Huyết Hoa

CHÍNH KIẾN (Phần 2)

Lo nước là bệnh thái của những phái thanh đàm nói rỗng, những kẻ lạc ngũ ngồi xếp bằng tṛn chửi đời và chửi ḍng sống tiến hóa, chửi tất cả những thế hệ mới, không ai mượn lo hăo mà vẫn lo hoài!

Quá vui là bệnh thái của những phái "tự nhiên không làm" những kẻ chực làm thầy đời nhưng mà không có năng lực làm việc thật, họ từ tự nhiên mà đi sang siêu nhiên, bàng quang nḥm ngó ngoài lông da và phê b́nh theo giọng xuất thế tất cả những khó làm và khổ tâm của người làm thật.

Lại c̣n những nhà chuyên môn yêu nước gọi là "ái quốc gia" chỉ cốt được một vài biểu thị rỗng tuếch không ư nghĩa cho sự thực, thế là hết!

Thế nhưng mà c̣n các hạng "sợ nước"? Họ cho rằng nước ḿnh mà độc lập th́ chỉ cá mè một lứa, đâm chém nhau đủ chết. Cố nhiên cái nọc độc của vua quan, với phản tuyên truyền của quân xâm lược gây nên những tâm trạng không khỏe ấy. Tính ỷ lại, ươn hèn, ở đó sinh ra tính luồn ngoài làm cho họ giật lùi sợ sệt trước sóng gió của tiến hóa.

Đến như các người "vô quốc"! v́ họ thuộc về thế giới phái, cho nên họ luôn luôn suy đoán bằng những căn cứ mà họ đă hết sức xếp đặt trong minh tưởng. Họ là những hạng ảo tưởng. Họ là những nhà thần học của thiên đường tương lai.

Sao mà người ta c̣n đặt ra cái tên "buôn nước"? Những kẻ buôn nước phải chăng là những hạng làm quan với giặc? Những Cao Khải, Nguyễn Thân và Lê Hoan, những Việt gian?

Không! không! Những kẻ nói trên, dĩ nhiên muôn người đều trông thấy rồi. Cái tên thần bí đó để đặt cho lũ đầu cơ và hoạt đầu, buôn cách mạng? Để đặt cho những quân gian tế của đế quốc lẩn lút vào hàng ngũ tranh đấu chăng? Hoặc giả cố nhiên là như thế. Nhưng mà chính danh thủ phạm là những kẻ cách mạng thật, làm cách mạng thật mà đầu cơ với hoạt đầu. Những con người ấy không có chính kiến nào xác thật, lung lay thỏa hiệp, những con người ấy "vô đảng" (họ tự xưng như thế) mà đảng nào cũng có hết. Họ chỉ v́ cái địa vị và sống c̣n không danh dự của họ ra khuấy hôi bôi nhọ mọi việc của cách mạng. Họ chỉ nói bằng đầu lưỡi (lưỡi không cuống) và chỉ làm bằng chỉ tay năm ngón (giấu mất cánh tay). Họ có thể là hết những cái xấu xa nhơ nhuốc, liếm váy máu của ngoại quốc, không biết ngoại giao của cách mạng mà chỉ chủ trương "ngoại giao đặc biệt" ở hải ngoại. Không có một lập trường xác đáng, chẳng có một thái độ trực triệt. Điều kiện yêu nước của họ phải là phụ thuộc của những điều kiện cá nhân. Chủ nghĩa, thời cơ là thủ đoạn của họ ra buôn bán.

Lại những ông xuất dương rồi mới ghê! Những đứa Do Thái không có tinh thần dân tộc đó (xin đừng động ḷng, ai có tật giật ḿnh), quanh đi quẩn lại chỉ oai nghi và lừng lẫy ở hai chữ "xuất dương" mà thôi. Tất cánh, họ đă học được những ǵ khi v́ dân tộc, v́ quốc gia phải vất vả dấn thân vào gió bụi, vượt trùng dương đi cầu lẽ sống cho ṇi giống? Họ đă học được những ǵ và làm được những ǵ? Zéro! Họ có thể mang nước và dân đi dâng cho một nước ngoài trước khi tranh đ̣i và khôi phục lại được nước và dân ở tay một nước ngoài.

Theo đuôi ngoại quốc th́ có nhiều, bởi v́ theo đuôi cho nên kiến giải của họ không nền tảng mà chẳng bờ bến. Ở đó, gây nên bệnh "thiếu máu""thiếu óc" cho cách mạng của dân tộc, cũng chỉ v́ đó mà những chia rẽ về lư luận cách mạng chỉ rỗng tuếch, nhưng vẫn ồn ào ra phết ta đây. Đặc biệt là những anh oắt lâu la cũng ra tuồng múa mép. Thế mà làm lănh tụ th́ ai cũng muốn! Những ông cụ sống lâu lên lăo làng với những tay ta đây tiền tiến kẻ giờ chỉ muốn làm lănh tụ của Đảng và tiến lên làm lănh tụ tối cao của dân tộc. Nhưng mà khổ lắm, cá mè một lứa, lại không có óc tốt, không có mắt sắc, không có tay làm, th́ làm lănh tụ cho chết dân tộc à! Dân tộc! Dân tộc! Mồm mồm nói dân tộc, giờ giờ nói dân tộc, nói quá đâm nhàm, cho đến lúc tiếng "dân tộc" thành ra tiếng đầu lưỡi hàng tôm, hàng cá rồi khéo cũng không tha!

Quốc gia với dân tộc chỉ là một "khái niệm", một tên gọi rỗng không, nếu không sung thực cho nó một cái thực thể ở bên trong. Cho nên quốc gia hay dân tộc chỉ là hư danh, cái sinh mệnh thực thể của giống ṇi và toàn dân hướng theo một lư tưởng và chính nghĩa mới là đúng thực.

Bản thể với mục đích của nó như thế mà thủ đoạn để đạt tới những yêu cầu đúng đắn của nó cũng phải như thế.

Phải nhận thức sâu sắc bằng xung động và lư tính thực tiễn của đời sống lịch sử, thế giới và quốc dân trên nền tảng và điều kiện của hiện thực, suy xét suốt hết muôn đầu ngh́n mối, vạch một vạch sống cho dân chúng với đường đi chính trị và lịch sử của quốc dân với dân tộc, chỉ có thế (nói ít cho dễ đi như thế) mới có được một chính kiến xác đáng. Thắng Nghĩa v́ hơn mọi chính kiến, có như thế mới gọi là Thắng Nghĩa.

SINH SỐNG

Có một Mạnh Tử nào đó bên Tàu đời xưa nói: "Trời sắp giáng đại mệnh cho ai, tất bắt người đó óc mỏi, gân nhừ, tim héo, phổi ṃn, đủ chiều khốn khổ, bách chiết thiên ma, làm cho người đó động ḷng đứng dậy mà lớn lao lên". Người nào đi t́m lẽ sống cho riêng ḿnh, nói rộng ra cho một dân tộc, đều phải nan hành khổ hạnh như thế. Người đó phải là Thắng Nhân đă. Người đó phải tự thắng ḿnh trên từng bộ phận của ḿnh và từng cơ năng của sinh mệnh thắng ḿnh đă, cái thắng lợi xiết bao gian nan, yêu cầu biết bao gắng gỏi đă, rồi mới có thể thắng được mọi ngoại vật. Người hy sinh là đă hy sinh rồi trước khi hy sinh. Chết đi là một việc dễ dàng hơn là đă chết ở nơi tự ḿnh một lần rồi sống lại với thai cốt mới. Bỏ tài sản với thân thế, nghĩa là đă tự bỏ được ḿnh xong lâu rồi việc mới thực hiện ra bên ngoài.

Cho nên cách mạng phải đi đôi với một tu dưỡng của cách mạng mới, khác với tu dưỡng cũ. Học hỏi của cách mạng cũng thế, nó phải có một thể hệ đặc biến trong tái sinh của muôn vàn học hỏi.

Không thể tự an ủi được: cách mạng là thuần thủ đoạn, cách mạng là thuần phản bạn, phạm pháp. Cũng đừng nói láo: mục đích chứng minh cho thủ đoạn. Thủ đoạn tự chứng minh cho thủ đoạn, mục đích phải ở bên trong thủ đoạn rồi mới đúng. Công việc máu phải làm bằng máu, tự máu phải là một thứ máu có những huyết tính thuần túy, tinh thành và tiền tiến, th́ thủ đoạn máu mới tự chứng minh cho ḿnh được. Thủ đoạn đồng thời phải là bản thân của mục đích, thủ đoạn ấy mới là chân chính.

Thế th́ đời sống đồng chí chứng minh cho thủ đoạn tự thân là mục đích. Nhân tài của cách mạng c̣n ở trong đời sống đồng chí bồi dưỡng lên, vận dụng sẵn những nhân tài chỉ là thứ yếu. Nhưng mà, đào tạo nhân tài của cách mạng phải trông vào người đào tạo. Người ấy phải chịu khó và chịu biết hết. Phải tham gia vào mọi khó và mọi biết của mỗi đồng chí. Phải coi mỗi đồng chí là một mục đích của lư tưởng nước ṇi. Phải bằng hết phương thức, phương pháp và h́nh thức tùy cá tính, khí chất và đặc trường của mỗi đồng chí mà đào tạo cho một bản lĩnh nền tảng về các mặt lư luận, kỹ thuật và tu dưỡng. Ngoài ra, c̣n phải đào tạo cho mỗi đồng chí một bản lĩnh phụ đặc biệt khác. Như thế th́ công việc cách mạng không sợ thiếu nhân tài. Thế nhưng đố kỵ và lợi dụng th́ nhân tài không những thiếu, không có, mà dẫu có rồi cũng hao hụt đi nữa, nói chi đến dân chúng! Cho nên lănh đạo nếu không có một nghệ thuật hay một kỹ thuật, thứ lănh đạo đó là giả dối. Lănh đạo là tâm thuật. Lănh đạo là mục đích luận hay cứu cánh luận.

Đồng thời sinh sống là sự biểu hiện của tất cả cái huyết tính thuần túy tinh thành và tiền tiến. Sinh sống là mục đích luận hay cứu cánh luận.

Chỉ có sự sinh sống thực tiễn trong đời sống thực tiễn của quốc dân với dân tộc với sự sinh sống thực tiễn trong đời sống lịch sử và tương lai của nước ṇi mới trỏ rơ cho chúng ta bằng một ánh sáng rất thành thực và soi suốt một con đường đi chính xác trong cách mạng và kiến quốc. Phải nắm giữ lấy sức chủ của cách mạng, điều khiển được sức phụ của cách mạng, kiến thiết và dự liệu một văn minh mới trên cái phương tŕnh thức kỷ hà học của những h́nh thể tỏ lộ lên từ tâm lư b́nh diện của quốc dân đến tâm lư lập thể của quốc dân. Những thế hệ mới của thời đại trong con đường tân trần đại tạ của đời sống lịch sử dân tộc phải đúng đắn và vừa thời nắm giữ lấy cương vị chủ đạo của ḿnh và gánh vác lấy sứ mệnh sáng tạo của ḿnh, chỉ huy các thế hệ khác bắt đi theo con đường đi của dân tộc.

Cho nên lịch sử là quyển truyền phả và môn học vấn duy nhất cao sâu cho nguyên tắc lănh đạo. Chính trị là lịch sử ngày nay mà lịch sử là chính trị những ngày qua. Thời đại là cuộc sống bây giờ, mà lịch sử là cuộc sống những buổi qua. Sự vận hành của hai thời gian đó kết hợp nên và quy định ra con đường của ngày mai sau. Đồng thời, sự tẩm nhuần tự ḿnh bằng nghệ thuật sống, cách thức sống và phong vị sống trong giữa thực tiễn của quốc dân là tu dưỡng nền tảng. Tất cả những lời nói của dân chúng bằng ca dao, tất cả những việc làm của dân chúng bằng sinh sống đủ để trau giồi hết thảy những mục tiêu nền tảng cho những phương lược lâu dài về quốc pḥng, chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, xă hội, nhân chủng và sinh hoạt của nước ṇi. Những thú vị của quốc dân biểu hiện ra các chuyện cổ, những sắc thái quốc dân biểu hiện ra trên nền tảng của văn hóa đặc điểm đều là những h́nh bóng với gia vị cho chúng ta không thể không đầy đủ trong đường trường xây đắp một văn minh "nước vối, áo the và rau muống". Phải chăng đấy là những tiêu biểu của văn minh b́nh dân hết sức ăn rộng và ăn sâu trong sinh hoạt của dân tộc, đi đôi với những lời nói không lời của mỗi xó góc trên giang và của tất cả những động tác nhỏ nhặt trên ḍng sóng đáy đều là những tài liệu và phương pháp nghệ thuật của chính trị. Nó là tất cả những ư thức và tất cả những cái ǵ đích xác, chúng ta phải thấm nhuần qua để mà có một tâm thuật vững vàng trên đường cách mạng mới. Nó là văn nghệ của quốc dân không lời mà đủ vẻ.

