngại ngùng, do dự
măi không dám tiến vào. Chiến tranh c̣n là thời cơ
sống chết, ngh́n năm một dịp của những
ai bị đè nén và áp bách mong chờ. Nó để cho
ḿnh một thuận tiện. Cho nên, lấy vũ lực
ra cứu quốc nghĩa là đem sắt, lửa với
máu ra tranh đ̣i lấy chủ quyền, cái chủ quyền
của tự ḿnh được tự do, dùng ư chí của
ḿnh đối với đất đai, dân chúng, việc
làm, đường đi và vận mệnh của tự
ḿnh. Không đổ máu tuyệt không mong xoay chuyển
được thời đại. Máu biết nhớ
đến chúng ta, không lo sợ, nó sẽ đền bù
hết cho chúng ta. Máu có thể mang thay cho tầu bay, tầu
ḅ, xe hơi, đại bác và súng gươm. Nói thế
nghĩa là một khi có cái máu nóng, sáng suốt và mạnh
mẽ, tất mọi việc đều thành công với
cái vĩ đại của suốt mặt trận đáy
tầng dân tộc suốt nơi một lúc cùng nổi
lên tranh thủ bằng mọi thứ. Giữ ǵn lấy
ṇi giống c̣n yêu cầu chúng ta phải dùng mọi
h́nh thức đấu tranh để mà đạt tới
mục đích. Không có cái mục đích đó th́ sự
cứu nước thiếu hẳn đi một phần lớn
lư tưởng. Tất cả Trăm Việt phải trở
về hoài băo Tiên Rồng cũ, trên một tổ chức
thỏa đáng nhất, nó làm khuôn mẫu cho hết thảy
"nhân đạo chủ nghĩa". Chính nghĩa
tự xưa phải giả định là có. Thế nhưng
mà bao giờ chính nghĩa đều vẫn bị lợi
dụng mà không được thờ phụng và
được nghe theo. Những hẹp ḥi và kiêu ngạo
của những dục vọng phá hoại hết nền
tảng sống c̣n của phải trái với thiện
ác. Cho nên, muốn sáng tạo được thế giới
mới, cho ḥa b́nh lâu dài quyết không thể không thanh
toán cho sạch những nợ máu, nhục máu, hút máu,
tiêm máu từ xưa trên lịch sử nếu có thể
được để mà có thể kiến lập
được lư tưởng đó. Nếu không, trên bản
vị của tự ḿnh phải đ̣i lại lấy "chính
nghĩa" cho tự máu mủ ḿnh, gột, lọc, rửa
những "phi nghĩa" trong tự máu mủ
ḿnh đi.
Ấy thế mà đời dân
chủ phải trọn vẹn xây dựng nên để xúc
tiến một cuộc tiến hóa vượt bực. Cuộc
tiến hóa vượt bực chỉ có thể thực
hiện được trên nền tảng của dân chủ
chân chính. Phải thiết thực và đúng chắc rằng
dân làm chủ, dân phải làm chủ hết thảy cơ
hội, nghĩa vụ và quyền lợi của đời
sống tự ḿnh, phải làm chủ được ư
chí và chế độ của tự ḿnh thật chân
chính, phải có căn cứ và chuôi nắm. Cái chuôi nắm
chân chính của nền dân chủ thực phải kư gửi
trong nền tổ chức cỗi gốc của tự
dân chúng sẵn có và có thể vận dụng được,
phải tự có hết thảy then chốt và th́a khóa
trong đáy tầng, để mà tự động thực
hành lấy vô luận một điển h́nh dân chủ
nào bằng tất cả các điều kiện. Thế
nào là dân chủ thật và đúng lại vững? Nền
tổ chức cỗi gốc đó phải do dân chúng tương
hỗ lẫn nhau dùng các h́nh thức hỗ trợ và hợp
tác về mọi bề, mọi mặt của sinh hoạt
từ kinh tế đến chính trị, xă hội, văn
hóa, pháp luật. Chủ nghĩa vô chính phủ không thể
thực hiện được, nhưng tinh thần của
nó phải thấm nhuần vào dân chủ Việt nghĩa
là vào một nền dân chủ nào có thể chân chính
dân làm chủ được. Có thế tiến bộ mới
được b́nh hành, có quy tắc, có kế hoạch
và nắm giữ được ḥa b́nh, cơm áo, tự
do và b́nh đẳng. Cuộc tiến hóa phải sáng suốt,
tự động, kỷ hà học và nhân loại, có thế
cuộc tiến hóa mới xứng để cho chúng ta xướng
đạo được. Phải thành lập cuộc tiến
hóa như thế của Thắng Nghĩa, gọi là tiến
hóa Việt, tiến hóa không có ép uổng, không có ư thức
chuyên chính. Bất cứ lối chuyên chính nào đều
không chân thật làm nổi được tiến hóa
sáng suốt, tự động, bền giai, kỷ hà học
và nhân loại.
Để xây đắp thể hệ
sống, trước hết tính đến cần lao. Những
con người 2.000 sẽ vất vả mà không thấy
khó nhọc, nhễ nhại mà không cảm thấy uể
oải. Họ quên tất cả; sự cần lao ấy
chỉ là biểu hiệu tối cao của huyết tính
nóng sôi trong máu người Việt cảm chiêu bằng
nắng Viêm. Sự đấu tranh chân chính nhất là cần
lao, nó sinh ra sáng tạo, sáng tạo hết thảy một
văn minh mới; huyết tính sinh ra sáng tạo mà bằng
phương thức cần lao. Người Việt mới
của thời buổi 2.000 tự thể nghiệm lấy
thật thiết đáng. Tất cả tâm, thân đều
cống hiến cho tương lai muôn, ngh́n thuở. Họ
nhẫn nại nhưng mà hùng hồn, họ bi tráng, họ
quên hết họa chăng cả ḿnh mẩy chỉ c̣n
là những mạch máu của lịch sử thức tỉnh
chảy dồn dập, dạt dào, sùng sục: cả người
đều tẩm nhuần cái ánh sáng thiêng liêng đó,
nó dẫn dắt cả một ṇi giống lên lớn
lao. Suốt nơi và mọi lúc đều như thế
cả; họ sẽ làm cho lịch sử và thế giới
kinh ngạc, kính phục và sợ sệt.
Họ sẽ thắng hết những thất bại
của lịch sử và tâm thân.
Họ sẽ thắng hết nợ
và nhục.
Họ thắng vũ trụ và
loài người.
Những người 2.000 vạn
thắng.
GIÓ ĐÁY
Cùng một luật tắc như trong sự tân trần
đại tạ, các thế hệ, các tầng cấp dần
dà và lần lượt hết mỗi tác dụng chủ
đạo của ḿnh trong đời sống quốc dân
để nhường bước cho mỗi tầng cấp
mới. Những cuộc cách mạng dân tộc trên sử
Việt, những cuộc cách mạng nào đă chân chính
làm đạt được nguyện vọng của dân
chúng và làm được đúng đường đi
của ṇi giống, đều chỉ đo bằng mỗi
thế hệ thực tiền tiến và những tầng
cấp thật đa số mới đủ sức và
trí viễn kiến và dũng cảm, đủ huyết
tính ra gánh vác công việc lớn lao của thời đại
trao cho.
Chỉ có thế hệ thực
tiền tiến mới đủ đại biểu
được tương lai.
Chỉ có tầng cấp thật
đa số mới đủ đại biểu
được dân tộc.
Tương lai tỏ lộ trong
óc mới của thời đại và viễn kiến.
Dân tộc tỏ lộ trong sinh
mệnh thực thể của toàn dân và chính nghĩa của
kiến thiết. Tiến hóa là làm bằng hai nền tảng
điều kiện đó. Cách mạng chỉ t́m
được trong hai điều kiện đó một nền
tảng và đường đi lịch sử, chính trị
đúng chắc và tất thắng.
Thế hệ của thanh niên
và tầng cấp 98% của quốc dân Việt chính là
đáy tầng dân tộc Việt. Thanh niên bị giày
xéo dưới sức nặng của các thế hệ
và quốc dân bị lấp láp dưới xây đắp
của các đặc quyền, chỉ có thế hệ
ấy với tầng cấp ấy chân chính là đáy tầng
Việt, tức là sức gốc của Việt.
Làn gió phục hưng dân tộc
và thời đại không thổi trên mặt tầng,
trái lại chỉ thổi dưới đáy tầng
để cuốn dậy làn sóng đáy. Những gió
ấy và sóng ấy duy nhất có lực lượng
để lật đổ hết thảy những thứ
ǵ trên mặt.
Làn gió đó là làn gió Hồn
và làn gió Sử.
Ở trong đáy ḷng người,
nó là gió ḷng.
Sự thống trị của dị
tộc thành lập ở sự bàn cứ trên mặt tầng
với sự thỏa hiệp của đặc quyền.
Mạch máu và tâm hồn của ṇi giống v́ đó
tránh mặt tầng và đặc quyền mà trở về
đáy gốc.
Sự thống trị của dị
tộc thành lập trên sự cằn cỗi của ṇi
giống. Mạch máu và tâm hồn của ṇi giống v́
đó tránh hết cằn cỗi mà ch́m xuống đáy
rễ để nùng nục lên những chồi mới.
Làn gió đáy thẩm thấu
suốt đáy tầng của dân tộc.
Người của 40 làm việc
cho thời đại 2.000 đều đă được
thấm thía, cảm thấy một cách sâu sắc và ghê
rợn, họ đều rùng ḿnh, và trong sức giác ngộ
lớn lao, họ đă đứng dậy mạnh mẽ
đến vô địch. Tự tay họ, họ sẽ mở
rộng thời đại và sáng rọi văn minh. Thời
đại với văn minh phải t́m lẽ sống với
lẽ thật trong những nguyên lư bản thân của
sinh mệnh và việc làm. Sinh mệnh là tự thể.