Cho nên, "ḷng yêu với máu đào" của chúng ta dỏ ra v́ ḷng yêu từ người thân với những con người mà máu chảy ruột mềm đă bén tới, cái máu đào đó dỏ ra để sống và thờ phụng cuộc sống chung, dỏ ra để đấu tranh với quân thù, cùng tẩm nhuần với quân thù trong đồng ruộng của xứ sở qua các thời gian. "Bàn tay với đất đai", sức lao động và trí cần cù đem mồ hôi ra trộn với nước mắt của ḷng yêu, tất cả để không dứt mở mang đất đai, xây đắp cơi sống, cái đất đai yêu quư đă từng nuôi sống chúng ta, từng để yên nghỉ ông cha và sinh sôi con cháu, cái đất đai mà đầu mày cuối mắt chúng ta đều nhớ, đều quen, đều từng ghi nhớ mỗi cái khổ, cái vui, cái hy vọng, cuộc sống, cuộc chết, cuộc bể dâu của đời đời, nó đă nói ra bao ư nghĩa và gồm bao nhiêu giá trị. "Sức nhớ và lịch sử", cái sức êm dịu và gắt gao kia, nhờ nó đă làm nối tiếp đời đời, sức nhớ đó để cho ta có thể sống được không đứt đoạn trên đời sống bản thân và đời sống đời đời. Cái lịch sử đă cho chúng ta đầy trí tuệ và kinh nghiệm, lịch sử đă từng đánh thức chúng ta tỉnh lại và nhủ bảo chúng ta tiến lên. "Bộ óc sáng tạo", tất cả những yếu tố đó gom góp lại thành một thể sống chung, thể Brahma hay thể Thánh Linh, thể Bồ Đề Đạt Ma cho toàn thể giống ṇi trên một dây tự lực sáng tạo truyền thống của dân tộc. Những yếu tố đó đồng thời là khởi điểm của hết thảy mọi văn minh, thông qua và trau giồi bởi tính, t́nh và chí của mỗi dân tộc mà h́nh thành trọn vẹn mỗi dân tộc văn minh.
THẾ HỆ
Thời đại dào dạt chảy đi lôi cuốn tất cả các thế hệ tầng lớp theo nhau lên thành tựu bằng một công cuộc thảm đạm của cái tác dụng thay cũ đổi mới. Chỉ có thế mới làm nên đời sống hoạt động của thế giới loài người được. Những cây cằn cỗi phải trút lá, để nhường chỗ cho mầm mới can đảm chồi lên đầy nhựa mạnh và sống. Những quả chín phải nát đi, để cho những hạt giống nảy ṇi lên những nguồn sống mới.
Mỗi thời buổi, trong ḍng sống của lịch sử hoạt động như thế, phải có một tuổi ra cầm nắm lấy sức chủ và làm cán cốt cho đời sống chung hết thảy. Tất cả trong thời buổi ấy, những cái c̣n sót lại cũng như những cái đang chồi nảy, phải dưới chỉ huy của cái tuổi làm sức chủ đó th́ xă hội mới khai thông được mà ṇi giống mới sống c̣n được. Chuỗi dây lịch sử làm bằng những mắt xích như thế, đời đời ca tụng mỗi thế hệ, dự liệu mỗi thế hệ và hoài điếu mỗi thế hệ. Ngày qua phải phục tùng ngày nay. Ngày nay phải khắc phục ngày mai, nghĩa là phục tùng ngày mai. Cái luân hồi xoáy ṿng trôn ốc có nút tết của Phật Tam Thế đó chi phối hết mệnh vận của loài người, như loài người muốn tự ḿnh, v́ sống c̣n của xưa, nay, mai, cả ṇi giống thân ái, phải nắm giữ cái luật tắc đó, hợp thời mà phục ṭng nó, ở đó sinh ra cái đạo đức với viễn kiến.

Mỗi thế hệ cũ phải biết thời cơ lui về một bản vị có ích chung.

Mỗi thế hệ mới phải biết nắm thời cơ tiến lên ngôi báu của thời đại mới mà chỉ huy và làm tṛn sứ mệnh mới.

Mỗi thế hệ dự bị phải thâu tóm hết những trí tuệ và kinh nghiệm cũ; trau giồi cho ḿnh tất cả những điều kiện cần yếu cho nhiệm vụ tương lai của ḿnh, để sắp sẵn ra nối liền dây tiến hóa.
Nhưng mà nếu loài người không biết tự động như thế, đào thải tất đau thảm và ác liệt của tiến hóa tất nhiên, sẽ cũng bó buộc làm như thế.

Không ai tránh được luật vô thường; luật vô thường có một phương hướng, một quy tắc với một đường lối rơ rệt của lẽ tiến hóa.

Lẽ sống là như thế.

Lẽ thật thuận theo với sự làm trọn luật vô thường đó một cách mến yêu, nhưng có khi v́ ḷng yêu mến đó mà không khỏi được bất nhẫn.

Trong thế kỷ XX, nước Việt đă trải qua bốn thế hệ người, mỗi thế hệ có mẫu mực đặc sắc, nó đánh dấu cho sự tiến hóa tất nhiên của ṇi giống qua từng giai đoạn nào. Lấy năm 1940 đây mà nói, những vị già nua vào hạng cha chú chúng ta từ 50 tuổi trở lên, không c̣n dư địa làm chủ được thời đại nữa. Nhưng các anh chị chúng ta từ 30 tuổi hơn cũng không thích hợp và có viễn kiến, cái viễn kiến có nền tảng đích thực để mà ra dẫn dắt cho được đời sống mới và khó khăn này trên một văn minh mới và phải sáng tạo cho dân tộc được. C̣n những người của ngày nay, nghĩa là 30 tuổi trở lại, 16 tuổi trở ra, đấy chỉ là những nút chuẩn bị và liên lạc cho một thời đại Việt lớn lao lên và sung sướng lên trong máu xương và đau khổ, hạng này là nền tảng của văn minh mới. Nhưng mà chủ nhân chân chính của văn minh Vạn Thắng mới của Việt là những con em chúng ta 16 tuổi trở về. Họ sẽ đứng lên oanh liệt và chỉ huy sáng suốt được lịch sử dân tộc về tương lai.

Những con người của 40 đâu! Xúm nhau lại thành một sức lực, góp nhau lại thành một trí tuệ, khơi mở đường đi cho giống ṇi. Chung quanh những con người của thế hệ đó, tất cả các tuổi phải cúi đầu phục ṭng sự chỉ huy nghiêm khắc, dũng cảm và sáng láng của thời đại. Trái lại, tức là phá hoại sự tiến hóa chân chính của tổ quốc với tự nhiên, sự phá hoại đó sẽ dẫn khởi một đăi lọc đau đớn mà thôi hết. Những người của 40 phải là những Thắng Nhân. Những người của 80 sẽ thong thả hơn, sung sướng hơn, lớn lao trên ánh sáng của 40. Họ thừa hưởng cuộc Phục Hoạt sau 1.000 năm Cờ Lau mà những người của 40 phải gánh vác tất cả những nặng nề và hy sinh.

Nhịp kèn của thế hệ 40 thổi. Một thế hệ ngày nay đă chuẩn bị xong xuôi. Một văn minh của Vạn Thắng mới ngày nay đă cấu tưởng, chỉ c̣n đợi giờ thực hiện lớn lao. Một cuộc đổi đời bằng sắt, máu, lửa để nung nấu tất cả những con người của 40 thành kim cương Thắng Nhân đứng lên cao cả và oai hùng cầm cành lau dẫn thời đại và người đời đi, đi đến một cơi mới. Tất cả các thế hệ sẽ kinh ngạc, sợ hăi, khâm kính và phục tùng đi theo, hết ḷng ủng hộ cùng làm việc lớn.

Văn minh mới này chỉ là sự Phục Hoạt và tái hiện lớn lao, người ta h́nh tượng bằng lư tắc của Totem quan để tượng trưng cho lịch sử Việt một ư nghĩa với giá trị để mọi người cùng hiểu được.
Văn minh mới này trong thế kỷ nung nấu đă chín, dung đúc đă thành. Một trăm năm nay từ trải qua cố thủ, thỏa hiệp, hấp thụ, dung ḥa, bây giờ đă đến kỳ phản tỉnh mà sang sáng tạo. Nhưng mà, cố thủ, thỏa hiệp, hấp thụ với dung ḥa, người ta trên một bộ phận trên của kiến trúc thượng tầng chỉ có làm những việc quá tầm thường và nông nổi, trằn trọc giữa văn hóa Đông với Tây, Hán với Pháp. Những việc mặt tầng đó, những thế hệ cũ cố nhiên chỉ có biết đến đó mà làm, nhưng mà chỉ có thế, chỉ có những cặn bă đó sẽ lọc và mới nổi lên mặt tầng. Công việc lớn lao đáng để ư nhất trong kiến trúc của các thế hệ quả là công việc đáy tầng xây đắp lấy cái công cụ và ư thức (tiếng, chữ nước) ṇi giống nung đúc, mài gọt, nay tạm đă có một nền tảng. Cái nền tảng đó phải có chính trị độc lập mới làm cho nó thực vững vàng được, và thật có ích để xây dựng một văn minh Việt thật Việt được. Dung đúc tuyệt không trọn vẹn, dung đúc trừ phi có phản tỉnh mới đi đến sáng tạo chân chính. Phản tỉnh nghĩa là đem hấp thụ với đồng hóa về cơ sở của dân tộc cho thông qua dân tộc h́nh thái, lấy dân tộc làm lư tưởng, mục đích, phương pháp và thủ đoạn để mà sáng tạo một văn minh. Thế cho nên, cuộc vận động Pétain ở nước nhà có phải là cái để mà Bông Lau ca tụng đâu? Cuộc phản tỉnh này dĩ nhiên có một ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp vào ư thức thành niên mới, dự bị cho cuộc phản tỉnh chân chính chỉ có ngấm ngầm trong đáy tầng chưa bùng nổ, sửa soạn tâm điệu của mọi thế hệ cho có một phương thức ít nhất để tiếp thu lấy văn minh Thắng Nhân là một trẫm triệu nổi bật cho những ai c̣n mê chưa thức biết, là đêm trừ tịch của cuộc xoay vần lịch sử lớn lao trong dân tộc. Dĩ nhiên như thế, nhưng mà nó chỉ là một thứ tiến bộ lom khom và nhút nhát, c̣n đội mũ cánh chuồn; nó không đứng dậy thẳng, nó cũng không đi lên mạnh, nó không phản tỉnh cho đến đáy, nó không phản tỉnh bằng chiến đấu, nhưng cũng cứ tính cho là một cuộc phản tỉnh. Nó phải phụ thuộc cho cuộc phản tỉnh vô h́nh trong đáy tầng, đáy Sử và đáy Hồn, cuộc phản tỉnh chân chính đă thành thục sẽ đi lên, một sáng tạo lớn lao, suốt mặt đến đáy và hướng thượng của Thắng Nghĩa mới.

Đấy, những con người Đáy của 40. Và là Hồn của 2.000.

Có một ngày, những con người ấy sẽ đứng dậy tất cả.

Ṇi giống Việt sẽ lớn lao lên.

Đă sống lại.

HOÀN CẢNH VỚI NGƯỜI TA

Từ tối cổ tới giờ có thể chia lịch sử loài người ra làm ba thời kỳ; sự thành lập của mỗi thời kỳ đó đặt để trên những nền tảng xă hội với điều kiện kinh tế, văn hóa quy phạm, với thực học thủy chuẩn nhất định: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ thần học, thời kỳ thứ hai là thời kỳ triết học, thời kỳ thứ ba là thời thực học. Đó là theo cách chia của Auguste Comte. Nếu chia theo Weber hay Hobhouse th́ loài người từ tối cổ đến bây giờ có thể chia ra làm năm thời kỳ: dă man, nông nghiệp, trung cổ, quá độ thời kỳ và văn minh.
Chia thế nào th́ chia, tổng chi ta được một kết luận là bất cứ ở thời đại văn hóa hay lịch sử nào, cái tối cao nhiệm vụ của nó là kiến thiết con người, mà con người quy phạm là sản vật hạn định của thời đại, văn hóa và lịch sử. Thời đại, văn hóa với lịch sử đó là cái hoàn cảnh lũy tiến của loài người mà tự nhiên với xă hội là những hoàn cảnh không gian bất di bất dịch.