Thời đại chỉ là sự kết thành của
sinh mệnh. Việc làm là sự giao hỗ phức tạp
giữa tự thể với vũ trụ. Nếu muốn
đạt tới mỗi h́nh thái và phương pháp của
văn minh nào mặc dầu, chỉ có thể t́m trong việc
làm của sinh mệnh những lẽ thắng. Việc
làm là biểu hiện của sinh mệnh ra bằng hết
cả sức lực vật chất, kết quả h́nh
thức với hiệu dụng mỗi màu, mỗi vẻ
cùng tất cả những duyên quả chằng chịt lại
của vũ trụ và sử. Tất cả tóm lại
là Thực Hiện.
Toàn thể chúng sinh hướng
theo một lư tưởng và mục tiêu chung để tiến
tới trong đường trường của Thực
Hiện đó, cạnh tranh nhau, đăi lọc nhau và tiến
hóa lên. Chỉ có những ṇi giống không dày công sinh mệnh
với đủ pháp, việc làm, mới chịu lùi bước,
bị đè nén và ch́m vào diệt vong. Làn gió đáy
đă nổi dậy thức tỉnh mọi người
bằng những cảm giác đó mà thôi, những cảm
giác ấy, nói tóm lại là Thắng Nghĩa. Làn gió
đáy mang lại Thắng Nghĩa.
Không ǵ thổi réo rắt, nghiến
rít bằng làn gió đáy. Nó như thổi hết thảy
5.000 năm, tất cả những hơi lạnh người
chết và hơi rợn linh hồn của toàn thể
thiêng liêng chồng chất trên thứ bực của tiến
hóa, đem dồn dập lại mà đánh úp một thế
hệ chúng ta. Gió ấy như một chiếc roi thép quất
chúng ta dậy, đau buốt tới xương tủy,
thấm tận đáy hồn dân tộc và đáy ḷng mọi
người. Sự Phục Hưng ở đó mà ra, làn
gió ấy tự ở đáy Sử mà thổi, sẽ
lôi cuốn hết đáy tầng, đoàn kết lại
một mặt trận gốc.
Chúng ta sẽ phản tỉnh lại
và tự hỏi: "Trải 5.000 năm ṇi giống
chưa bị diệt vong, phải có một lẽ ǵ? và
phải có việc ǵ để mà làm?" Chỉ
có những người ở dưới địa ngục
mới thực nghiệm thấy cái đau khổ của
ṇi giống và chúng sinh, người ấy sẽ phản
tỉnh mà t́m ṭi cái lẽ thực của đau khổ.
Chỉ có người ấy mới thực được
giác ngộ với ánh sáng lớn lao của trí tuệ cảm
chiêu. Chỉ có người ấy mới thực nguyện
ra cứu vớt ṇi giống và chúng sinh. Chỉ có người
ấy làm được việc lớn bằng một sức
sinh mệnh lớn lao cảm tự đáy hồn để
mà hoàn thành cái đạo lớn cho loài người.
Ấy thế, lẽ sống và lẽ thật của Phục
Hưng là như vậy.
Những con người của
40 là những con người của cái thế hệ và
tầng cấp Việt đáy tầng tự ở dưới
áp bức đen dày và nặng nề mà lớn lao lên, cởi
mở hết xiềng xích cho ḿnh và phá tan hết những
màn tối, quét sạch hết hôi tanh và đánh chết
hết thù địch.
Những con người ấy v́
Tổ Quốc Việt. Tổ Quốc Việt chỉ là một
tổ quốc đáng yêu, đáng kính, khi tổ quốc
Việt chân chính biểu hiện được lẽ sống
và lẽ thật, tất cả lư tưởng và chính
nghĩa. Những con người ấy sẽ thực hiện
tự ḿnh, xă hội và dân tộc bằng tất cả
những hương hồn và chính khí mà làn gió đáy
mang đến cho tức là nhân cách và danh dự.
Làn Gió Đáy thổi.
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
4822 tuổi Việt (1943)
5.
HỠI ƠI!
TÂM LƯ THẦN LINH HỌC
ĐƯỜNG
SỐNG VÀ ĐƯỜNG BIẾT
Trang Tử nói: Đường sống có bờ mà
đường biết th́ không bến, cho nên t́m biết
là t́m chết. Thế nhưng mà thực ra từ mặt
cá nhân cho đến suốt mặt loài người, từ
cổ tới nay, có biết mới sống được,
biết là tất yếu của sống. Sống với
biết là hợp nhất. Cho nên quan hệ của sự
sống với sự biết có thể phân ra ba điều
mà nói.
Biết là cái trục của sống.
Descartes nói: "Je pense donc je suis". Nhưng ta có thể
nói: Tôi sống v́ tôi biết. Biết là công cụ của
đời sống, đồng thời là nền tảng
và yểm hộ của sống.
Phạm vi của biết đó
là phạm vi của vũ trụ. Biết đến
đâu tức là vũ trụ đến đó. Biết
thẩm thấu vào cái thái cực nhỏ (infiniment petit)
cho đến thái cực to, cho đến cái vô cực.
Phạm vi của sống khai tịch
và phát triển theo thủy chuẩn của biết, lịch
sử đă chứng minh như vậy. Cố nhiên hoàn cảnh
và kinh tế xúc tiến cái biết, nhưng mà cái biết
phải lănh đạo hoàn cảnh và kinh tế, lư luận
phải lănh đạo thực hành, mà thực hành phải
xúc tiến, chứng minh và tu chỉnh lư luận.
Có những hạng người
cần biết mới sống được. Biết là
cứu cánh ư nghĩa của nhân sinh. Có biết mới
có khả năng sống được thực tế,
nghĩa là sống trong cái chân ư vị dồi dào của
đời người. Miệng núi Fuji-Yama đă từng
nuốt sống mấy trăm thanh niên Nhật Bản. Những
người đó v́ lư tưởng của cả cái quốc
gia non nớt của họ, v́ cái phương châm đời
sống của họ, đă v́ cái chưa biết, cái
không biết được, v́ cái ám ảnh của triết
học tối cao, đem vùi thân vào cái chưa biết
được để t́m ṭi và an ủi.
Cho nên cái biết của loài người nói tóm lại
có thể chia ra ba phương diện:
A. Cần biết về nguyên
thủy:
a) Cái căn để của trời
đất, tự đâu mà sinh, nghĩa là t́m cái tối
viên măn, cái tối thái sơ, cái tự kỷ nguyên nhân
(la cause en soi) nó hoàn thành vũ trụ.
b) Cái căn để của sự vật, ở
đâu mà đến; nó là vật, nó là tâm, nó là lư hay
là lực?
c) Cái căn để của tự ḿnh, cá nhân và
nhân loại từ đâu mà có, ở đất bùn nặn
nên hay tự tiến hóa nội tại?
B. Cần biết về cứu
cánh:
a) Cứu cánh ư nghĩa của
nhân sinh: Sống để làm ǵ?
b) Cứu cánh giá trị của
nhân sinh: Sống với ư vị ǵ?
c) Cứu cánh y quy của nhân
sinh: Sống gửi thác về, biết đâu là quê
ở?
C. Cần biết về chân tướng:
a) Chân tướng của tự
ḿnh: nhân thân tiểu thiên địa, mâu thuẫn đầy
dẫy, nào biết cái chủ ngă ở nơi đâu, biết
lấy cái gương nào mà soi thấu?
b) Chân tướng của sự
vật: xă hội với tự nhiên hỗn hỗn, mang
mang, phức phức, tạp tạp.
c) Chân tướng của chân lư: mịt mịt, mù
mù, lấy đâu làm tuyệt đối?
Loài người bởi để
yên định sự sống của ḿnh trong vũ trụ,
cá nhân, xă hội, không thể không đi t́m cái tuyệt
đối, cái nhất định của ba phương
diện biết kia. Cái công việc lập tâm cho trời
đất, lập mệnh cho nhân sinh, kế văng khai lai,
tức là ở nơi t́m cái chốt trục của trung
tâm vạn vật, lấy cái đó để giữ vững
mặt trời với địa cầu, bởi loài người
phải tin măi rằng có t́m thấy cái đó mới
tránh khỏi hủy diệt. Đông Tây kim cổ, Nho th́ cần
biết tính, biết mệnh, tri chí, tri chủng. Phật
th́ cần minh tâm huấn tính, đại giác, tự
giác. Lăo th́ cần học tiên tu đạo, trường
thọ, tồn chân. Gia Tô th́ cần thánh linh mặc khải,
thể nghiệm Chúa Trời. Rồi ra cái biết của
loài người đi từ tuyệt đối luận
(dogmatisme) đến vô tri luận (agnosticisme) cho đến
kinh nghiệm luận (pragmatisme), hoặc giả vô thần
(athéisme), hữu thần (théisme), phàm thần (panthéisme),
hoặc giả duy tâm sử quan, duy vật sử quan, duy
sinh sử quan, ba bề bảy mối. Than thay thanh niên!
đời như hoa xuân mới nở, ḷng như hạt
móc ban mai, vừa bước chân ra khỏi cửa nhà, xa
nơi gối mẹ, vội cảm thấy bốn mặt
xoay vần, đường đi sai lạc, bởi muốn
t́m cái sống ở nơi tự ḿnh cho nên khổ v́ muốn
t́m cái biết.
Dù sao sống nghĩa là bả
ác được tự ḿnh. Hăy nên tự giác (Connais-toi
toi-même). Hăy tự kiến lập lấy một sinh mệnh
hệ thống, lấy cái chủ ngă tối viên măn
ở trong nơi tự ḿnh, làm tối cao thống súy cho
tự ḿnh. Herriot nói: "La connaissance cest ce qui reste
après quon a tout oublié"! Biết nghĩa là cái ǵ c̣n
thừa lại sau khi người ta đă vứt quên những
cái khác. Cái ǵ c̣n thừa lại? Ta (moi-même).