Cho nên biết hoàn cảnh bao vây, quy định, làm sống hay tiêu diệt mỗi người là tùy theo cái bản thân năng lực. Ta thấy hoàn cảnh của mỗi người có thể bao gồm bào thai hoàn cảnh, tự nhiên hoàn cảnh, xă hội hoàn cảnh, giáo dục hoàn cảnh, thời đại hoàn cảnh. Hơn nữa, ta thấy ngoài những hoàn cảnh ngoại tại, c̣n những hoàn cảnh nội tại bó chặt ta hơn, như thanh, hương, sắc, vị, sức, ư, với lại tai, mắt, mũi, mồm... há chẳng phải là những thứ lục trần, lục thức như nhà Phật đă nói: "đă mê dụ ta, đă khốn quẫn ta, đă tiêu diệt ta nữa". Bất quá lịch sử là sự biểu hiện toàn bộ cái ư chí sinh tồn và cái ư chí thực hiện của loài người.

Ta thấy rằng loài người bằng những công cụ siêu việt là: óc, tiếng nói, tay... vận dụng những công năng siêu việt là lao động, sáng tạo, cải tạo, tự kỷ và hoàn cảnh, nối tiếp vật lộn để đạt tới cái tŕnh độ văn hóa như ngày nay.

Thần linh với tâm lư, nếu ở trong một con người không có một sinh mệnh hệ thống vững bền và thống nhất, th́ thời đại, văn hóa với lịch sử hết thảy những sản phẩm của nó đều biến thành những sức lực vô chất và những h́nh ảnh vô căn đến xâm chiếm và nhiễu loạn ta.

Mỗi tiếng nói, mùi thơm, màu sắc, vị ăn, ư muốn luôn luôn lẩn quẩn thành những quân thù địch vô h́nh muốn làm hại ḿnh thôi. Cho nên sống nghĩa là chi phối một phần nào cái hoàn cảnh; luật tắc khoa học đă quy định xă hội đă chi phối từng người, nhưng mà ư chí từng người trái lại có thể chuyển biến được xă hội. Nhân định thắng thiên, sự phát hiện được cái phạm trù Người là một công cuộc tối vĩ đại của triết học đời Phục Hưng (Renaissance) bên Tây và đời Xuân Thu Chiến Quốc bên Đông. Thanh niên ta ngày nay, châm đối hoàn cảnh khó khăn của dân tộc và cái nhiệm vụ khốn khổ của thời đại, trước hết phải phát hiện được cái phạm trù Người ở nơi thân ḿnh và ở trong cái nội tại của phạm trù đó, phát hiện được cái tối vĩ đại và duy nhất là TA.

NHÂN SINH VÀ NHÂN TỬ

Phải chăng t́m cái chốt của đời sống mỗi người một trăm năm, và đời sống của loài người muôn vạn thế, bao nhà tôn giáo, triết học, khoa học, chẳng qua chỉ là góp những tài liệu chung quanh cái vấn đề trung tâm là nhân sinh quan và nhân tử quan, thống nhất trên một mối sống.

Ôi đạo sống khó thay! Sinh thế dị, trưởng thế nan. Thế th́ loài người nghe đạo phải có tinh thần "chiêu văn đạo, tịch tử khả hỹ" nghĩa là sớm được nghe đạo dù chiều chết cũng vui. Người sống c̣n ví như người trong nhà bước ra khỏi cửa để đi đến một mục đích địa điểm nhất định, phải đă sẵn có cái mục tiêu nơi ḷng, trong cái quá tŕnh đi đường phải biết hấp thụ những tinh hoa và kinh nghiệm chung quanh để đi tới nơi bằng một tinh thần sảng khoái. Cho nên cái ư chí nguyên bản của ḿnh phải nhất định. Những tinh hoa và kinh nghiệm trong cái lịch tŕnh đó chỉ là những cái tài liệu tích lũy vào cái ư chí nguyên bản, càng phong phú dồi dào vào cuộc sống thêm viên măn, mỹ lệ.

Có thể chia:

1)        1)      Thiết lập một phương châm sống và lư tưởng làm nguyên bản. Có thể nói: Nhân sinh chi kế tại ư xuân. Lúc thanh niên chính là lúc ḿnh lập chí.

Hăy nghe:

Nếu hoa xuân nở ngọn cây

đó là để xui giục ḷng người đi t́m ánh sáng đạo

nếu trăng thu ch́m đáy nước

đó là h́nh tượng cảm hóa chúng sinh

và tất cả chúng sinh

đó là tái sinh


trên cùng một bông liên hoa.

2) Bằng cái lư tưởng phương châm sống, kiến lập một cái sinh mệnh chủ quan tuyệt đối có tính chất tiến hóa và sáng tạo, trong quá tŕnh đời sống, hấp thụ thiên nhiên với xă hội tinh hoa, sung thực và phong phú sinh mệnh tài liệu của ḿnh cho đời càng được triết học hóa, xă hội hóa, và nghệ thuật hóa.

3) Dumas nói: Phải trông cái chết thẳng trước mặt. Ôi đạo chết khó thay! Biết bao kẻ sống chết như cây cỏ nát, vô ích cho nhân loại, cho dân tộc. Biết cái chết mới kiến lập được cái quyết tâm. Biết cái sống mới dám đem ḷng hy sinh. Biết cái cực chất của sống với chết ở nơi tự ḿnh, mới hiểu rơ được cách đặt để ḿnh vào xă hội. Có ba hạng làm việc: làm thầy đời, làm bạn đời, làm tôi đời (travail de maitre, travail dami, travail de serviteur). Mà làm việc đời cũng có ba hạng người: quyết tâm, thực hành với trí giả (homme de coeur, homme daction, homme desprit). Phải nên hiểu ḿnh thích hợp với cái khí chất ǵ, nhiên hậu mới quyết định cách làm của ḿnh. Tóm lại một lănh tụ phải đủ ba đức tính: có thể là nhà lư luận, đồng thời là nhà hành động và nhà tổ chức, không thế th́ không được.

Trong quá tŕnh sống của ḿnh, hạt bụi, sợi cỏ, từ cái rất nhỏ đến những cái rất to, từ cái vô h́nh đến cái hữu h́nh, đều là tài liệu của biết. Biết là trục của sống, mà học là cửa của biết. Ôi đạo học khó thay! Cùng một cửa mà ra thiên tài, mà ra nô tài, mà ra nhân tài.

Cho nên dạy người hay cầu học tóm lại có ba phương châm:

1.         1.      Nuôi tâm sinh thiên tài.

2.        2.      Nuôi óc sinh nhân tài.

3.        3.      Nuôi thân sinh nô tài.

Trong trời đất, nhiệt với thành là hai yếu tố nguyên thủy và hoạt động. Vạn vật ở đó mà ra, t́nh, ư, chí đều ở đó mà ra. Nhưng tất cánh nhiệt với thành chỉ là những thể chất đồng chất (homogène) thuần túy tự năng và tự động, trải qua một quá tŕnh sung thực t́nh, ư và chí, đem t́nh, ư và chí quy lại một lư tưởng tối cao và biểu hiện ra một trung tâm công tác hóa.

Dạy người vời cầu học là một công việc đồng đạo đối lưu. Có ba lối học:

1.         1.       Đắc ư vong ngôn như Trang Tử, như Nhan Uyên, Đào Uyên Minh tự lực, độc thiện kỳ thân như vơ siêu trần bạt tục.

2.        2.      Nhập nhĩ xuất khẩu, vào tai ra mồm, vô ích thực tế.

3.        3.      Nhập lư xuất sự, học tập với làm việc thống nhất, lư luận với thực hành không chia, nhân cách trung dung, tư tưởng chấp dụng.

Có bốn cửa học:

Nhập nô xuất chủ

Nhập chủ xuất nô

Nhập chủ xuất chủ

Nhập nô xuất nô.

Dân tộc ta sở dĩ sức thừa độc lập mà suốt trên lịch sử mấy ngàn năm vẫn không triệt để uyên nguyên không phải ở nơi gắng sức dở dang, phấn đấu nửa đường, tài lực thiếu thốn, dân chúng tản mạn, mà thực là ở nơi học không triệt để, nghĩa là không triệt để độc lập trên tinh thần, cũng không triệt để phát huy được cái năng lực sáng tạo và khẳng khái tối cao siêu của giống ṇi.

Chính trị ngày nay có thực hiện được tối tân hay không là trông vào tư cách của mỗi người quốc dân có hợp với thủy chuẩn sinh tồn theo tâm thức hay không.

Lịch sử chỉ là cuộc diễn tiến theo cái sinh mệnh hệ thống của một dân tộc trên một quá tŕnh dự định phát triển trên những điều kiện với sự thực khách quan. Cho nên dân tộc ta cần những thanh niên rất thuần túy và sung thực, đem ra làm trọn vẹn hai tầng chức vụ của thời đại là cách mạng và kiến thiết.

Những thanh niên ấy phải biết đạo sống, đạo chết với đạo học, phải biết kiến lập một sinh mệnh hệ thống độc lập và siêu nhiên cho tự ḿnh. Đời sống của người ta vốn là một cuộc đi có dự định kế hoạch, để đạt tới một dự định mục tiêu, hoàn thành một dự định ư nghĩa và một dự định giá trị cho nhân sinh.

Cho nên cái biết đă là trục của sống th́ sự học vấn cũng phải ḍ cho đến chốn của sự biết. Cần có hai điểm:

1.         1.       Khuôn khổ phải to tát.

2.        2.      Sợi đan phải nghiêm mật.

Cái tổ chức sơ bộ của học có thể chia:

a) Tổ chức lư trí hệ thống, tức là học về lư tắc (logique). Tư tưởng là một đồ dùng. Dùng nó phải có phương pháp. Phương pháp dẫn dắt tư tưởng của người ta, đồng thời giúp t́m ra những luật tắc của tự nhiên và xă hội tiến hóa. Cho nên tư tưởng của người ta khi đă tổ chức theo lư tắc th́ mới khả năng t́m được chân lư, sự thật trong sự thật, mới chỉ huy không nhầm cái tâm lư sinh hoạt của người ta.

b) Tổ chức t́nh cảm hệ thống, tức là học về thẩm mỹ (esthétique), học về nghệ thuật, tức là học về cách tổ chức và biểu hiện cảm t́nh, vũ trụ và xă hội sống theo những trật tự và luật tắc của nghệ thuật. Có cảm nghiệm cái tinh thần và phương pháp nghệ thuật th́ t́nh cảm của ta mới được hợp lư và sinh hoạt của ta mới được măn ư.

c) Tổ chức ư chí hệ thống, tức là học về lịch sử. Lịch sử là sự biểu hiện toàn thể ư chí sinh tồn của loài người và dân tộc. Phải lấy sự thể nghiệm quốc hồn và giác ngộ dân tộc làm tối cao mục tiêu, phải lấy tự kỷ khám phá ra cái lư tưởng muôn đời của dân tộc. Căn cứ vào đó, lấy cái sứ mệnh tối thiêng liêng, nối dơi tổ tông, mở mang con cháu, sáng tạo văn minh cho dân tộc ḿnh trên một nền tảng tối vững vàng làm cái phương châm không di chuyển cho cả một đời ḿnh. Biết lấy ư chí đó làm ư chí ḿnh, há chẳng bền mạnh và hy sinh lắm ru?

CÔNG VIỆC

Những con người 40 sẽ làm việc cho thời đại 2.000.

Công việc lớn lao của thế hệ ấy sẽ Vạn Thắng. Những con người ấy sẽ từ cuộc cứu lấy nước, giữ lấy ṇi, tiến lên sáng lập một thể hệ sống và một văn minh mới thực lớn lao, bền vững, sáng sủa và sung sướng.

Người ta sẽ bằng một thủ đoạn cách mạng, phối hợp với một trí năng sáng tạo thành tựu công việc của lịch sử suốt mặt đến đáy và hướng thượng. Chỉ những con người đó trong sự làm thực mới thể nghiệm ra đầy đủ những ư nghĩa, giá trị và công năng lớn lao của những công cuộc cách mạng. Phải coi xét nó bằng tất cả lư tưởng, mục đích, phương pháp và thủ đoạn của nó thành một thể trọn vẹn không xé lẻ, không sai khớp và đầy huyết tính.