THẦN LINH VÀ
TÂM LƯ
Đầy dẫy những hạng trụy lạc trong
mê say, lạc ngũ trong tranh đấu, thất vọng
trong t́nh đời, hối hận trong hành động,
đắm đuối trong bến mê, những hạng
ấy nhiều vô kể, nhất là trong đội
ngũ những trẻ trai tự nhận nhầm là có
trí thức.
Những hạng ấy bao vây bởi
tối tăm, cùng khổ mà trở về ḿnh, gục
đầu trên cái h́nh hài cũng tối tăm của ḿnh.
Hăy tưởng tượng một cái xác chết đầy
những ṛi nhung nhúc không ghê tởm bằng, không đau
thảm bằng trông thấy những linh hồn rữa
nát và cáu bẩn bởi những ám ảnh mà quốc gia
dân tộc ta dầu cho muôn vàn xâm lược giày xéo cũng
không đáng kinh sợ, cũng không đáng thất vọng
bằng trông thấy những thanh niên yêu quí của ta bị
xâm lược, bị thống trị, bị bóc lột,
bị áp bách, bị h́nh giảo bỡi những bóng
địch tối tăm. Họ tự chết dần
trước khi chết, nghĩa là quốc gia dân tộc
ta cũng đi với họ mà chết dần dần, ngắc
ngoải một cách đau đớn, ê chề, trước
khi diệt chủng.
Đối với thanh niên sẽ
phát sinh vấn đề thần linh với tâm lư.
Đáng lẽ ra một người
dân khỏe trong một nước khỏe, th́ trên nền
tảng sinh lư là tầng tâm lư vận dụng rất
linh hoạt. Nhưng mà trên mặt tầng tâm lư của
họ sẽ nẩy nở ra vô số những sức lực
ǵ vô chất và kỳ quái, những h́nh ảnh ǵ vô căn
và dữ tợn; ở đấy họ thấy cái tâm
lư của họ chỉ là một bộ máy lệ thuộc
cho một cái ǵ vô h́nh mà gọi là thần linh. Bản
lai thần linh với tâm lư là một thể sống tối
viên măn, gọi là Như Lai Tạng (Lăng Nghiêm Kinh)
tóm góp lại bằng những tất cả nhân tố tối
tinh hoa của các plan physique, mental và astral hợp thành một
tướng (système) bao gồm vía, phách, lư trí và đạt
ma. Tâm lư cơ cấu đă kiện toàn th́ nhân cách sẽ
thống nhất, cái sinh mệnh hệ thống sẽ
không phân chia, mà cho ta một đời sống xán lạn.
C̣n những hiện tượng
hồi cố ví như réminiscence, ví như Mạt Na Thức
của nhà Phật, nó chỉ là những tăng tục tính
tích lũy trong cái quá tŕnh sống c̣n của cá nhân với
xă hội theo cái bước đi lũy tiến của
lịch sử và hoàn cảnh. Vậy th́ những sức
lực và h́nh ảnh kỳ quái trên kia, đó là tâm lư
bệnh. Nguyên lai của bệnh đó chia hai phương
diện mà nói:
a)
a) Hoàn cảnh suy lạc của
quốc gia, xă hội, gia đ́nh và tự kỷ trong cái
thời đại thực dân, và kinh tế phá sản
này.
b)
b) Giáo dục và bồi dưỡng
thuần túy trong cái khuôn khổ tiểu thuyết khiêu
dâm, lăng mạn, bi quan, yếm thế, hành động trụy
lạc và đắm đuối, quan niệm sai đường
và ái t́nh vặt.
C̣n những nguyên nhân trực
tiếp từ nơi tâm lư hủy hoại:
a)
a) Phản tưởng (arrière
pensée) làm cho người với người ngờ vực
nhau, làm cho tâm cơ càng phức tạp và ranh mănh.
b)
b) Hắc tưởng (pensée
noire) càng làm cho tối đen tinh thần sinh hoạt và
càng làm tê liệt cho vật chất sinh hoạt.
c)
c) Ảo tưởng (chimère)
làm cho thanh niên sống say, chết mê, bàng hoàng, như hồn
bướm mơ tiên, sống một cuộc đời
nửa chừng xuân dằng dặc.
Những người đó gần
như hết là tự hoại, tự diệt, tự nhơ
ḿnh mà làm nhơ cả quốc gia. Chỉ có những hạng
người ấy, hơn ai hết tự tư, tự lợi,
không hy sinh nổi cá tính, không hy sinh nổi cảm t́nh,
v́ thân họ là thân nô lệ của những sức lực
vô chất, với những h́nh ảnh vô căn, kỳ kỳ
quái quái. Họ không phải là con đẻ của tổ
tông ta, họ không phải là chiến sĩ của thời
đại, không phải là phần tử của quốc
gia, xă hội, dân tộc. Ví như Tôn Văn đă nói: "Người
là cái khí cụ của tâm hồn, nước là do người
góp chứa nên, quốc gia c̣n mất, thịnh suy, là
trông vào ḷng người phấn chấn hay ủy mị".
Những bệnh chứng của họ có thể phân chất
ra như thế này:
a)
a) Ám ảnh cáu bẩn như
sức ma vào tinh thần, sức quỷ dẫn dụ
đưa dắt, trói buộc và h́nh giảo, không cho họ
sung sướng, mà chẳng cho họ hối hận. Fran篩s
II kêu: "Que de sang! Que de sang!" trong một cuộc
ngắc ngoải khổ năo. Ngô Tôn Sách chết với
vô vàn bóng ma Vu Cát.
b)
b) Thắc loạn: (tức
là các thứ manie) có cái manie đi ăn trộm, có cái
manie giết người như Ngọa Triều bên ta, có
cái manie là cho thơ thơ thẩn thẩn.
c)
c) Tự sát: đừng cho
người tự sát là can đảm hay nhút nhát; nó chỉ
là những hy sinh phẩm của tụi quan ôn thần
kinh bệnh.
Làm sao mà họ mắc mà không
biết, biết mà không chữa, chữa mà không
được. Họ tiêu cực đối chọi với
hoàn cảnh, đổi không khí, họ bị dẫn
đạo bởi ánh sáng, cái ánh sáng thảm đạm
và lạnh lẽo của chúa Diêm Vương vô t́nh. Ôi
nihil! ôi nihil! hư vô là hư vô, hư vô là cái vực
âm thầm và không đáy.
Xét cái tinh thần của người
ta, cá nhân và xă hội không ngoài mấy tác dụng này:
1)
1) Tiềm di mặc hóa: dần
dà v́ ảnh hưởng xung quanh. Nước suối trên
non th́ trong, nước suối xuống đồng th́
đục, từ cái lành sang cái ác chỉ cách một
tóc một tơ.
2)
2) Tự kỷ ám thị
(autosuggestion): một vài ư nghĩ ấy tự trói buộc
ḿnh cũng đấy mà tự bồi dưỡng ḿnh cũng
đấy.
3)
3) Tinh thần thôi tróc
(somnambulisme): có những thầy phù thủy cao tay đánh
đồng thiếp, nhưng mà không cứ, có nhiều
phương thức mà nhiều nhà chính trị cũng dùng
tới để bóp cổ nhân dân.
Cho nên ta xét thấy những hạng
người kia, muốn tự chữa ḿnh, mà cũng chỉ
có thể tự ḿnh chữa lấy được mà
thôi, th́ hăy cố tâm trầm tiềm duồng dẫy hết
thảy những cái bậy bạ của thiên mệnh tiền
định luận dung tục (déterminisme). Hăy co kéo nó về.
Nó là ai? TA (moi-même).
Cho nên người ta muốn chữa
cái bệnh thần kinh này th́ thờ mấy chủ nghĩa:
a)
a) Tự do ư chí: muốn,
làm, biết tự do, đó là chân tự tại, chân giải
thoát.
b)
b) Tự kỷ ám thị:
Cái thiên căn của trời đất với cái thiên
căn của tự ḿnh, ở nơi một ḷng tín ngưỡng
chặt chẽ nhất (la foi, credo), tín vi đạo nguyên
công đức mẫu (Hoa Nghiêm Kinh). Người đă
kiến thiết cái ḷng tin này, ta bảo đảm sẽ
thành vĩ nhân. Napoléon, Alexandre le grand, Jésus Christ, Mahomet,
Phật, Lăo, Khổng, Gandhi, Hitler chẳng qua là những
người làm bằng cái ḷng tin đó.
c)
c) Độc lập độc
hành: không phải là cá nhân anh hùng chủ nghĩa, không
phải ưu thế thanh đàm chủ nghĩa, chỉ là
sự cố gắng lớn lao, của một người
trong những người, chỉ là sự cố gắng
ở nơi tự ḿnh.
Thiệu Tử nói: "Thánh
cũng chỉ là người, nhưng đấy mới
thật là người". Biết th́ ai cũng biết
cả, nhưng biết chân thật mới là biết.
Ta c̣n dặn thêm mấy nguyên tắc
đề pḥng bệnh thần kinh:
a)
a) Cẩn thận khi một
ḿnh, một ḿnh đối diện với ḷng, đừng
để cho ư dục sai khiến.
b) Cẩn thận khi mới đầu. Tưởng
Ủy Viên Trưởng nước Tàu nói: "Cùng lư
ư vạn vật, thủy sinh chi xứ, nghiên cơ
ư tâm ư sơ động chi thời".
b)
b) Cẩn thận từng cái
nhỏ, những cái mấp máy của ḷng, tâm tâm niệm
niệm, xem xem, niệm Ma hay niệm Phật, lỗ kiến
vỡ đê, mồi lửa cháy thành. Phàm cái ǵ lớn
lao và những cái tối trường cửu, đều
gốc gác ở những cái nhỏ. Thôi đừng tự
kỷ tác quái.
Câu phương ngôn nói: "dương thịnh
âm suy, máu xấu ma làm, nước suy quỷ hiện",
có đúng hay không đúng?