Chiến tranh là cuộc đổ máu đầy ư nghĩa. Chiến tranh đă quyết định được hết vận mệnh của người mặc dầu người đầy nhút nhát, ươn hèn và sợ sệt chiến tranh. Chiến tranh bắt thời đại đi vào những con đường mà thời đại ngại ngùng, do dự măi không dám tiến vào. Chiến tranh c̣n là thời cơ sống chết, ngh́n năm một dịp của những ai bị đè nén và áp bách mong chờ. Nó để cho ḿnh một thuận tiện. Cho nên, lấy vũ lực ra cứu quốc nghĩa là đem sắt, lửa với máu ra tranh đ̣i lấy chủ quyền, cái chủ quyền của tự ḿnh được tự do, dùng ư chí của ḿnh đối với đất đai, dân chúng, việc làm, đường đi và vận mệnh của tự ḿnh. Không đổ máu tuyệt không mong xoay chuyển được thời đại. Máu biết nhớ đến chúng ta, không lo sợ, nó sẽ đền bù hết cho chúng ta. Máu có thể mang thay cho tầu bay, tầu ḅ, xe hơi, đại bác và súng gươm. Nói thế nghĩa là một khi có cái máu nóng, sáng suốt và mạnh mẽ, tất mọi việc đều thành công với cái vĩ đại của suốt mặt trận đáy tầng dân tộc suốt nơi một lúc cùng nổi lên tranh thủ bằng mọi thứ. Giữ ǵn lấy ṇi giống c̣n yêu cầu chúng ta phải dùng mọi h́nh thức đấu tranh để mà đạt tới mục đích. Không có cái mục đích đó th́ sự cứu nước thiếu hẳn đi một phần lớn lư tưởng. Tất cả Trăm Việt phải trở về hoài băo Tiên Rồng cũ, trên một tổ chức thỏa đáng nhất, nó làm khuôn mẫu cho hết thảy "nhân đạo chủ nghĩa". Chính nghĩa tự xưa phải giả định là có. Thế nhưng mà bao giờ chính nghĩa đều vẫn bị lợi dụng mà không được thờ phụng và được nghe theo. Những hẹp ḥi và kiêu ngạo của những dục vọng phá hoại hết nền tảng sống c̣n của phải trái với thiện ác. Cho nên, muốn sáng tạo được thế giới mới, cho ḥa b́nh lâu dài quyết không thể không thanh toán cho sạch những nợ máu, nhục máu, hút máu, tiêm máu từ xưa trên lịch sử nếu có thể được để mà có thể kiến lập được lư tưởng đó. Nếu không, trên bản vị của tự ḿnh phải đ̣i lại lấy "chính nghĩa" cho tự máu mủ ḿnh, gột, lọc, rửa những "phi nghĩa" trong tự máu mủ ḿnh đi.

Ấy thế mà đời dân chủ phải trọn vẹn xây dựng nên để xúc tiến một cuộc tiến hóa vượt bực. Cuộc tiến hóa vượt bực chỉ có thể thực hiện được trên nền tảng của dân chủ chân chính. Phải thiết thực và đúng chắc rằng dân làm chủ, dân phải làm chủ hết thảy cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi của đời sống tự ḿnh, phải làm chủ được ư chí và chế độ của tự ḿnh thật chân chính, phải có căn cứ và chuôi nắm. Cái chuôi nắm chân chính của nền dân chủ thực phải kư gửi trong nền tổ chức cỗi gốc của tự dân chúng sẵn có và có thể vận dụng được, phải tự có hết thảy then chốt và th́a khóa trong đáy tầng, để mà tự động thực hành lấy vô luận một điển h́nh dân chủ nào bằng tất cả các điều kiện. Thế nào là dân chủ thật và đúng lại vững? Nền tổ chức cỗi gốc đó phải do dân chúng tương hỗ lẫn nhau dùng các h́nh thức hỗ trợ và hợp tác về mọi bề, mọi mặt của sinh hoạt từ kinh tế đến chính trị, xă hội, văn hóa, pháp luật. Chủ nghĩa vô chính phủ không thể thực hiện được, nhưng tinh thần của nó phải thấm nhuần vào dân chủ Việt nghĩa là vào một nền dân chủ nào có thể chân chính dân làm chủ được. Có thế tiến bộ mới được b́nh hành, có quy tắc, có kế hoạch và nắm giữ được ḥa b́nh, cơm áo, tự do và b́nh đẳng. Cuộc tiến hóa phải sáng suốt, tự động, kỷ hà học và nhân loại, có thế cuộc tiến hóa mới xứng để cho chúng ta xướng đạo được. Phải thành lập cuộc tiến hóa như thế của Thắng Nghĩa, gọi là tiến hóa Việt, tiến hóa không có ép uổng, không có ư thức chuyên chính. Bất cứ lối chuyên chính nào đều không chân thật làm nổi được tiến hóa sáng suốt, tự động, bền giai, kỷ hà học và nhân loại.

Để xây đắp thể hệ sống, trước hết tính đến cần lao. Những con người 2.000 sẽ vất vả mà không thấy khó nhọc, nhễ nhại mà không cảm thấy uể oải. Họ quên tất cả; sự cần lao ấy chỉ là biểu hiệu tối cao của huyết tính nóng sôi trong máu người Việt cảm chiêu bằng nắng Viêm. Sự đấu tranh chân chính nhất là cần lao, nó sinh ra sáng tạo, sáng tạo hết thảy một văn minh mới; huyết tính sinh ra sáng tạo mà bằng phương thức cần lao. Người Việt mới của thời buổi 2.000 tự thể nghiệm lấy thật thiết đáng. Tất cả tâm, thân đều cống hiến cho tương lai muôn, ngh́n thuở. Họ nhẫn nại nhưng mà hùng hồn, họ bi tráng, họ quên hết họa chăng cả ḿnh mẩy chỉ c̣n là những mạch máu của lịch sử thức tỉnh chảy dồn dập, dạt dào, sùng sục: cả người đều tẩm nhuần cái ánh sáng thiêng liêng đó, nó dẫn dắt cả một ṇi giống lên lớn lao. Suốt nơi và mọi lúc đều như thế cả; họ sẽ làm cho lịch sử và thế giới kinh ngạc, kính phục và sợ sệt.


Họ sẽ thắng hết những thất bại của lịch sử và tâm thân.

Họ sẽ thắng hết nợ và nhục.

Họ thắng vũ trụ và loài người.

Những người 2.000 vạn thắng.

GIÓ ĐÁY

Cùng một luật tắc như trong sự tân trần đại tạ, các thế hệ, các tầng cấp dần dà và lần lượt hết mỗi tác dụng chủ đạo của ḿnh trong đời sống quốc dân để nhường bước cho mỗi tầng cấp mới. Những cuộc cách mạng dân tộc trên sử Việt, những cuộc cách mạng nào đă chân chính làm đạt được nguyện vọng của dân chúng và làm được đúng đường đi của ṇi giống, đều chỉ đo bằng mỗi thế hệ thực tiền tiến và những tầng cấp thật đa số mới đủ sức và trí viễn kiến và dũng cảm, đủ huyết tính ra gánh vác công việc lớn lao của thời đại trao cho.

Chỉ có thế hệ thực tiền tiến mới đủ đại biểu được tương lai.

Chỉ có tầng cấp thật đa số mới đủ đại biểu được dân tộc.

Tương lai tỏ lộ trong óc mới của thời đại và viễn kiến.

Dân tộc tỏ lộ trong sinh mệnh thực thể của toàn dân và chính nghĩa của kiến thiết. Tiến hóa là làm bằng hai nền tảng điều kiện đó. Cách mạng chỉ t́m được trong hai điều kiện đó một nền tảng và đường đi lịch sử, chính trị đúng chắc và tất thắng.

Thế hệ của thanh niên và tầng cấp 98% của quốc dân Việt chính là đáy tầng dân tộc Việt. Thanh niên bị giày xéo dưới sức nặng của các thế hệ và quốc dân bị lấp láp dưới xây đắp của các đặc quyền, chỉ có thế hệ ấy với tầng cấp ấy chân chính là đáy tầng Việt, tức là sức gốc của Việt.

Làn gió phục hưng dân tộc và thời đại không thổi trên mặt tầng, trái lại chỉ thổi dưới đáy tầng để cuốn dậy làn sóng đáy. Những gió ấy và sóng ấy duy nhất có lực lượng để lật đổ hết thảy những thứ ǵ trên mặt.

Làn gió đó là làn gió Hồn và làn gió Sử.

Ở trong đáy ḷng người, nó là gió ḷng.

Sự thống trị của dị tộc thành lập ở sự bàn cứ trên mặt tầng với sự thỏa hiệp của đặc quyền. Mạch máu và tâm hồn của ṇi giống v́ đó tránh mặt tầng và đặc quyền mà trở về đáy gốc.

Sự thống trị của dị tộc thành lập trên sự cằn cỗi của ṇi giống. Mạch máu và tâm hồn của ṇi giống v́ đó tránh hết cằn cỗi mà ch́m xuống đáy rễ để nùng nục lên những chồi mới.

Làn gió đáy thẩm thấu suốt đáy tầng của dân tộc.

Người của 40 làm việc cho thời đại 2.000 đều đă được thấm thía, cảm thấy một cách sâu sắc và ghê rợn, họ đều rùng ḿnh, và trong sức giác ngộ lớn lao, họ đă đứng dậy mạnh mẽ đến vô địch. Tự tay họ, họ sẽ mở rộng thời đại và sáng rọi văn minh. Thời đại với văn minh phải t́m lẽ sống với lẽ thật trong những nguyên lư bản thân của sinh mệnh và việc làm. Sinh mệnh là tự thể. Thời đại chỉ là sự kết thành của sinh mệnh. Việc làm là sự giao hỗ phức tạp giữa tự thể với vũ trụ. Nếu muốn đạt tới mỗi h́nh thái và phương pháp của văn minh nào mặc dầu, chỉ có thể t́m trong việc làm của sinh mệnh những lẽ thắng. Việc làm là biểu hiện của sinh mệnh ra bằng hết cả sức lực vật chất, kết quả h́nh thức với hiệu dụng mỗi màu, mỗi vẻ cùng tất cả những duyên quả chằng chịt lại của vũ trụ và sử. Tất cả tóm lại là Thực Hiện.

Toàn thể chúng sinh hướng theo một lư tưởng và mục tiêu chung để tiến tới trong đường trường của Thực Hiện đó, cạnh tranh nhau, đăi lọc nhau và tiến hóa lên. Chỉ có những ṇi giống không dày công sinh mệnh với đủ pháp, việc làm, mới chịu lùi bước, bị đè nén và ch́m vào diệt vong. Làn gió đáy đă nổi dậy thức tỉnh mọi người bằng những cảm giác đó mà thôi, những cảm giác ấy, nói tóm lại là Thắng Nghĩa. Làn gió đáy mang lại Thắng Nghĩa.

Không ǵ thổi réo rắt, nghiến rít bằng làn gió đáy. Nó như thổi hết thảy 5.000 năm, tất cả những hơi lạnh người chết và hơi rợn linh hồn của toàn thể thiêng liêng chồng chất trên thứ bực của tiến hóa, đem dồn dập lại mà đánh úp một thế hệ chúng ta. Gió ấy như một chiếc roi thép quất chúng ta dậy, đau buốt tới xương tủy, thấm tận đáy hồn dân tộc và đáy ḷng mọi người. Sự Phục Hưng ở đó mà ra, làn gió ấy tự ở đáy Sử mà thổi, sẽ lôi cuốn hết đáy tầng, đoàn kết lại một mặt trận gốc.

Chúng ta sẽ phản tỉnh lại và tự hỏi: "Trải 5.000 năm ṇi giống chưa bị diệt vong, phải có một lẽ ǵ? và phải có việc ǵ để mà làm?" Chỉ có những người ở dưới địa ngục mới thực nghiệm thấy cái đau khổ của ṇi giống và chúng sinh, người ấy sẽ phản tỉnh mà t́m ṭi cái lẽ thực của đau khổ. Chỉ có người ấy mới thực được giác ngộ với ánh sáng lớn lao của trí tuệ cảm chiêu. Chỉ có người ấy mới thực nguyện ra cứu vớt ṇi giống và chúng sinh. Chỉ có người ấy làm được việc lớn bằng một sức sinh mệnh lớn lao cảm tự đáy hồn để mà hoàn thành cái đạo lớn cho loài người. Ấy thế, lẽ sống và lẽ thật của Phục Hưng là như vậy.

Những con người của 40 là những con người của cái thế hệ và tầng cấp Việt đáy tầng tự ở dưới áp bức đen dày và nặng nề mà lớn lao lên, cởi mở hết xiềng xích cho ḿnh và phá tan hết những màn tối, quét sạch hết hôi tanh và đánh chết hết thù địch.