LƯ TƯỞNG
VÀ PHẢN TỈNH (Retrospection)
Trong thuyết luân hồi tối đơn giản và
thô lậu của Phật học tiểu thặng, đại
khái cho rằng: Người ta chết đi không thể
mang ǵ đi được, ngoài những nghiệp quả
tinh thần. Những nghiệp quả đó chính là những
nhân duyên cấu tạo kiếp sau. Mới biết ư chí
là không chết, mà ư chí là bộ mặt của lư tưởng
ḿnh.
Người ta sống theo những
phương thức và phương pháp qui định và
hạn chế bởi những điều kiện bản
chất. Nay phân tích xă hội sinh hoạt làm ba đức
tầng (lấy đức làm bản vị chia giai tầng):
1.
1. Sinh
mệnh tầng gồm sinh lư sinh hoạt.
2.
2. Nhân cách tầng gồm
nhân cách sinh hoạt.
3.
3. Lư tưởng tầng gồm
văn hóa và chính trị sinh hoạt.
Cũng như Tôn Văn chia loài
người ra làm ba hạng: Tiên tri tiên giác, hậu tri hậu
giác, bất tri bất giác, ta có thể căn cứ vào
các nhà giáo dục nước Mỹ chia làm ba nghiệp tầng
(lấy xă hội công năng làm bản vị chia giai tầng):
1.
1. Thực
hành nghiệp.
2.
2. Quyết đoán nghiệp.
3.
3. Sáng ư nghiệp.
Cho hay rằng những người
tiên tri tiên giác, hay là những người sáng ư nghiệp,
đều là những người thuộc về lư tưởng
tầng.
Toàn nhân loại là một đội
ngũ dưới lá cờ của những người
xướng đạo (pionnier). Đuổi theo cái bóng của
một văn hóa dễ dàng chỉ những bộ óc
tiên phong thấy trước. Tung hợp tất cả lịch
sử với xă hội mà nói: Sống tức là tiến
hóa, tiến hóa tức là thực hiện, thực hiện
tức là cụ thể của một lư tưởng mô
h́nh. Tất cả tự nhiên cũng vận động
theo những qui tắc và mục tiêu thực hiện
đó. Cho nên Buffon nói: "những bất động
vật là những vật chưa thành tựu". Thực
hiện để thành tựu, mà thành tựu trên một
nền tảng nhất như (identification). Nhà Phật
nói: Phật giới như Ma giới, nhất thiết
giai nhất như. Nhà Nho nói: Dân bạo vật giă. Lăo
nói: Ḥa quang đồng trần, đăng ư xuân
đài. Gia Tô công nhận và khuyến khích một cuộc
chiến tranh. Thái Huyền kinh nói: bây giờ không phải
là lúc đánh lộn với tâm hồn tự ḿnh, mà là
lúc chống với những thống trị thái ác, và tối
tăm trên xă hội. Cho hay nhất thiết chúng sinh giai
hữu Phật tính.
Đó là lư tưởng tối chân
chính cho nhân sinh là thiên kinh đạo nghĩa cho vũ trụ.
Bất quá sống và chết thành những bờ cơi, v́
ư chí và lư tưởng bất sinh bất tử. Nhưng
muốn xem ư chí và lư tưởng của cả loài người
hay cả dân tộc, phải biết quay con mắt trở
về trông suốt cái thâm tâm của xă hội và loài
người, cũng như muốn tự ḿnh có ư chí và
lư tưởng phải biết phản tỉnh. Muốn là
được, làm là được, biết là
được. Ta phải đi từ biết thực hiện
tự ḿnh lên đến thực hiện xă hội và thực
hiện dân tộc. Chỉ có thời cơ, chỉ có lịch
sử, chỉ có chí lương tri, chỉ có lư tưởng
là đạo để cho ta phải mau mà đạt.
Loài người trên cái hướng
sinh triết học phải nên biết rằng sự bồi
dưỡng nội tại, đối với khách quan hay
chủ quan mục đích mới chân chính có hạnh
phúc.
Sự thực hiện căn bản
là sự thực hiện tự ḿnh. Sự thực hiện
đó là để đem ḿnh đồng hóa, nhất như
hóa với vũ trụ, cho ḿnh với vũ trụ khai
thông hoàn thành Bồ Đề Đạt Ma, một thứ tự
ngă thiêng liêng và trang nghiêm vậy.
PHẬT LÀNH VỚI
MA ÁC
Trong Pháp Du kinh có kể chuyện Thích Ca Mâu Ni thành
đạo rồi, Đế Thích sai sáu tiên nữ xuống
ám ảnh quấy rối và dụ hoặc. Jésus Christ
đă từng bị dụ hoặc bởi quỉ (tenté
par le démon). Khổng Tử đă bị vấp váp bao
nhiêu lần trên đời, bị hăm ở nước Tần.
Thích Ca tất cánh đánh tan được ám ảnh,
Jésus xua đuổi được ma quỉ, Khổng Tử
gẩy đàn mà nhịn đói, đó là những cuộc
thắng lợi trên tự ḿnh, đó là những cuộc
thắng lợi nhất ḷng v́ đạo và sức bền.
Trần Hy Di đáp lại vua Tống: không lao ngọc nữ
hạ dương đài. Người ta đam mê trong khổ
ải nhưng khổ ải trước hết là ở
nơi tự ḿnh, bạt thiệp núi non, chỉ v́ tấm
ḷng trần quấy rối, bắt tấm thân chạy
đuổi theo những thanh, hương, sắc, vị,
chắc chắn không có chi khác.
Ḷng người như con vượn,
ư người như con ngựa, dục người
như con lợn. Vượn bay nhảy leo trèo, ngựa
chạy rong nước kiệu, lợn ́ ục lười
biếng.
Sự thực hiện tự ḿnh,
trước hết bỏ trừ những thú tính trong
ḿnh, kiến thiết tự ḿnh thành một tấm
thiêng liêng, kim cương vô ngă rắn rỏi và trong suốt.
Cho nên sự tịnh hóa
(purification) là công phu đầu tiên để rửa sạch
ba cái bánh xe nhân sự, nó là khẩu luân (mồm), thân
luân (thân thể), ư luân (dục vọng). Sạch
sẽ rồi mới thơm tho, sáng láng, sảng khoái và
có chủ ư. Connais-toi, toi-même, đó là chủ chỉ của
minh tâm, kiến tính và thành Phật.
Nhưng Phật với Ma là thế
nào? Ma là vô minh, ngu dốt; Phật là đại giác
sáng suốt. Sống tức là cho tự ḿnh, c̣n là thực
hiện tự ḿnh. Sống cho tự ḿnh mới là biết
sống. Ma là duyên nghiệp, Phật là tịch tịnh.
Sống nghĩa là tự ḿnh tự do giải thoát, nghĩa
là tự ḿnh cần phải đại tự tại,
đại vô úy, đại vô ngă, tức là chân chính giải
thoát. Cho nên người ta tự lúc ra đời, hăy
nên nhận thành cái hiện tượng mâu thuẫn
ở tự trong cơi ḿnh mà muốn cho đạt tới
chân thiện mỹ trước hết tự ḿnh phải
có một chủ ngă, cái chủ ngă ấy có một phương
châm sống hướng thượng. Trước hết
có đại nguyện, thực hành cái đại nguyện
đó cần tŕ chí và lực hành. Có đại nguyện
mới có ḷng tŕ chí.
Biết triệt để rồi
mới có ḷng muốn thực hành. Dân tộc, quốc
gia ta, kể về tinh thần độc lập th́ thật
siêu thoát lên trên thế giới. Bây giờ đây, loài
người không hết ca ngợi tính độc lập
của Mỹ, Ba Lan, những cuộc độc lập phí
bao nhiêu vật lộn và phí bao nhiêu xương máu. Nhưng
mà tính độc lập của Mỹ chẳng phải là
mặt trái của sự chia rẽ ṇi giống Anglo-Saxon
sao? Tính độc lập của Ba Lan chẳng phải là
thiếu cái nội tại tự lực, để mặc
cho cái quyền độc lập của ḿnh, xoay vần
bởi quốc tế thời thế hay sao? Không ǵ thuần
túy bằng tinh thần độc lập của ṇi giống
Việt, trải qua từ khi c̣n là một tốp người
nho nhỏ, tiến lên thành một dân tộc, hai triệu
rồi ba triệu, bốn năm bảy triệu, ở cơi
trung châu chật hẹp, cho nên ngày nay 50 triệu người,
từng thống nhất dưới Đinh Tiên Hoàng, Trần
Hưng Đạo, từng phân toái hết thảy mọi
ngoại lực xâm lược.
Không ǵ vĩ đại bằng
tinh thần độc lập của ṇi giống Việt,
có cái quyền bính độc lập đó, nắm
được ở tay ḿnh, mà tự ở đáy tầng
dân chúng nắm tự tay dân tộc ḿnh, Lê Lợi cách mạng,
đó là cuộc tự lực cánh sinh một trăm phần
trăm vậy.
Nhưng mà bây giờ đây, người
Việt ta phải hiểu thấu cái để uẩn tối
thiêng liêng của ṇi ḿnh, cái lư niệm tối thực
tại của Tiên với Rồng, cái tinh thần tượng
trưng đó đă diễn tiến theo biện chứng
pháp ra một cái quá tŕnh lịch sử của chúng ta
khi hưng khi vong, khi ẩn phục, khi triển khai.
Căn cứ vào cái tinh thần lư tắc ấy, và lư tắc
lịch sử đó, ta đoán định nhất quyết
là thời đại trước mắt ta đây, chính
là buổi rạng đông của văn minh cao khiết mới,
một sứ mệnh vĩ đại mới, và một
sự nghiệp hùng tráng khai quang của dân tộc Việt.
Một thế kỷ lâm ly khổ ải đă thẩm thấu
vào ḷng mọi người Việt, cái bộc phát của
tương lai, cái đột biến của sự nghiệp.