Những con người ấy v́ Tổ Quốc Việt. Tổ Quốc Việt chỉ là một tổ quốc đáng yêu, đáng kính, khi tổ quốc Việt chân chính biểu hiện được lẽ sống và lẽ thật, tất cả lư tưởng và chính nghĩa. Những con người ấy sẽ thực hiện tự ḿnh, xă hội và dân tộc bằng tất cả những hương hồn và chính khí mà làn gió đáy mang đến cho tức là nhân cách và danh dự.

Làn Gió Đáy thổi.

X.Y. Thái Dịch Lư Đông A

4822 tuổi Việt (1943)

 

5. HỠI ƠI!

TÂM LƯ THẦN LINH HỌC

ĐƯỜNG SỐNG VÀ ĐƯỜNG BIẾT


Trang Tử nói: Đường sống có bờ mà đường biết th́ không bến, cho nên t́m biết là t́m chết. Thế nhưng mà thực ra từ mặt cá nhân cho đến suốt mặt loài người, từ cổ tới nay, có biết mới sống được, biết là tất yếu của sống. Sống với biết là hợp nhất. Cho nên quan hệ của sự sống với sự biết có thể phân ra ba điều mà nói.

Biết là cái trục của sống. Descartes nói: "Je pense donc je suis". Nhưng ta có thể nói: Tôi sống v́ tôi biết. Biết là công cụ của đời sống, đồng thời là nền tảng và yểm hộ của sống.

Phạm vi của biết đó là phạm vi của vũ trụ. Biết đến đâu tức là vũ trụ đến đó. Biết thẩm thấu vào cái thái cực nhỏ (infiniment petit) cho đến thái cực to, cho đến cái vô cực.

Phạm vi của sống khai tịch và phát triển theo thủy chuẩn của biết, lịch sử đă chứng minh như vậy. Cố nhiên hoàn cảnh và kinh tế xúc tiến cái biết, nhưng mà cái biết phải lănh đạo hoàn cảnh và kinh tế, lư luận phải lănh đạo thực hành, mà thực hành phải xúc tiến, chứng minh và tu chỉnh lư luận.

Có những hạng người cần biết mới sống được. Biết là cứu cánh ư nghĩa của nhân sinh. Có biết mới có khả năng sống được thực tế, nghĩa là sống trong cái chân ư vị dồi dào của đời người. Miệng núi Fuji-Yama đă từng nuốt sống mấy trăm thanh niên Nhật Bản. Những người đó v́ lư tưởng của cả cái quốc gia non nớt của họ, v́ cái phương châm đời sống của họ, đă v́ cái chưa biết, cái không biết được, v́ cái ám ảnh của triết học tối cao, đem vùi thân vào cái chưa biết được để t́m ṭi và an ủi.
Cho nên cái biết của loài người nói tóm lại có thể chia ra ba phương diện:

A. Cần biết về nguyên thủy:

a) Cái căn để của trời đất, tự đâu mà sinh, nghĩa là t́m cái tối viên măn, cái tối thái sơ, cái tự kỷ nguyên nhân (la cause en soi) nó hoàn thành vũ trụ.
b) Cái căn để của sự vật, ở đâu mà đến; nó là vật, nó là tâm, nó là lư hay là lực?
c) Cái căn để của tự ḿnh, cá nhân và nhân loại từ đâu mà có, ở đất bùn nặn nên hay tự tiến hóa nội tại?

B. Cần biết về cứu cánh:

a) Cứu cánh ư nghĩa của nhân sinh: Sống để làm ǵ?

b) Cứu cánh giá trị của nhân sinh: Sống với ư vị ǵ?

c) Cứu cánh y quy của nhân sinh: Sống gửi thác về, biết đâu là quê ở?

C. Cần biết về chân tướng:

a) Chân tướng của tự ḿnh: nhân thân tiểu thiên địa, mâu thuẫn đầy dẫy, nào biết cái chủ ngă ở nơi đâu, biết lấy cái gương nào mà soi thấu?

b) Chân tướng của sự vật: xă hội với tự nhiên hỗn hỗn, mang mang, phức phức, tạp tạp.
c) Chân tướng của chân lư: mịt mịt, mù mù, lấy đâu làm tuyệt đối?

Loài người bởi để yên định sự sống của ḿnh trong vũ trụ, cá nhân, xă hội, không thể không đi t́m cái tuyệt đối, cái nhất định của ba phương diện biết kia. Cái công việc lập tâm cho trời đất, lập mệnh cho nhân sinh, kế văng khai lai, tức là ở nơi t́m cái chốt trục của trung tâm vạn vật, lấy cái đó để giữ vững mặt trời với địa cầu, bởi loài người phải tin măi rằng có t́m thấy cái đó mới tránh khỏi hủy diệt. Đông Tây kim cổ, Nho th́ cần biết tính, biết mệnh, tri chí, tri chủng. Phật th́ cần minh tâm huấn tính, đại giác, tự giác. Lăo th́ cần học tiên tu đạo, trường thọ, tồn chân. Gia Tô th́ cần thánh linh mặc khải, thể nghiệm Chúa Trời. Rồi ra cái biết của loài người đi từ tuyệt đối luận (dogmatisme) đến vô tri luận (agnosticisme) cho đến kinh nghiệm luận (pragmatisme), hoặc giả vô thần (athéisme), hữu thần (théisme), phàm thần (panthéisme), hoặc giả duy tâm sử quan, duy vật sử quan, duy sinh sử quan, ba bề bảy mối. Than thay thanh niên! đời như hoa xuân mới nở, ḷng như hạt móc ban mai, vừa bước chân ra khỏi cửa nhà, xa nơi gối mẹ, vội cảm thấy bốn mặt xoay vần, đường đi sai lạc, bởi muốn t́m cái sống ở nơi tự ḿnh cho nên khổ v́ muốn t́m cái biết.

Dù sao sống nghĩa là bả ác được tự ḿnh. Hăy nên tự giác (Connais-toi toi-même). Hăy tự kiến lập lấy một sinh mệnh hệ thống, lấy cái chủ ngă tối viên măn ở trong nơi tự ḿnh, làm tối cao thống súy cho tự ḿnh. Herriot nói: "La connaissance cest ce qui reste après quon a tout oublié"! Biết nghĩa là cái ǵ c̣n thừa lại sau khi người ta đă vứt quên những cái khác. Cái ǵ c̣n thừa lại? Ta (moi-même).

THẦN LINH VÀ TÂM LƯ

Đầy dẫy những hạng trụy lạc trong mê say, lạc ngũ trong tranh đấu, thất vọng trong t́nh đời, hối hận trong hành động, đắm đuối trong bến mê, những hạng ấy nhiều vô kể, nhất là trong đội ngũ những trẻ trai tự nhận nhầm là có trí thức.

Những hạng ấy bao vây bởi tối tăm, cùng khổ mà trở về ḿnh, gục đầu trên cái h́nh hài cũng tối tăm của ḿnh. Hăy tưởng tượng một cái xác chết đầy những ṛi nhung nhúc không ghê tởm bằng, không đau thảm bằng trông thấy những linh hồn rữa nát và cáu bẩn bởi những ám ảnh mà quốc gia dân tộc ta dầu cho muôn vàn xâm lược giày xéo cũng không đáng kinh sợ, cũng không đáng thất vọng bằng trông thấy những thanh niên yêu quí của ta bị xâm lược, bị thống trị, bị bóc lột, bị áp bách, bị h́nh giảo bỡi những bóng địch tối tăm. Họ tự chết dần trước khi chết, nghĩa là quốc gia dân tộc ta cũng đi với họ mà chết dần dần, ngắc ngoải một cách đau đớn, ê chề, trước khi diệt chủng.

Đối với thanh niên sẽ phát sinh vấn đề thần linh với tâm lư.

Đáng lẽ ra một người dân khỏe trong một nước khỏe, th́ trên nền tảng sinh lư là tầng tâm lư vận dụng rất linh hoạt. Nhưng mà trên mặt tầng tâm lư của họ sẽ nẩy nở ra vô số những sức lực ǵ vô chất và kỳ quái, những h́nh ảnh ǵ vô căn và dữ tợn; ở đấy họ thấy cái tâm lư của họ chỉ là một bộ máy lệ thuộc cho một cái ǵ vô h́nh mà gọi là thần linh. Bản lai thần linh với tâm lư là một thể sống tối viên măn, gọi là Như Lai Tạng (Lăng Nghiêm Kinh) tóm góp lại bằng những tất cả nhân tố tối tinh hoa của các plan physique, mental và astral hợp thành một tướng (système) bao gồm vía, phách, lư trí và đạt ma. Tâm lư cơ cấu đă kiện toàn th́ nhân cách sẽ thống nhất, cái sinh mệnh hệ thống sẽ không phân chia, mà cho ta một đời sống xán lạn.

C̣n những hiện tượng hồi cố ví như réminiscence, ví như Mạt Na Thức của nhà Phật, nó chỉ là những tăng tục tính tích lũy trong cái quá tŕnh sống c̣n của cá nhân với xă hội theo cái bước đi lũy tiến của lịch sử và hoàn cảnh. Vậy th́ những sức lực và h́nh ảnh kỳ quái trên kia, đó là tâm lư bệnh. Nguyên lai của bệnh đó chia hai phương diện mà nói:

a)         a)      Hoàn cảnh suy lạc của quốc gia, xă hội, gia đ́nh và tự kỷ trong cái thời đại thực dân, và kinh tế phá sản này.

b)       b)      Giáo dục và bồi dưỡng thuần túy trong cái khuôn khổ tiểu thuyết khiêu dâm, lăng mạn, bi quan, yếm thế, hành động trụy lạc và đắm đuối, quan niệm sai đường và ái t́nh vặt.

C̣n những nguyên nhân trực tiếp từ nơi tâm lư hủy hoại:

a)         a)      Phản tưởng (arrière pensée) làm cho người với người ngờ vực nhau, làm cho tâm cơ càng phức tạp và ranh mănh.

b)       b)      Hắc tưởng (pensée noire) càng làm cho tối đen tinh thần sinh hoạt và càng làm tê liệt cho vật chất sinh hoạt.

c)       c)      Ảo tưởng (chimère) làm cho thanh niên sống say, chết mê, bàng hoàng, như hồn bướm mơ tiên, sống một cuộc đời nửa chừng xuân dằng dặc.

Những người đó gần như hết là tự hoại, tự diệt, tự nhơ ḿnh mà làm nhơ cả quốc gia. Chỉ có những hạng người ấy, hơn ai hết tự tư, tự lợi, không hy sinh nổi cá tính, không hy sinh nổi cảm t́nh, v́ thân họ là thân nô lệ của những sức lực vô chất, với những h́nh ảnh vô căn, kỳ kỳ quái quái. Họ không phải là con đẻ của tổ tông ta, họ không phải là chiến sĩ của thời đại, không phải là phần tử của quốc gia, xă hội, dân tộc. Ví như Tôn Văn đă nói: "Người là cái khí cụ của tâm hồn, nước là do người góp chứa nên, quốc gia c̣n mất, thịnh suy, là trông vào ḷng người phấn chấn hay ủy mị". Những bệnh chứng của họ có thể phân chất ra như thế này:

a)         a)      Ám ảnh cáu bẩn như sức ma vào tinh thần, sức quỷ dẫn dụ đưa dắt, trói buộc và h́nh giảo, không cho họ sung sướng, mà chẳng cho họ hối hận. Frans II kêu: "Que de sang! Que de sang!" trong một cuộc ngắc ngoải khổ năo. Ngô Tôn Sách chết với vô vàn bóng ma Vu Cát.

b)        b)      Thắc loạn: (tức là các thứ manie) có cái manie đi ăn trộm, có cái manie giết người như Ngọa Triều bên ta, có cái manie là cho thơ thơ thẩn thẩn.

c)       c)      Tự sát: đừng cho người tự sát là can đảm hay nhút nhát; nó chỉ là những hy sinh phẩm của tụi quan ôn thần kinh bệnh.

Làm sao mà họ mắc mà không biết, biết mà không chữa, chữa mà không được. Họ tiêu cực đối chọi với hoàn cảnh, đổi không khí, họ bị dẫn đạo bởi ánh sáng, cái ánh sáng thảm đạm và lạnh lẽo của chúa Diêm Vương vô t́nh. Ôi nihil! ôi nihil! hư vô là hư vô, hư vô là cái vực âm thầm và không đáy.

Xét cái tinh thần của người ta, cá nhân và xă hội không ngoài mấy tác dụng này:

1)        1)      Tiềm di mặc hóa: dần dà v́ ảnh hưởng xung quanh. Nước suối trên non th́ trong, nước suối xuống đồng th́ đục, từ cái lành sang cái ác chỉ cách một tóc một tơ.