Cho nên cái quá tŕnh phục hưng của ṇi nước
ta có thể chia ra làm đại bi, đại giác, đại
nguyện, đại hành, đại hùng, đại thế,
đại đạo.
Tự cảm giác thấy cái
đau khổ lớn lao mà thức tỉnh một cách mạnh
mẽ, rồi tự t́m lấy một lư tưởng cao
cả mà xông vào vật lộn hy sinh đến kỳ cùng.
Đến đây bao nhiêu lực lượng và tinh thần
tồn tại khỏe khoắn của suốt một thế
hệ tổ tiên sâu dày đă trở lại ḿnh, đứng
trên một cương vị có bề thế ưu thắng,
có một bộ óc và hai bàn tay vạn năng, hoàn thành
cái đạo lớn cho loài người.
Nhưng mà cái tŕnh tự kim
đan hoán cốt, cải biến đời người,
nó cho một khí lực tân sinh cho mỗi cá nhân người
Việt cũng phải thế.
Người Việt phải truy
bản cùng nguyên cái đáy ḷng ḿnh và đáy ḷng lịch
sử của ṇi giống, kín gánh ở đấy cái
nguồn sinh lực, đạo đức và trí tuệ,
nó làm ḿnh đứng dậy lớn lao lên và mạnh mẽ,
cầm bó đuốc của đời sau phát nguyện
mà làm việc.
Phục hưng dân tộc trước
hết phải phục hưng cá nhân. Dân tộc có độc
lập được hay không là nhờ ở thanh niên
có độc lập năng lực hay không. Muốn biết
phải làm. Sinh nhi tri chi, học nhi tri chi, khốn nhi tri
chi, cập kỳ tri giả nhất giă.
An nhi hành chi, lợi nhi hành chi,
miễn cưỡng nhi hành chi, cập kỳ thành công giả
nhất giă. Hỡi dân tộc thanh niên, phải chịu
khốn khổ mà cầu biết, phải biết miễn
cưỡng mà làm đi!
CƠI PHÚC VÀ DÂY
OAN
"Tu là cơi phúc, t́nh là dây oan",
cá nhân có tu th́ dân tộc mới hưng, dân tộc Việt
đừng để dây oan nghiệt của đế quốc
dă tâm, chằng buộc ấy ḿnh măi, đồng thời
đừng để những dây khắc khổ cùng những
truyền thống không thuần túy thắt bóp ḿnh măi.
Tất cánh chúng ta phải độc
lập và giải phóng, độc lập cho hết thảy
quốc gia mệnh mạch và sinh hoạt cơ năng của
ta, cởi mở cho hết thảy dân tộc tính, dân tộc
t́nh, dân tộc chí của ta được tự do
thư triển với thế giới. Làm sao chúng ta phát
huy được những tiềm lực độc
đặc của dân tộc ta trong cơi đời, cống
hiến cho toàn nhân loại cái quang huy của tâm t́nh, năng
lực ṇi giống ta cái tinh thần cố hữu của
dân tộc trào phúng, khảng khái, độc lập, sáng
tạo, bền dai, chúng ta phải bả ác lấy mà kiến
thiết ḿnh trên những nhân tố đó.
Vậy thời mỗi dân tộc
thanh niên phải tu tỉnh. Có ba lối tu: thứ nhất
tu tại gia, thứ nh́ tu chợ, thứ ba tu chùa; cho nên
tu ở tại ḿnh là ch́a khóa của thời đại
mới, của sự đạt tới cái tiêu đích
đại vô úy, đại tự tại, đại giải
thoát, cho cả dân tộc, cho mỗi một người
ta.
Tôi đem cái kinh nghiệm của
tự tôi trong sự tu dưỡng của tự tôi, cống
hiến làm cái sơ bộ cho mọi người.
1. Trung tâm giáo dưỡng
a) Lập chí chí thành: lập một
chí nguyện một lư tưởng trên sự giác ngộ,
rất xác thiết đối với dân tộc, ở
đó sinh ra một ḷng chí nhiệt, chí thành, suy động
hết thảy sinh mệnh cơ năng.
b) Tính, tâm, thân, mệnh: Tính
cho được trong suốt, tâm cho được yên
ổn, mệnh cho được vững bền, thân cho
được phát huy.
Mệnh gồm tinh, khí, thần;
thân vững bền rồi th́ tâm mới được
yên định tinh túc, tinh thần được dồi
dào, tất tính được trong suốt như tấm
gương; như thế thân tức là sự nghiệp,
thân thế, hành vi, ngôn ngữ, nhân cách sẽ được
kiện toàn, thống nhất.
2. Lịch sử sinh hoạt
a) Sống một đời sống
lịch sử, sống theo cái quá tŕnh lịch sử của
ṇi giống, lấy cá nhân sinh mệnh ḿnh phối hợp
những giai đoạn của nó vào giai đoạn tất
nhiên của lịch sử.
b) Nhận thức lịch sử
của dân tộc.
c) Cảm ứng lịch sử
của dân tộc: chúng ta vui, buồn, khổ, oán, thù, mừng,
hy vọng thuần túy bằng cái vui, buồn, khổ,
oán, thù, mừng hay hy vọng của dân tộc.
Hàm súc những tính, t́nh, chí của
dân tộc vào tấm thân ta, nó sẽ nuôi ta thành một
phần tử chân chính và tiền tiến của dân tộc.
Nó sẽ cung cấp hết những lư trí và tiềm lực,
kinh nghiệm đủ để cho ta ra đời.
Hết sức giảm bớt những vui, buồn, khổ,
oán, thù, mừng, hy vọng riêng của cá nhân ta.
d) Dân tộc làm trung tâm: đảm đương sứ
mệnh của lịch sử hết thảy sự nghiệp
hoặc văn hóa, kinh tế, quân sự, xă hội, chính
trị, giáo dục y cứ trên cái nền tảng lịch
sử sinh hoạt mà phối hợp với các nhiệm vụ
cách mệnh kiến quốc, lư tưởng của ṇi giống.
Chỉ có lấy đó làm trung tâm, nhiên hậu mới
phát huy đến bờ cơi được cái vĩ
đại của tự lực và sáng tạo lực.
3. Tiềm tại tu dưỡng
Nên hỏi mà biết, biết
mà làm, không nên nói nhiều.
a)
a) Nội tỉnh:
Tồn
Bảo tồn (minh tính)
Dưỡng
Hàm dưỡng (đạm bạc)
Tỉnh
Phản tỉnh (khế hội)
Xác
Thể xác
b)
b) Ngoại tẩm
Thiệp
Thiệp liệp (non sông, nhân t́nh, thế cố)
Tẩm
Tẩm nhuần (thiên nhiên, nghệ thuật, cổ phong)
Thực
Thực tiễn (học thuật, lao vụ, động tác)
Đào
Đào dă (nắng, mưa, gian hiểm, tính t́nh)
Cách
vật Trí chi (lực hành).
Liễu Châu 4821 tuổi Việt
(1942)
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
LẤY ÓC
MÀ CHỮA BỆNH ÓC
Xét bệnh thần kinh có mấy
thứ, từ bệnh nhức đầu (névralgie) cho
đến bệnh nhức óc (neurasthésie), kịch liệt
tính như bệnh đau màng óc (méningite), âm ỷ tính
như bệnh thần kinh quá mẫn (nervosité), tiến
lên cho đến các hạng thắc loạn (manies), kiện
vong (perte de mémoire), thoáng quên (absence), các hạng điên
cuồng có nhiều thứ, cứu kỳ nguyên nhân không
ngoài mấy căn nguyên: thiếu máu, chướng khí, sầu
uất, tâm lư kích động, lao lực, lao tâm, tư
tưởng thái quá, t́nh bệnh như thủ dâm, di
tinh, mộng tinh, lănh tinh, thanh niên hay mắc nhất,
đương lúc thanh xuân kỳ rờ rỡ, tâm lư và
sinh lư phát triển chính gặp lúc kịch biến, những
hiện tượng xă hội và những hiện tượng
tâm thần kích thích mà nên. Nhưng mà thanh niên là hy vọng
của quốc gia, dân tộc, là chủ lực của
nhân loại văn minh, không tự phán phát mà t́m
đường xuất lộ, th́ lư tưởng và quốc
gia ảnh hưởng không ít.
Xét cách chữa có thể chia
hai phương diện mà nói:
1)
1) Tu dưỡng: có thể
dùng phương pháp lưu dưỡng, tẩy nhẹ vận
động thư thái, sinh hoạt điều độ,
tinh thần nghỉ ngơi, doanh dưỡng có chế
độ. Bổ cứu thêm thuốc thang chuyên môn.
2)
2)
Điều dưỡng trong sự nghỉ ngơi và thư
thái, tổ chức lại bộ óc sung thực cho kiện
toàn, điều tiết cho linh hoạt, lấy đó làm
cơ sở cải tạo sinh mệnh cơ năng, sinh lư
và tâm lư, tiến lên cải tạo chính cái sinh mệnh
hệ thống.
Sự hoạt động của
loài người lấy thần kinh làm then chốt. Cho
nên muốn hiểu rơ những hiện tượng sinh tồn
cá nhân và xă hội, cần phải biết kết cấu
của bộ óc, địa vị của nó và lai nguyên
của sức sống do nó chi phối là tinh, khí, thần.