2)       2)      Tự kỷ ám thị (autosuggestion): một vài ư nghĩ ấy tự trói buộc ḿnh cũng đấy mà tự bồi dưỡng ḿnh cũng đấy.

3)       3)      Tinh thần thôi tróc (somnambulisme): có những thầy phù thủy cao tay đánh đồng thiếp, nhưng mà không cứ, có nhiều phương thức mà nhiều nhà chính trị cũng dùng tới để bóp cổ nhân dân.

Cho nên ta xét thấy những hạng người kia, muốn tự chữa ḿnh, mà cũng chỉ có thể tự ḿnh chữa lấy được mà thôi, th́ hăy cố tâm trầm tiềm duồng dẫy hết thảy những cái bậy bạ của thiên mệnh tiền định luận dung tục (déterminisme). Hăy co kéo nó về. Nó là ai? TA (moi-même).

Cho nên người ta muốn chữa cái bệnh thần kinh này th́ thờ mấy chủ nghĩa:

a)         a)      Tự do ư chí: muốn, làm, biết tự do, đó là chân tự tại, chân giải thoát.

b)       b)      Tự kỷ ám thị: Cái thiên căn của trời đất với cái thiên căn của tự ḿnh, ở nơi một ḷng tín ngưỡng chặt chẽ nhất (la foi, credo), tín vi đạo nguyên công đức mẫu (Hoa Nghiêm Kinh). Người đă kiến thiết cái ḷng tin này, ta bảo đảm sẽ thành vĩ nhân. Napoléon, Alexandre le grand, Jésus Christ, Mahomet, Phật, Lăo, Khổng, Gandhi, Hitler chẳng qua là những người làm bằng cái ḷng tin đó.

c)       c)      Độc lập độc hành: không phải là cá nhân anh hùng chủ nghĩa, không phải ưu thế thanh đàm chủ nghĩa, chỉ là sự cố gắng lớn lao, của một người trong những người, chỉ là sự cố gắng ở nơi tự ḿnh.

Thiệu Tử nói: "Thánh cũng chỉ là người, nhưng đấy mới thật là người". Biết th́ ai cũng biết cả, nhưng biết chân thật mới là biết.

Ta c̣n dặn thêm mấy nguyên tắc đề pḥng bệnh thần kinh:

a)         a)      Cẩn thận khi một ḿnh, một ḿnh đối diện với ḷng, đừng để cho ư dục sai khiến.
b) Cẩn thận khi mới đầu. Tưởng Ủy Viên Trưởng nước Tàu nói: "Cùng lư ư vạn vật, thủy sinh chi xứ, nghiên cơ ư tâm ư sơ động chi thời".

b)       b)      Cẩn thận từng cái nhỏ, những cái mấp máy của ḷng, tâm tâm niệm niệm, xem xem, niệm Ma hay niệm Phật, lỗ kiến vỡ đê, mồi lửa cháy thành. Phàm cái ǵ lớn lao và những cái tối trường cửu, đều gốc gác ở những cái nhỏ. Thôi đừng tự kỷ tác quái.

Câu phương ngôn nói: "dương thịnh âm suy, máu xấu ma làm, nước suy quỷ hiện", có đúng hay không đúng?

LƯ TƯỞNG VÀ PHẢN TỈNH (Retrospection)

Trong thuyết luân hồi tối đơn giản và thô lậu của Phật học tiểu thặng, đại khái cho rằng: Người ta chết đi không thể mang ǵ đi được, ngoài những nghiệp quả tinh thần. Những nghiệp quả đó chính là những nhân duyên cấu tạo kiếp sau. Mới biết ư chí là không chết, mà ư chí là bộ mặt của lư tưởng ḿnh.

Người ta sống theo những phương thức và phương pháp qui định và hạn chế bởi những điều kiện bản chất. Nay phân tích xă hội sinh hoạt làm ba đức tầng (lấy đức làm bản vị chia giai tầng):

1.         1.       Sinh mệnh tầng gồm sinh lư sinh hoạt.

2.        2.      Nhân cách tầng gồm nhân cách sinh hoạt.

3.        3.      Lư tưởng tầng gồm văn hóa và chính trị sinh hoạt.

Cũng như Tôn Văn chia loài người ra làm ba hạng: Tiên tri tiên giác, hậu tri hậu giác, bất tri bất giác, ta có thể căn cứ vào các nhà giáo dục nước Mỹ chia làm ba nghiệp tầng (lấy xă hội công năng làm bản vị chia giai tầng):

1.         1.       Thực hành nghiệp.

2.        2.      Quyết đoán nghiệp.

3.        3.      Sáng ư nghiệp.

Cho hay rằng những người tiên tri tiên giác, hay là những người sáng ư nghiệp, đều là những người thuộc về lư tưởng tầng.

Toàn nhân loại là một đội ngũ dưới lá cờ của những người xướng đạo (pionnier). Đuổi theo cái bóng của một văn hóa dễ dàng chỉ những bộ óc tiên phong thấy trước. Tung hợp tất cả lịch sử với xă hội mà nói: Sống tức là tiến hóa, tiến hóa tức là thực hiện, thực hiện tức là cụ thể của một lư tưởng mô h́nh. Tất cả tự nhiên cũng vận động theo những qui tắc và mục tiêu thực hiện đó. Cho nên Buffon nói: "những bất động vật là những vật chưa thành tựu". Thực hiện để thành tựu, mà thành tựu trên một nền tảng nhất như (identification). Nhà Phật nói: Phật giới như Ma giới, nhất thiết giai nhất như. Nhà Nho nói: Dân bạo vật giă. Lăo nói: Ḥa quang đồng trần, đăng ư xuân đài. Gia Tô công nhận và khuyến khích một cuộc chiến tranh. Thái Huyền kinh nói: bây giờ không phải là lúc đánh lộn với tâm hồn tự ḿnh, mà là lúc chống với những thống trị thái ác, và tối tăm trên xă hội. Cho hay nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính.

Đó là lư tưởng tối chân chính cho nhân sinh là thiên kinh đạo nghĩa cho vũ trụ. Bất quá sống và chết thành những bờ cơi, v́ ư chí và lư tưởng bất sinh bất tử. Nhưng muốn xem ư chí và lư tưởng của cả loài người hay cả dân tộc, phải biết quay con mắt trở về trông suốt cái thâm tâm của xă hội và loài người, cũng như muốn tự ḿnh có ư chí và lư tưởng phải biết phản tỉnh. Muốn là được, làm là được, biết là được. Ta phải đi từ biết thực hiện tự ḿnh lên đến thực hiện xă hội và thực hiện dân tộc. Chỉ có thời cơ, chỉ có lịch sử, chỉ có chí lương tri, chỉ có lư tưởng là đạo để cho ta phải mau mà đạt.

Loài người trên cái hướng sinh triết học phải nên biết rằng sự bồi dưỡng nội tại, đối với khách quan hay chủ quan mục đích mới chân chính có hạnh phúc.

Sự thực hiện căn bản là sự thực hiện tự ḿnh. Sự thực hiện đó là để đem ḿnh đồng hóa, nhất như hóa với vũ trụ, cho ḿnh với vũ trụ khai thông hoàn thành Bồ Đề Đạt Ma, một thứ tự ngă thiêng liêng và trang nghiêm vậy.

PHẬT LÀNH VỚI MA ÁC

Trong Pháp Du kinh có kể chuyện Thích Ca Mâu Ni thành đạo rồi, Đế Thích sai sáu tiên nữ xuống ám ảnh quấy rối và dụ hoặc. Jésus Christ đă từng bị dụ hoặc bởi quỉ (tenté par le démon). Khổng Tử đă bị vấp váp bao nhiêu lần trên đời, bị hăm ở nước Tần. Thích Ca tất cánh đánh tan được ám ảnh, Jésus xua đuổi được ma quỉ, Khổng Tử gẩy đàn mà nhịn đói, đó là những cuộc thắng lợi trên tự ḿnh, đó là những cuộc thắng lợi nhất ḷng v́ đạo và sức bền. Trần Hy Di đáp lại vua Tống: không lao ngọc nữ hạ dương đài. Người ta đam mê trong khổ ải nhưng khổ ải trước hết là ở nơi tự ḿnh, bạt thiệp núi non, chỉ v́ tấm ḷng trần quấy rối, bắt tấm thân chạy đuổi theo những thanh, hương, sắc, vị, chắc chắn không có chi khác.

Ḷng người như con vượn, ư người như con ngựa, dục người như con lợn. Vượn bay nhảy leo trèo, ngựa chạy rong nước kiệu, lợn ́ ục lười biếng.

Sự thực hiện tự ḿnh, trước hết bỏ trừ những thú tính trong ḿnh, kiến thiết tự ḿnh thành một tấm thiêng liêng, kim cương vô ngă rắn rỏi và trong suốt.

Cho nên sự tịnh hóa (purification) là công phu đầu tiên để rửa sạch ba cái bánh xe nhân sự, nó là khẩu luân (mồm), thân luân (thân thể), ư luân (dục vọng). Sạch sẽ rồi mới thơm tho, sáng láng, sảng khoái và có chủ ư. Connais-toi, toi-même, đó là chủ chỉ của minh tâm, kiến tính và thành Phật.

Nhưng Phật với Ma là thế nào? Ma là vô minh, ngu dốt; Phật là đại giác sáng suốt. Sống tức là cho tự ḿnh, c̣n là thực hiện tự ḿnh. Sống cho tự ḿnh mới là biết sống. Ma là duyên nghiệp, Phật là tịch tịnh. Sống nghĩa là tự ḿnh tự do giải thoát, nghĩa là tự ḿnh cần phải đại tự tại, đại vô úy, đại vô ngă, tức là chân chính giải thoát. Cho nên người ta tự lúc ra đời, hăy nên nhận thành cái hiện tượng mâu thuẫn ở tự trong cơi ḿnh mà muốn cho đạt tới chân thiện mỹ trước hết tự ḿnh phải có một chủ ngă, cái chủ ngă ấy có một phương châm sống hướng thượng. Trước hết có đại nguyện, thực hành cái đại nguyện đó cần tŕ chí và lực hành. Có đại nguyện mới có ḷng tŕ chí.

Biết triệt để rồi mới có ḷng muốn thực hành. Dân tộc, quốc gia ta, kể về tinh thần độc lập th́ thật siêu thoát lên trên thế giới. Bây giờ đây, loài người không hết ca ngợi tính độc lập của Mỹ, Ba Lan, những cuộc độc lập phí bao nhiêu vật lộn và phí bao nhiêu xương máu. Nhưng mà tính độc lập của Mỹ chẳng phải là mặt trái của sự chia rẽ ṇi giống Anglo-Saxon sao? Tính độc lập của Ba Lan chẳng phải là thiếu cái nội tại tự lực, để mặc cho cái quyền độc lập của ḿnh, xoay vần bởi quốc tế thời thế hay sao? Không ǵ thuần túy bằng tinh thần độc lập của ṇi giống Việt, trải qua từ khi c̣n là một tốp người nho nhỏ, tiến lên thành một dân tộc, hai triệu rồi ba triệu, bốn năm bảy triệu, ở cơi trung châu chật hẹp, cho nên ngày nay 50 triệu người, từng thống nhất dưới Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, từng phân toái hết thảy mọi ngoại lực xâm lược.

Không ǵ vĩ đại bằng tinh thần độc lập của ṇi giống Việt, có cái quyền bính độc lập đó, nắm được ở tay ḿnh, mà tự ở đáy tầng dân chúng nắm tự tay dân tộc ḿnh, Lê Lợi cách mạng, đó là cuộc tự lực cánh sinh một trăm phần trăm vậy.

Nhưng mà bây giờ đây, người Việt ta phải hiểu thấu cái để uẩn tối thiêng liêng của ṇi ḿnh, cái lư niệm tối thực tại của Tiên với Rồng, cái tinh thần tượng trưng đó đă diễn tiến theo biện chứng pháp ra một cái quá tŕnh lịch sử của chúng ta khi hưng khi vong, khi ẩn phục, khi triển khai. Căn cứ vào cái tinh thần lư tắc ấy, và lư tắc lịch sử đó, ta đoán định nhất quyết là thời đại trước mắt ta đây, chính là buổi rạng đông của văn minh cao khiết mới, một sứ mệnh vĩ đại mới, và một sự nghiệp hùng tráng khai quang của dân tộc Việt. Một thế kỷ lâm ly khổ ải đă thẩm thấu vào ḷng mọi người Việt, cái bộc phát của tương lai, cái đột biến của sự nghiệp. Cho nên cái quá tŕnh phục hưng của ṇi nước ta có thể chia ra làm đại bi, đại giác, đại nguyện, đại hành, đại hùng, đại thế, đại đạo.