Nếu lấy phương diện tĩnh của
phương pháp phân tích mà nói th́ bộ óc dệt nên bởi
những tiềm duy và tế bào, năng lực của nó
chứa góp cái tự kỷ năng lực của những
tiềm duy và tế bào đó. Song lấy phương pháp
mới của các nhà khoa học hiện đại, th́ năng
lực và hiệu dụng của thần kinh do ở sức
vận hành của máu, hơi thở, dịch chất tom
góp lại thành những luồng điện A và B luôn
luôn cung cấp cho bộ máy đó. Cho nên tung hợp lại
có thể nói theo y lư Đông Phương th́ óc là phủ
nguyên thần tích súc hết thảy tinh hoa kết lại
trong người mà thành. Tinh do máu, dịch chất kết
tích lại ở thận thông xương sống, tủy
mà làm bản chất của óc, khí do sự vận hành
của máu, hơi thở mà thành các luồng điện
A và B, thần tức là cái hoạt lực để tinh
với khí tương hỗ chuyển biến mà nên. Cho
nên từ nguyên tắc tu thân xử thế cho đến
chữa bệnh bằng tự ḿnh không ngoài hai điều:
1) Lấy chí xuất khí:
Chí tức là ư chí trong người, lấy một ư chí
kiện cường và minh mẫn mà sai khiến sinh lư
sinh hoạt với tâm lư sinh hoạt. Trong thần kinh hệ
chia làm hai là: vận động hệ gồm các dây
trông về tự động và nội tạng như tiêu
hóa, tuần hoàn, cử động và tri giác hệ tức
là những dây trông về cảm giác, nghĩ ngợi,
ghi nhớ. Hai hệ này có liên hệ mật thiết với
nhau, khỏe yếu có ảnh hưởng lẫn nhau.
2) Lấy tĩnh chế động: Dùng một chủ thể rất bền
vững yên định để sai khiến những khách
thể phức tạp và động loạn, cho những
khách thể đó phải tuân theo ư chí của chủ thể
mà điều độ. Có thể chia phép điều
dưỡng làm ba bước:
A. Thời kỳ thứ nhất: Đây là thời kỳ thu phục lại
cái thường thức cho bộ tổ chức và vận
dụng của óc, nhân đó thành lập một quy mô
sinh mệnh. Nhưng cái tiên quyết điều kiện
là người tự chữa phải cố gắng, có một
ư chí và chủ ngă rất bền mạnh, rất trầm
tiềm, rất nhẫn nại. Cái mục đích dự
định của thời kỳ này là:
1) Làm hết các trạng thái thắc
loạn trong óc bất cứ về sinh lư như hư ḥa
dịch chất (humeur) cho óc và gân đươc sảng
khoái, thong thả hay là về tâm lư như sầu muộn,
ảo tưởng, hoang mang.
2) Bắt đầu thu nạp lại
cái qui mô và trật tự của sinh lư sinh hoạt như
thở đều, tiêu hóa tốt, bài tiết tốt,
máu chảy tốt và của tâm lư sinh hoạt như
tư tưởng cho phải chăng, t́nh cảm cho
điều ḥa.
3) Nhân đó dựng nên một
cái nhân cách chớm đầu hệ thống và quy luật
hóa. Các phương pháp chữa gồm có:
a)
Tản bộ sớm và chiều cho sinh cơ được
thư triển và giúp ích cho tinh thần đối với
tự nhiên có ảnh hưởng đẹp đẽ.
b)
Hô hấp sáng và chiều, nhè nhẹ và in ít để
khai thông vận hành cho vận động hệ của bộ
óc, hô hấp hệ, tuần hoàn hệ, tiêu hóa hệ.
c)
Vận động nhẹ và tẩy nhẹ cho các dịch
chất đọng ngừng được thông thoát và
toàn bộ cơ năng của thân người được
sảng khoái.
d)
Tung hợp và điều chỉnh lại các kư ức của
ḿnh, tức là tổ chức những tư tưởng
t́nh cảm đă qua của ḿnh cho không hỗn loạn.
đ)
Ngừng mặc, ngồi lặng cho tinh thần được
tĩnh định, không chút vẩn ḷng và yên nghỉ bộ
óc.
e)
Giữ vững được thận của ḿnh tránh những
di tinh, mộng tinh.
g)
Ổn định tâm của ḿnh cho khỏi bị ngoại
vật kích thích hay bị động với ngoại vật.
B. Thời kỳ thứ hai:
Phải tiến lên học đến cách vận dụng
và phát triển cái thường thái ở trên cho tâm với
thần được b́nh hành phát triển, tâm lư cơ
cấu khỏe khoắn, sinh hoạt có quy luật, nhân
cách biểu hiệu được thống nhất. Các
phương pháp gồm có:
1)
Tổ chức lư trí hệ thống tức là học về
lư tắc (logique).
2)
Tổ chức t́nh cảm hệ thống, tức là học
về thẩm mỹ (esthétique).
3)
Tổ chức ư chí hệ thống, tức là học về
lịch sử.
C. Thời kỳ thứ ba:
Thu góp cái kết quả của thời kỳ trên mà
đặt yên cái sinh mệnh hệ thống của ḿnh
và phát huy cái sinh mệnh công năng của ḿnh. Lợi
dụng cái ư chí tối cao làm trung tâm chỉ huy lư trí
và t́nh cảm, tiến sâu vào con đường khoa học,
bác ái và công minh, thời kỳ này phải giải quyết
4 vấn đề:
a)
Nhân sinh quan (thái độ đối với sự sống)
b)
Nhân tử quan (thái độ đối với sự chết)
c)
Phải hiểu cái khuôn khổ của thời đại.
Thời đại với văn hóa có cái khuôn khổ
riêng của nó, ví như văn hóa Hy Lạp, lấy cái
vóc đẹp, trí sáng, sức khỏe làm mô phạm
v.v... Cho nên biết văn hóa thời đại hay lịch
sử chẳng qua chỉ có một nhiệm vụ tối
cao là hun đúc nên một con người xứng đáng.
Ta thử tưởng tượng xem cái văn hóa tương
lai của dân tộc Việt nên lấy cái khuôn khổ
ǵ? Như ư tôi nghĩ chỉ cần: thận vững,
tim trong, óc sáng, ḿnh nhẹ, tay mạnh.
d)
Phải kiến thiết một đời sống lư tưởng.
Đời sống của người ta vốn là một cuộc
đi có dự định kế hoạch để đạt
tới một dự định mục tiêu, hoàn thành một
dự định ư nghĩa và một dự định
giá trị của nhân sinh. Châm đối theo cái đó
hăy nêu cho đời ḿnh một phương châm tinh thần
làm cái đích để dấn thân tới, triệt
để cống hiến cho dân tộc và nhân loại.
I. BỒN GỘT
RỬA
A- Gột rửa những trầm trệ bệnh của
tâm lư về lịch sử:
1) Tâm lư thù oán tổ tiên.
2) Tâm lư miệt thị tổ
tiên
3) Tâm lư quên bỏ tổ tiên
4) Tâm lư kiêu nịnh tổ tiên
5) Tâm lư lầm lẫn nguồn
gốc.
B- Gột hết những trầm
trệ bệnh tâm lư về hiện tại:
1) Tâm lư thù ghét xă hội
2) Tâm lư quảng phiếm xă hội
3) Tâm lư giai cấp đơn
độc
4) Tâm lư cá nhân đơn độc
5) Tâm lư dân tộc đơn
độc
6) Tâm lư thế hệ
đơn độc.
C- Gột rửa hết những
trầm trệ bệnh của tâm lư về tương
lai:
1) Tâm lư cẩu thả sinh hoạt
2) Tâm lư bạo khí sinh hoạt
3) Tâm lư thiên khích sinh hoạt
4) Tâm lư dao động sinh hoạt
D- Mấu cứ của tin tưởng
trên lịch sử:
1) Quyền lợi
đương nhiên
2) Đoàn thể dân tộc
3) Tư cách lịch sử
4) Lập trường siêu nhiên
5) Đường đi cỗi gốc
6) Chủ trương thắng
nghĩa.
Đ- Mấu cứ của tin tưởng
trên hiện đại
1) Nhân t́nh:
|
a) Phản cách mạng |
Hữu t́nh nhỏ |
2) Thế thái:
|
a) Danh |
|
Nhân cách siêu |
E- Mấu cứ của tin tưởng về
tương lai:
1) Nhân cách khởi tín
2) Học thuật khởi tín
3) Thời sự khởi tín
Nội bộ:
|
1) Không bị sàm hoặc |
Tâm thông |
Mục đích khởi tín lấy phục
vụ cho cương thường loài người, sống
chung toàn tính, làm cho mục đích kiên quyết, phải
đề pḥng:
a)
Trảm thặng vận động (phản động
chém trừ toàn thể v́ đa số, chém trừ đa
số v́ thiểu số chém trừ thiểu số v́
độc tài).
b) Phân ly vận động: (ly tâm xu hướng, phá
hoại chiến thuật) phải kiên tŕ.
c) Sinh hóa vận động (từ một ra ít, ít ra
nhiều, nhiều ra toàn thể).
II. ĐÀI HY
SINH
A-
Ư nghĩa của hy sinh là h́nh thức của nó qua các thời
đại. Tông giáo hy sinh lễ là tuẫn đạo, các
cuộc hy sinh v́ học thuật, tư tưởng v.v...
B-
Sự sống bắt rễ ở sự chết. Lễ
nhập quan tông giáo: đời người bắt đầu
tự đó. Sự thoát xác qua các thế hệ, sức
suy tiến loài người của hy sinh.
C-
Chân ngôn.
D-
Đại nguyện.
Đ-
Đại giá của hy sinh là vinh quang, đại giá của
sự chết là sự sống c̣n măi măi của loài người,
đại giá của quyết chết là thành công, đại
giá của lư tưởng là một ư nghĩa với một
công năng tích cực cho vũ trụ không nghĩ ngợi
và làm lụng, một ư nghĩa hiện thực trong sát
na và vi trần của vô thường.
E-
Trỉ đạo của hy sinh trong trí tuệ và nghị
lực chân chính.
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
PHẦN
CHÚ GIẢI
1.-HUYẾT HOA
huyết hoa: Hoa của loài cây, cỏ
được tưới bón bằng máu đấu
tranh.
biện chứng: biện chứng là phương
pháp biện luận có chứng cớ thực tế.
biến pháp: Biến: thay đổi khác với
đường lối cũ. Pháp: khuôn mẫu, luật lệ,
cách thức làm việc để mọi người tuân
theo. Biến Pháp là sự thay đổi, cải tiến
đường lối chính trị, chế độ cai
trị của một quốc gia.
nhất quán: là sự liên lạc của tư
tưởng thành một hệ thống qua một phương
pháp suy luận suốt dọc.
uyên nguyên: nguồn gốc sâu xa của một
sự vật.
để uẩn: là phần kín đáo nằm
sâu dưới đáy, phần nội dung, bên trong của
một vật thể.
xiển dương: là đưa ra những cái
hay cái đúng của một chủ thuyết, đạo
giáo mà tán tụng khen ngợi để mọi người
biết đến mà đi theo.
thai sinh: sinh sản bằng mang thai.
noăn sinh: sinh sản bằng đẻ trứng.
thấp sinh: sinh ở nơi ẩm thấp
như thực vật, thảo mộc.
hóa sinh: sinh bằng cách đổi lốt, lột
xác.
chấp chước:
là khư khư chỉ biết giữ cái nhỏ mà quên
cái lớn; thái độ cố chấp một cách u mê,
thiển cận.
dục giới: theo nhà Phật, Giới là cảnh
ngộ, nên chia những phần c̣n phải vướng
nghiệp luân hồi làm 3 cơi: dục giới, sắc giới,
vô sắc giới, mỗi cảnh ngộ mỗi khác. Dục
giới gồm 4 loại dục: t́nh dục, sắc dục,
thực dục, dâm dục.
sắc giới: là cơi đời chỉ c̣n
h́nh sắc không c̣n t́nh dục như ở cơi tiên.
vô sắc giới: cơi cao nhất trong 3 cơi,
không c̣n sắc tướng, chỉ có cái ư thức rất
vi diệu.
vô minh: là người không có trí tuệ.
sinh mệnh: là cái sự sống của một
người.
niết bàn: người tu đă chứng
đạo khi bỏ xác phàm về nơi không sinh không diệt,
không c̣n phiền năo.
chủng tử: hạt giống để gieo
trồng.
chân như: là bản tính nguyên thủy vẫn
tinh thành, viên măn không thay đổi, bất sinh bất
diệt.
như lai: "Phật vốn không từ
đâu lại (vô sở ṭng lai) mà cũng không đi
đâu (diệc vô sở khứ)" (Kinh Kim Cang). Theo Đạo
Viên Tập, sách giải thích: "vốn biết gọi
là Như, hiện biết gọi là Lai.".
thụ kư: truyền trao lại nhiệm vụ
và kư thác những việc phải làm.
bỉ ngạn: là bờ bên kia của bể
khổ tức Bến Giác, c̣n bên này là Bến Mê. Tu chứng
tới cơi chính giác gọi là đáo bỉ ngạn.
tam muội: dùng công tu hành mà diệt
được hết trần duyên mà vào cơi trống
không vắng lặng. Tam muội, chỗ tuyệt đích
áo diệu của một môn ǵ.
thực tiễn: phù hợp với sự thật,
có thể thực hành được, có thể áp dụng
vào thực tế.
thủy b́nh: sự bằng nhau đo theo mực
nước.
thủy chuẩn: là cái mức độ
chung, tŕnh độ chung: sinh hoạt thủy chuẩn,
văn hóa thủy chuẩn.
thủ đoạn: là cách làm việc khôn
khéo có tính toán trước sau phù hợp với hoàn cảnh
thực tế để nắm chắc thành công. Thủ
đoạn là phương pháp làm việc của cá nhân
biết quyền biến ứng phó với thực tế,
không giáo điều, biết chấp kinh mà cũng biết
ṭng quyền. Chữ thủ đoạn thường bị
gán cho một ư xấu là đầy mánh khóe, mưu mẹo
để lừa gạt người, dám làm mọi việc
để đạt tới mục đích với quan niệm
"cứu cánh biện minh cho phương tiện".
Nghĩa chữ, thủ đoạn là chính tay ḿnh cắt
đặt ra để nói lên tính chất chủ động
của người làm. Chữ thủ đoạn c̣n có
nghĩa là nắm chặt lấy mục đích của từng
giai đoạn, đi từng bước một thật
vững chắc, hoàn tất từng phần của toàn bộ
kế hoạch để thành công trọn vẹn. Đem so
sánh với phương pháp th́ phương pháp là cách
làm việc theo tiêu chuẩn khoa học, theo khuôn mẫu
do đó nặng giáo điều, không uyển chuyển
phù hợp cho từng trường hợp đặc thù
của thực tế phức tạp.
súy đồ: là mưu tính thực hiện
những điều ḿnh mong muốn bằng cách lập kế
hoạch thi hành. Súy đồ là âm mưu, mưu chưa
lộ ra, chưa thành h́nh.
hiệp nghĩa: là dũng cảm làm việc
nghĩa, tinh thần công chính của những người
biết phải trái, biết trách nhiệm liên đới,
không bàng quan tọa thị cầu an để mang tội
đồng lơa với bọn làm ác.
hoa tháng Năm: tên chiếc tàu Mayflower, chở
những người di cư đầu tiên đến
Hoa Kỳ từ Anh (1620).
biên thú: nơi hoang vu đầy nguy hiểm ŕnh
rập mà những người có nhiệm vụ ǵn giữ
lănh thổ tổ quốc phải ở.
Bastille: tên một lâu đài cổ được
dùng làm trại tù ở Paris (Pháp), bị dân chúng phá
ngày
bảo chướng: ǵn giữ và che chở.
tháng Mười: cuộc Cách Mạng Nga xảy
ra vào ngày 25/10 theo lịch cũ tức ngày 7/11/1917 để
lật đổ Chính Phủ Lâm Thời thành lập chế
độ Sô Viết, phân biệt với cuộc cách mạng
tháng Hai theo lịch cũ tức tháng 3/1917 nhằm lật
đổ chế độ quân chủ (Nga Hoàng chính phủ)
để lập Chính Phủ Lâm Thời trong đó đảng
cộng sản chỉ là thiểu số.
phương án: là cách thức giải quyết
một vấn đề trong quá khứ được
coi là thỏa đáng, nay được coi là khuôn mẫu
cho mọi người làm theo.
Tô⍊Liên: liên minh các Cộng Ḥa theo chủ
nghĩa xă hội sô viết, gọi tắt là Liên Sô
(URSS). Nga chỉ là một cộng ḥa trong số 15 nước
cộng ḥa khác.
bộ sậu: nghĩa chữ là bước
đi của người, cách chạy của ngựa, nghĩa
bóng là tŕnh tự tiến hành công việc.
Stakhanovisme: chủ trương của
Stakhanov, chuyên viên người Nga nghiên cứu về cách
làm việc cho hữu hiệu: phương pháp làm
gia tăng sản phẩm bằng cách đăi ngộ các
cá nhân có sáng kiến hay trong sản xuất, được
phát triển và áp dụng ở Liên Sô vào năm 1935.
thuế biến: sự tiến hóa bằng h́nh
thức lột xác để lên một mức cao hơn.
phạn thiên: là Đại Phạn Thiên Vương,
vị thần cao nhất trong Bà La Môn giáo (Brahmanism), 2
ngôi kia là Vishnu và Shiva.
cương lĩnh: là cái dây kéo lưới,
cái cổ của áo. Trong chính trị, cương lĩnh
là bản tóm lược những điểm quan trọng
chủ yếu trong chương tŕnh đấu tranh của
một chính đảng.
vu miệt: là dựng chuyện để
bôi xấu người với mục đích để hạ
uy tín.
chế độ: nghĩa chữ là những
thứ dùng để đo lường chung cho mọi
người. Trong chính trị, chế độ là những
nguyên tắc cơ bản để điều hành một
quốc gia phản ảnh qua tổ chức chính quyền.
trẫm triệu: là những ǵ đă phát
lộ ra h́nh tướng mà mắt trông tai nghe được
để đoán biết trước những ǵ sẽ
phải xảy ra sau đó, như nh́n điềm trời
để đoán thời tiết.
quán tưởng: là chuyên chú suy nghĩ để
t́m hiểu suốt dọc toàn thể sự việc.
tinh diệu: là cái tính chất không pha tạp,
nhỏ bé khó nghĩ tới của một sự vật
(ư niệm về phân tử trong khoa học, những
nguyên tố tạo nên vật chất).
thăng hoa: nghĩa chữ là đưa lên
cao và làm cho rực rỡ đẹp đẽ hơn.
Trong tâm lư học, thăng hoa là sự chuyển hướng
năng lực để làm những công việc
được coi là cao thượng, hơn là dùng để
thỏa măn những đ̣i hỏi sinh lư bị coi là thấp
hèn.
công đức: là những hành động của
cá nhân đóng góp trong việc xây dựng tập thể.
Có công lao với người gọi là công, có đức
huệ với người gọi là đức, những
thành quả do tu thân hành đạo mà tạo nên trong cuộc
sống của một người.
Muses: Chín Nàng Nghệ Thuật, chín người
con gái của Zeus với Mnemosyne, chia nhau chủ tŕ các
ngành Nghệ Thuật:
1. Calliope coi về loai thi ca anh hùng (epic poetry)
2. Clio coi về lịch sử (history)
3. Erato coi về thi ca trữ t́nh (lyric poetry)
4. Euterpe coi về âm nhạc (music)
5. Melpomene coi về bi kịch (tragedy)
6. Polyhymnia coi về âm nhạc tế tự (religious
music)
7. Terpsichore coi về vũ (dance)
8. Thalia coi về hài kịch (comedy)
9. Urania coi về thiên văn (astronomy)
Muses c̣n được gọi chung là những nguồn
hứng khởi của người nghệ sĩ.
lương tâm: là cái hướng dẫn con
người hành động theo lẽ phải mà ai cũng
có.
lăng mạn: là phóng túng buông thả không kềm
chế mối thất t́nh để chảy trôi tràn lan
như sóng nước.
thời đại: là khoảng thời gian rất
dài gồm nhiều chục năm, nhiều trăm
năm, nhiều ngàn năm có chung một đặc tính
nổi bật.