Tự cảm giác thấy cái đau khổ lớn lao mà thức tỉnh một cách mạnh mẽ, rồi tự t́m lấy một lư tưởng cao cả mà xông vào vật lộn hy sinh đến kỳ cùng. Đến đây bao nhiêu lực lượng và tinh thần tồn tại khỏe khoắn của suốt một thế hệ tổ tiên sâu dày đă trở lại ḿnh, đứng trên một cương vị có bề thế ưu thắng, có một bộ óc và hai bàn tay vạn năng, hoàn thành cái đạo lớn cho loài người.

Nhưng mà cái tŕnh tự kim đan hoán cốt, cải biến đời người, nó cho một khí lực tân sinh cho mỗi cá nhân người Việt cũng phải thế.

Người Việt phải truy bản cùng nguyên cái đáy ḷng ḿnh và đáy ḷng lịch sử của ṇi giống, kín gánh ở đấy cái nguồn sinh lực, đạo đức và trí tuệ, nó làm ḿnh đứng dậy lớn lao lên và mạnh mẽ, cầm bó đuốc của đời sau phát nguyện mà làm việc.

Phục hưng dân tộc trước hết phải phục hưng cá nhân. Dân tộc có độc lập được hay không là nhờ ở thanh niên có độc lập năng lực hay không. Muốn biết phải làm. Sinh nhi tri chi, học nhi tri chi, khốn nhi tri chi, cập kỳ tri giả nhất giă.

An nhi hành chi, lợi nhi hành chi, miễn cưỡng nhi hành chi, cập kỳ thành công giả nhất giă. Hỡi dân tộc thanh niên, phải chịu khốn khổ mà cầu biết, phải biết miễn cưỡng mà làm đi!

CƠI PHÚC VÀ DÂY OAN

"Tu là cơi phúc, t́nh là dây oan", cá nhân có tu th́ dân tộc mới hưng, dân tộc Việt đừng để dây oan nghiệt của đế quốc dă tâm, chằng buộc ấy ḿnh măi, đồng thời đừng để những dây khắc khổ cùng những truyền thống không thuần túy thắt bóp ḿnh măi.

Tất cánh chúng ta phải độc lập và giải phóng, độc lập cho hết thảy quốc gia mệnh mạch và sinh hoạt cơ năng của ta, cởi mở cho hết thảy dân tộc tính, dân tộc t́nh, dân tộc chí của ta được tự do thư triển với thế giới. Làm sao chúng ta phát huy được những tiềm lực độc đặc của dân tộc ta trong cơi đời, cống hiến cho toàn nhân loại cái quang huy của tâm t́nh, năng lực ṇi giống ta cái tinh thần cố hữu của dân tộc trào phúng, khảng khái, độc lập, sáng tạo, bền dai, chúng ta phải bả ác lấy mà kiến thiết ḿnh trên những nhân tố đó.

Vậy thời mỗi dân tộc thanh niên phải tu tỉnh. Có ba lối tu: thứ nhất tu tại gia, thứ nh́ tu chợ, thứ ba tu chùa; cho nên tu ở tại ḿnh là ch́a khóa của thời đại mới, của sự đạt tới cái tiêu đích đại vô úy, đại tự tại, đại giải thoát, cho cả dân tộc, cho mỗi một người ta.

Tôi đem cái kinh nghiệm của tự tôi trong sự tu dưỡng của tự tôi, cống hiến làm cái sơ bộ cho mọi người.

1. Trung tâm giáo dưỡng

a) Lập chí chí thành: lập một chí nguyện một lư tưởng trên sự giác ngộ, rất xác thiết đối với dân tộc, ở đó sinh ra một ḷng chí nhiệt, chí thành, suy động hết thảy sinh mệnh cơ năng.

b) Tính, tâm, thân, mệnh: Tính cho được trong suốt, tâm cho được yên ổn, mệnh cho được vững bền, thân cho được phát huy.

Mệnh gồm tinh, khí, thần; thân vững bền rồi th́ tâm mới được yên định tinh túc, tinh thần được dồi dào, tất tính được trong suốt như tấm gương; như thế thân tức là sự nghiệp, thân thế, hành vi, ngôn ngữ, nhân cách sẽ được kiện toàn, thống nhất.

2. Lịch sử sinh hoạt

a) Sống một đời sống lịch sử, sống theo cái quá tŕnh lịch sử của ṇi giống, lấy cá nhân sinh mệnh ḿnh phối hợp những giai đoạn của nó vào giai đoạn tất nhiên của lịch sử.

b) Nhận thức lịch sử của dân tộc.

c) Cảm ứng lịch sử của dân tộc: chúng ta vui, buồn, khổ, oán, thù, mừng, hy vọng thuần túy bằng cái vui, buồn, khổ, oán, thù, mừng hay hy vọng của dân tộc.

Hàm súc những tính, t́nh, chí của dân tộc vào tấm thân ta, nó sẽ nuôi ta thành một phần tử chân chính và tiền tiến của dân tộc. Nó sẽ cung cấp hết những lư trí và tiềm lực, kinh nghiệm đủ để cho ta ra đời.
Hết sức giảm bớt những vui, buồn, khổ, oán, thù, mừng, hy vọng riêng của cá nhân ta.
d) Dân tộc làm trung tâm: đảm đương sứ mệnh của lịch sử hết thảy sự nghiệp hoặc văn hóa, kinh tế, quân sự, xă hội, chính trị, giáo dục y cứ trên cái nền tảng lịch sử sinh hoạt mà phối hợp với các nhiệm vụ cách mệnh kiến quốc, lư tưởng của ṇi giống. Chỉ có lấy đó làm trung tâm, nhiên hậu mới phát huy đến bờ cơi được cái vĩ đại của tự lực và sáng tạo lực.

3. Tiềm tại tu dưỡng

Nên hỏi mà biết, biết mà làm, không nên nói nhiều.

a)         a)      Nội tỉnh:

Tồn Bảo tồn (minh tính)

Dưỡng Hàm dưỡng (đạm bạc)

Tỉnh Phản tỉnh (khế hội)

Xác Thể xác

b)        b)      Ngoại tẩm

Thiệp Thiệp liệp (non sông, nhân t́nh, thế cố)

Tẩm Tẩm nhuần (thiên nhiên, nghệ thuật, cổ phong)

Thực Thực tiễn (học thuật, lao vụ, động tác)

Đào Đào dă (nắng, mưa, gian hiểm, tính t́nh)

Cách vật Trí chi (lực hành).

Liễu Châu 4821 tuổi Việt (1942)

X.Y. Thái Dịch Lư Đông A

 

LẤY ÓC MÀ CHỮA BỆNH ÓC

Xét bệnh thần kinh có mấy thứ, từ bệnh nhức đầu (névralgie) cho đến bệnh nhức óc (neurasthésie), kịch liệt tính như bệnh đau màng óc (méningite), âm ỷ tính như bệnh thần kinh quá mẫn (nervosité), tiến lên cho đến các hạng thắc loạn (manies), kiện vong (perte de mémoire), thoáng quên (absence), các hạng điên cuồng có nhiều thứ, cứu kỳ nguyên nhân không ngoài mấy căn nguyên: thiếu máu, chướng khí, sầu uất, tâm lư kích động, lao lực, lao tâm, tư tưởng thái quá, t́nh bệnh như thủ dâm, di tinh, mộng tinh, lănh tinh, thanh niên hay mắc nhất, đương lúc thanh xuân kỳ rờ rỡ, tâm lư và sinh lư phát triển chính gặp lúc kịch biến, những hiện tượng xă hội và những hiện tượng tâm thần kích thích mà nên. Nhưng mà thanh niên là hy vọng của quốc gia, dân tộc, là chủ lực của nhân loại văn minh, không tự phán phát mà t́m đường xuất lộ, th́ lư tưởng và quốc gia ảnh hưởng không ít.

Xét cách chữa có thể chia hai phương diện mà nói:

1)        1)      Tu dưỡng: có thể dùng phương pháp lưu dưỡng, tẩy nhẹ vận động thư thái, sinh hoạt điều độ, tinh thần nghỉ ngơi, doanh dưỡng có chế độ. Bổ cứu thêm thuốc thang chuyên môn.

2)       2)      Điều dưỡng trong sự nghỉ ngơi và thư thái, tổ chức lại bộ óc sung thực cho kiện toàn, điều tiết cho linh hoạt, lấy đó làm cơ sở cải tạo sinh mệnh cơ năng, sinh lư và tâm lư, tiến lên cải tạo chính cái sinh mệnh hệ thống.

Sự hoạt động của loài người lấy thần kinh làm then chốt. Cho nên muốn hiểu rơ những hiện tượng sinh tồn cá nhân và xă hội, cần phải biết kết cấu của bộ óc, địa vị của nó và lai nguyên của sức sống do nó chi phối là tinh, khí, thần. Nếu lấy phương diện tĩnh của phương pháp phân tích mà nói th́ bộ óc dệt nên bởi những tiềm duy và tế bào, năng lực của nó chứa góp cái tự kỷ năng lực của những tiềm duy và tế bào đó. Song lấy phương pháp mới của các nhà khoa học hiện đại, th́ năng lực và hiệu dụng của thần kinh do ở sức vận hành của máu, hơi thở, dịch chất tom góp lại thành những luồng điện A và B luôn luôn cung cấp cho bộ máy đó. Cho nên tung hợp lại có thể nói theo y lư Đông Phương th́ óc là phủ nguyên thần tích súc hết thảy tinh hoa kết lại trong người mà thành. Tinh do máu, dịch chất kết tích lại ở thận thông xương sống, tủy mà làm bản chất của óc, khí do sự vận hành của máu, hơi thở mà thành các luồng điện A và B, thần tức là cái hoạt lực để tinh với khí tương hỗ chuyển biến mà nên. Cho nên từ nguyên tắc tu thân xử thế cho đến chữa bệnh bằng tự ḿnh không ngoài hai điều:

1) Lấy chí xuất khí: Chí tức là ư chí trong người, lấy một ư chí kiện cường và minh mẫn mà sai khiến sinh lư sinh hoạt với tâm lư sinh hoạt. Trong thần kinh hệ chia làm hai là: vận động hệ gồm các dây trông về tự động và nội tạng như tiêu hóa, tuần hoàn, cử động và tri giác hệ tức là những dây trông về cảm giác, nghĩ ngợi, ghi nhớ. Hai hệ này có liên hệ mật thiết với nhau, khỏe yếu có ảnh hưởng lẫn nhau.

2) Lấy tĩnh chế động: Dùng một chủ thể rất bền vững yên định để sai khiến những khách thể phức tạp và động loạn, cho những khách thể đó phải tuân theo ư chí của chủ thể mà điều độ. Có thể chia phép điều dưỡng làm ba bước:

A. Thời kỳ thứ nhất: Đây là thời kỳ thu phục lại cái thường thức cho bộ tổ chức và vận dụng của óc, nhân đó thành lập một quy mô sinh mệnh. Nhưng cái tiên quyết điều kiện là người tự chữa phải cố gắng, có một ư chí và chủ ngă rất bền mạnh, rất trầm tiềm, rất nhẫn nại. Cái mục đích dự định của thời kỳ này là:

1) Làm hết các trạng thái thắc loạn trong óc bất cứ về sinh lư như hư ḥa dịch chất (humeur) cho óc và gân đươc sảng khoái, thong thả hay là về tâm lư như sầu muộn, ảo tưởng, hoang mang.

2) Bắt đầu thu nạp lại cái qui mô và trật tự của sinh lư sinh hoạt như thở đều, tiêu hóa tốt, bài tiết tốt, máu chảy tốt và của tâm lư sinh hoạt như tư tưởng cho phải chăng, t́nh cảm cho điều ḥa.

3) Nhân đó dựng nên một cái nhân cách chớm đầu hệ thống và quy luật hóa. Các phương pháp chữa gồm có:

a) Tản bộ sớm và chiều cho sinh cơ được thư triển và giúp ích cho tinh thần đối với tự nhiên có ảnh hưởng đẹp đẽ.

b) Hô hấp sáng và chiều, nhè nhẹ và in ít để khai thông vận hành cho vận động hệ của bộ óc, hô hấp hệ, tuần hoàn hệ, tiêu hóa hệ.

c) Vận động nhẹ và tẩy nhẹ cho các dịch chất đọng ngừng được thông thoát và toàn bộ cơ năng của thân người được sảng khoái.

d) Tung hợp và điều chỉnh lại các kư ức của ḿnh, tức là tổ chức những tư tưởng t́nh cảm đă qua của ḿnh cho không hỗn loạn.