2.-SỬ
HỒN
sử hồn: phần tinh anh trong ư nghĩa của
sử nằm ẩn tàng trong các sự kiện vụn vặt
được ghi chép lại. Phần tinh thần của
sử, làm cho sự kiện rời rạc thống nhất
thành một toàn thể linh động đầy ư nghĩa.
hối hận: giận ḿnh đă làm điều
trái với lương tâm, thiên lư, nay giác ngộ, phản
tỉnh mong muốn sửa đổi lỗi lầm
xưa mà không được.
nhân đạo: là con đường mà loài người
phải đi theo để đạt tới đích
điểm dự cầu là sống tự do và hạnh
phúc trong ḥa b́nh và huynh đệ. Nhân đạo là con
đường với những chặng tiến hóa tất
yếu của loài người.
tăng tiến: là sự phát triển đa diện
của một vật thể trong không gian 3 chiều gồm
cả phẩm lẫn lượng.
thực thể: là một vật thể hiện
hữu trong thực tế với những cách biểu lộ
đặc thù của nó, là cái bản chất chân thực
của một vật được cụ thể hóa
trong thực tế.
phong thiện: xưa thiên tử đi tuần
thú đắp đất làm nền ở núi Thái Sơn
để tế trời, quét núi nhỏ để tế
đất gọi là phong thiện.
Joseph Stalin (1879-1953): Tổng Bí Thư đảng
Cộng Sản Liên Sô từ 1922-1953, Thủ Tướng
Liên Sô từ 1941-1953.
Stalinism: những nguyên tắc áp dụng
chủ nghĩa cộng sản theo Stalin, đặc biệt
là sự đàn áp thẳng tay phe đối lập khác
biệt về chính kiến và ư thức hệ, sự
độc tài tuyệt đối bằng cách tập
trung quyền hành vào tay một cá nhân, và đường
lối quốc tế xâm lược.
Tsar, Czar: Nga Hoàng, gọi chung những người
cai trị nước Nga tới cuộc cách mạng 1917,
chủ trương độc tài.
Komintern: Tổ chức Đệ Tam Quốc
Tế (1819-1943), do Lenin tổ chức ở
phản tỉnh: là suy xét kỹ lưỡng, thẩm
định lại giá trị những tư tưởng,
hành động mà trước đây ḿnh cho là đúng
dưới một nhăn quan mới của một người
đă giác ngộ. Trong tương quan hành động, phản
tỉnh là điều kiện cần thiết để
có hối hận.
Phát xít (Fascism): chủ trương chính thể
độc tài, do một lănh tụ cầm quyền, đề
cao chủ nghĩa quốc gia cực đoan với chính
sách xâm lược và đề cao chủng tộc. Phong
trào phát xít Ư của Benito Mussolini (1883-1945) lập ra từ
1922-1943.
Nazi: viết tắt từ Nazional Sozialist của
tiếng Đức tức đảng Quốc Gia Xă Hội
gọi tắt là Quốc Xă, điều hành nước
Đức từ 1933 đến 1955 dưới quyền lănh
đạo của Adoft Hitler (1889-1945). Nazism là một chủ
thuyết kinh tế chính trị được dựa
theo cuốn "The Third German Reich" bao gồm những
nguyên tắc cai trị độc tài, quốc gia kiểm
soát hết mọi ngành kỹ nghệ, chủ trương
chủng tộc siêu việt và tôn trọng quyền tối
thượng của lănh tụ "Fhrer".
Mahatma Gandhi (1869-1948): Lănh tụ Quốc Gia
Ấn Độ.
chủ nghĩa: là một hệ thống tư
tưởng bao gồm những nguyên tắc căn bản
để hướng dẫn hành động được
cá nhân hay tổ chức tuân theo với một chủ
tâm. Chủ nghĩa, nghĩa chữ là cái ư nghĩa cốt
yếu được chủ trương bởi một
cá nhân nào đó, đă nói lên cái tính chất chủ
quan và tích cực trong tư tưởng cũng như hành
động của những người tôn thờ nó. Bản
chất biến dịch của cuộc đời và sự
đặc thù của hoàn cảnh dễ làm cho "cái
được gọi là" chủ nghĩa trở thành
lỗi thời, mất hiệu nghiẹ䭬 cần phải
xét lại từng phần hay toàn diện hoặc loại
bỏ. Và nó làm nên sự tiến bộ trong tư tưởng
của nhân loại đi về đích điểm Nhân
Chủ sau nhiều đợt xét lại, sửa sai.
vũ trụ: là một môi trường dung
chứa được toàn thể mọi sự vật,
mọi hiện tượng đă được con
người nhận biết và xếp đặt theo một
trật tự có tính chất chủ quan. Vũ trụ là
môi trường sinh hoạt của loài người thống
nhất thành một thể, cũng như đời là
môi trường sinh hoạt của cá nhân. Bản chất
của vũ trụ và đời là sự đúc kết
không gian và thời gian thành một, do đó chúng chỉ
khác biệt ở mức độ cao thấp, lớn nhỏ
trong tiến tŕnh cá biệt hóa, cụ thể hóa.
bá đạo: là những phương thuật
phải thực hiện để lập nên nghiệp
bá. Bá chưa phải là người cầm đầu
thiên hạ nhưng uy quyền cũng trùm lớp thiên hạ,
dưới một người mà trên muôn nngười,
thường nhân danh thiên tử, đạo nghĩa để
sai xử chư hầu. Trong nghĩa rộng, bá đạo
được hiểu như một đường lối
chính trị khinh nhân nghĩa trọng kỹ thuật,
thường dùng bạo lực để đàn áp người
để được khẩu phục.
vương đạo:
đường lối để làm nên vương nghiệp,
thống nhất toàn thiên hạ. Trong nghĩa rộng,
vương đạo được hiểu như mô⯴
đường lối chính trị trọng nhân nghĩa,
thường dùng lư tưởng đạo đức
để cảm hóa người nên đạt được
tâm phục.
đào thải: là đăi lọc lấy cái tốt,
gạt bỏ những cái xấu, một quy luật của
sống c̣n và tiến hóa.
Lê Văn Hưu: người làng Phủ Lư, huyện
Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đậu Bảng Nhăn năm
18 tuổi (1247) dưới thời Trần Thái Tông. Làm
đến Binh Bộ Thượng Thư, tước Nhân
Uyên Hầu. Ông là sử gia đầu tiên của Việt
Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn):
có công 3 lần thắng Mông Cổ, được vua nhà
Trần phong làm Thái Sư, Thượng Phụ, Thượng
Quốc Công, B́nh Bắc Đại Nguyên Súy, Hưng Đạo
Đại Vương, được vua lập sinh từ
(thờ từ lúc c̣n sống) ở Vạn Kiếp.
Hàn Nguyễn Thuyên: người Thanh Lâm tỉnh
Hải Dương, làm H́nh Bộ Thượng Thư
đời Trần Nhân Tông, dùng chữ Nôm làm thơ phú
đầu tiên, "Bài Văn Tế Cá Sấu", tương
tự như Hàn Dũ đời Đường nên
được nhà vua đổi thành Hàn Thuyên.
Lê Thái Tổ (Lê Lợi):
khởi nghĩa ở Lam Sơn chống quân Minh trong 10 năm
(1418-1427), lập nên triều Lê (1428-1788).
Hồng Đức: niên hiệu thứ hai của
vua Lê Thánh Tông (1460-1497), vị anh quân của triều
Lê, vua thứ 4, tạo nên một triều đại cực
thịnh trên cả hai phương diê䮠vơ công lẫn
văn trị.
cương thường:
gồm hai chữ Tam Cương (ba giềng mối lớn
ràng buộc loài người: vợ chồng, cha con, vua tôi)
và Ngũ Thường (những nguyên tắc, tiêu chuẩn
của nhân luân để giàng giữ con người vào
xă hội).
đề cương:
những đề mục chính, những nét chủ yếu
cần phải nghiên cứu tỏ bày một cách sâu xa
và toàn diện trong một lănh vực nào đó.
thế hệ: là một lớp người cùng
sinh ra và sống trong một khoảng thời gian và không
gian nhất định, cùng chịu ảnh hưởng của
những biến động xă hội nên thường có
những đặc điểm tương đồng về
tư tưởng và hành động. Nghĩa chữ của
Thế Hệ là được nối kết v́ cùng sinh
sống trong một giai đoạn. Thời gian của một
thế hệ thường được tính là 30 năm.
phục hoạt: là sự sống lại của
một thực thể đă chết, sự hoạt động
trở lại của một thực thể tưởng
như đă chết từ lâu.
vận hành: đi theo chu kỳ nhất
định không ngừng nghỉ, gián đoạn.
khí tiết: là gồm hai chữ chí khí và
tiết tháo, những đặc tính của mẫu người
công chính đă dày công hàm dưỡng.
mô phạm: là cái khuôn thước, mẫu
mực được chấp nhận là tiêu chuẩn
để mọi người noi theo mà hành xử trong mọi
trường hợp.
hủ bại: là hư hỏng, mục nát,
dùng để chỉ những người đă lỗi
thời, cố chấp, ngoan cố nên làm cản đà
tiến hóa chung của tập thể.
dị đoan: nghĩa chữ là đầu mối
khác lạ, không giống với cái thường có. Nghĩa
rộng nói tới những tín ngưỡng làm con người
u mê, sa đọa, ĺa xa nhân đạo.
vô lậu quốc pḥng:
một nền quốc pḥng lư tưởng, không một kẽ
hở để ngoại nhân có thể len vào hoạt
động phá hoại. Toàn thể nhân dân đă
được "đảng hóa" trong tư tưởng
và hành động, v́ toàn thể những mầm móng, cơ
duyên mà địch có thể lợi dụng đều
đă được thanh toán.