đ) Ngừng mặc, ngồi lặng cho tinh thần được tĩnh định, không chút vẩn ḷng và yên nghỉ bộ óc.

e) Giữ vững được thận của ḿnh tránh những di tinh, mộng tinh.

g) Ổn định tâm của ḿnh cho khỏi bị ngoại vật kích thích hay bị động với ngoại vật.

B. Thời kỳ thứ hai: Phải tiến lên học đến cách vận dụng và phát triển cái thường thái ở trên cho tâm với thần được b́nh hành phát triển, tâm lư cơ cấu khỏe khoắn, sinh hoạt có quy luật, nhân cách biểu hiệu được thống nhất. Các phương pháp gồm có:

1) Tổ chức lư trí hệ thống tức là học về lư tắc (logique).

2) Tổ chức t́nh cảm hệ thống, tức là học về thẩm mỹ (esthétique).

3) Tổ chức ư chí hệ thống, tức là học về lịch sử.

C. Thời kỳ thứ ba: Thu góp cái kết quả của thời kỳ trên mà đặt yên cái sinh mệnh hệ thống của ḿnh và phát huy cái sinh mệnh công năng của ḿnh. Lợi dụng cái ư chí tối cao làm trung tâm chỉ huy lư trí và t́nh cảm, tiến sâu vào con đường khoa học, bác ái và công minh, thời kỳ này phải giải quyết 4 vấn đề:

a) Nhân sinh quan (thái độ đối với sự sống)

b) Nhân tử quan (thái độ đối với sự chết)

c) Phải hiểu cái khuôn khổ của thời đại. Thời đại với văn hóa có cái khuôn khổ riêng của nó, ví như văn hóa Hy Lạp, lấy cái vóc đẹp, trí sáng, sức khỏe làm mô phạm v.v... Cho nên biết văn hóa thời đại hay lịch sử chẳng qua chỉ có một nhiệm vụ tối cao là hun đúc nên một con người xứng đáng. Ta thử tưởng tượng xem cái văn hóa tương lai của dân tộc Việt nên lấy cái khuôn khổ ǵ? Như ư tôi nghĩ chỉ cần: thận vững, tim trong, óc sáng, ḿnh nhẹ, tay mạnh.

d) Phải kiến thiết một đời sống lư tưởng. Đời sống của người ta vốn là một cuộc đi có dự định kế hoạch để đạt tới một dự định mục tiêu, hoàn thành một dự định ư nghĩa và một dự định giá trị của nhân sinh. Châm đối theo cái đó hăy nêu cho đời ḿnh một phương châm tinh thần làm cái đích để dấn thân tới, triệt để cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

I. BỒN GỘT RỬA


A- Gột rửa những trầm trệ bệnh của tâm lư về lịch sử:

1) Tâm lư thù oán tổ tiên.

2) Tâm lư miệt thị tổ tiên

3) Tâm lư quên bỏ tổ tiên

4) Tâm lư kiêu nịnh tổ tiên

5) Tâm lư lầm lẫn nguồn gốc.

B- Gột hết những trầm trệ bệnh tâm lư về hiện tại:

1) Tâm lư thù ghét xă hội

2) Tâm lư quảng phiếm xă hội

3) Tâm lư giai cấp đơn độc

4) Tâm lư cá nhân đơn độc

5) Tâm lư dân tộc đơn độc

6) Tâm lư thế hệ đơn độc.

C- Gột rửa hết những trầm trệ bệnh của tâm lư về tương lai:

1) Tâm lư cẩu thả sinh hoạt

2) Tâm lư bạo khí sinh hoạt

3) Tâm lư thiên khích sinh hoạt

4) Tâm lư dao động sinh hoạt

D- Mấu cứ của tin tưởng trên lịch sử:

1) Quyền lợi đương nhiên

2) Đoàn thể dân tộc

3) Tư cách lịch sử

4) Lập trường siêu nhiên

5) Đường đi cỗi gốc

6) Chủ trương thắng nghĩa.

Đ- Mấu cứ của tin tưởng trên hiện đại

1) Nhân t́nh:

a) Phản cách mạng
b) Phóng cách mạng
c) Giả cách mạng
d) Bất cách mạng

Hữu t́nh nhỏ
Ư thức hẹp
Nhận xét sai

2) Thế thái:

a) Danh
b) Lợi
c) T́nh
d) Thế
đ) Dục


Tạo hóa ở tự nhiên
Sống chết ở loài người
Xấu tốt do chế độ

Nhân cách siêu
nhiên vượt lên
hiện đại mà sai
khiến được xấu
tốt lẫn đức thuật

E- Mấu cứ của tin tưởng về tương lai:
1) Nhân cách khởi tín
2) Học thuật khởi tín
3) Thời sự khởi tín

Nội bộ:

1) Không bị sàm hoặc
2) Không bị ly gián
3) Không bị sơ ngại
4) Không bị nghi trệ

 

Tâm thông

 Mục đích khởi tín lấy phục vụ cho cương thường loài người, sống chung toàn tính, làm cho mục đích kiên quyết, phải đề pḥng:

a) Trảm thặng vận động (phản động chém trừ toàn thể v́ đa số, chém trừ đa số v́ thiểu số chém trừ thiểu số v́ độc tài).
b) Phân ly vận động: (ly tâm xu hướng, phá hoại chiến thuật) phải kiên tŕ.
c) Sinh hóa vận động (từ một ra ít, ít ra nhiều, nhiều ra toàn thể).

II. ĐÀI HY SINH

A- Ư nghĩa của hy sinh là h́nh thức của nó qua các thời đại. Tông giáo hy sinh lễ là tuẫn đạo, các cuộc hy sinh v́ học thuật, tư tưởng v.v...

B- Sự sống bắt rễ ở sự chết. Lễ nhập quan tông giáo: đời người bắt đầu tự đó. Sự thoát xác qua các thế hệ, sức suy tiến loài người của hy sinh.

C- Chân ngôn.

D- Đại nguyện.

Đ- Đại giá của hy sinh là vinh quang, đại giá của sự chết là sự sống c̣n măi măi của loài người, đại giá của quyết chết là thành công, đại giá của lư tưởng là một ư nghĩa với một công năng tích cực cho vũ trụ không nghĩ ngợi và làm lụng, một ư nghĩa hiện thực trong sát na và vi trần của vô thường.

E- Trỉ đạo của hy sinh trong trí tuệ và nghị lực chân chính.

X.Y. Thái Dịch Lư Đông A

8/8/4823 tuổi Việt (1944)

 

PHẦN CHÚ GIẢI

1.-HUYẾT HOA

huyết hoa: Hoa của loài cây, cỏ được tưới bón bằng máu đấu tranh.
biện chứng: biện chứng là phương pháp biện luận có chứng cớ thực tế.
biến pháp: Biến: thay đổi khác với đường lối cũ. Pháp: khuôn mẫu, luật lệ, cách thức làm việc để mọi người tuân theo. Biến Pháp là sự thay đổi, cải tiến đường lối chính trị, chế độ cai trị của một quốc gia.
nhất quán: là sự liên lạc của tư tưởng thành một hệ thống qua một phương pháp suy luận suốt dọc.
uyên nguyên: nguồn gốc sâu xa của một sự vật.
để uẩn: là phần kín đáo nằm sâu dưới đáy, phần nội dung, bên trong của một vật thể.
xiển dương: là đưa ra những cái hay cái đúng của một chủ thuyết, đạo giáo mà tán tụng khen ngợi để mọi người biết đến mà đi theo.
thai sinh: sinh sản bằng mang thai.
noăn sinh: sinh sản bằng đẻ trứng.
thấp sinh: sinh ở nơi ẩm thấp như thực vật, thảo mộc.
hóa sinh: sinh bằng cách đổi lốt, lột xác.
chấp chước: là khư khư chỉ biết giữ cái nhỏ mà quên cái lớn; thái độ cố chấp một cách u mê, thiển cận.
dục giới: theo nhà Phật, Giới là cảnh ngộ, nên chia những phần c̣n phải vướng nghiệp luân hồi làm 3 cơi: dục giới, sắc giới, vô sắc giới, mỗi cảnh ngộ mỗi khác. Dục giới gồm 4 loại dục: t́nh dục, sắc dục, thực dục, dâm dục.
sắc giới: là cơi đời chỉ c̣n h́nh sắc không c̣n t́nh dục như ở cơi tiên.
vô sắc giới: cơi cao nhất trong 3 cơi, không c̣n sắc tướng, chỉ có cái ư thức rất vi diệu.
vô minh: là người không có trí tuệ.
sinh mệnh: là cái sự sống của một người.
niết bàn: người tu đă chứng đạo khi bỏ xác phàm về nơi không sinh không diệt, không c̣n phiền năo.
chủng tử: hạt giống để gieo trồng.
chân như: là bản tính nguyên thủy vẫn tinh thành, viên măn không thay đổi, bất sinh bất diệt.
như lai: "Phật vốn không từ đâu lại (vô sở ṭng lai) mà cũng không đi đâu (diệc vô sở khứ)" (Kinh Kim Cang). Theo Đạo Viên Tập, sách giải thích: "vốn biết gọi là Như, hiện biết gọi là Lai.".
thụ kư: truyền trao lại nhiệm vụ và kư thác những việc phải làm.
bỉ ngạn: là bờ bên kia của bể khổ tức Bến Giác, c̣n bên này là Bến Mê. Tu chứng tới cơi chính giác gọi là đáo bỉ ngạn.
tam muội: dùng công tu hành mà diệt được hết trần duyên mà vào cơi trống không vắng lặng. Tam muội, chỗ tuyệt đích áo diệu của một môn ǵ.
thực tiễn: phù hợp với sự thật, có thể thực hành được, có thể áp dụng vào thực tế.
thủy b́nh: sự bằng nhau đo theo mực nước.
thủy chuẩn: là cái mức độ chung, tŕnh độ chung: sinh hoạt thủy chuẩn, văn hóa thủy chuẩn.
thủ đoạn: là cách làm việc khôn khéo có tính toán trước sau phù hợp với hoàn cảnh thực tế để nắm chắc thành công. Thủ đoạn là phương pháp làm việc của cá nhân biết quyền biến ứng phó với thực tế, không giáo điều, biết chấp kinh mà cũng biết ṭng quyền. Chữ thủ đoạn thường bị gán cho một ư xấu là đầy mánh khóe, mưu mẹo để lừa gạt người, dám làm mọi việc để đạt tới mục đích với quan niệm "cứu cánh biện minh cho phương tiện". Nghĩa chữ, thủ đoạn là chính tay ḿnh cắt đặt ra để nói lên tính chất chủ động của người làm. Chữ thủ đoạn c̣n có nghĩa là nắm chặt lấy mục đích của từng giai đoạn, đi từng bước một thật vững chắc, hoàn tất từng phần của toàn bộ kế hoạch để thành công trọn vẹn. Đem so sánh với phương pháp th́ phương pháp là cách làm việc theo tiêu chuẩn khoa học, theo khuôn mẫu do đó nặng giáo điều, không uyển chuyển phù hợp cho từng trường hợp đặc thù của thực tế phức tạp.
súy đồ: là mưu tính thực hiện những điều ḿnh mong muốn bằng cách lập kế hoạch thi hành. Súy đồ là âm mưu, mưu chưa lộ ra, chưa thành h́nh.
hiệp nghĩa: là dũng cảm làm việc nghĩa, tinh thần công chính của những người biết phải trái, biết trách nhiệm liên đới, không bàng quan tọa thị cầu an để mang tội đồng lơa với bọn làm ác.
hoa tháng Năm: tên chiếc tàu Mayflower, chở những người di cư đầu tiên đến Hoa Kỳ từ Anh (1620).
biên thú: nơi hoang vu đầy nguy hiểm ŕnh rập mà những người có nhiệm vụ ǵn giữ lănh thổ tổ quốc phải ở.
Bastille: tên một lâu đài cổ được dùng làm trại tù ở Paris (Pháp), bị dân chúng phá ngày 14/7/1789 .
bảo chướng: ǵn giữ và che chở.
tháng Mười: cuộc Cách Mạng Nga xảy ra vào ngày 25/10 theo lịch cũ tức ngày 7/11/1917 để lật đổ Chính Phủ Lâm Thời thành lập chế độ Sô Viết, phân biệt với cuộc cách mạng tháng Hai theo lịch cũ tức tháng 3/1917 nhằm lật đổ chế độ quân chủ (Nga Hoàng chính phủ) để lập Chính Phủ Lâm Thời trong đó đảng cộng sản chỉ là thiểu số.
phương án: là cách thức giải quyết một vấn đề trong quá khứ được coi là thỏa đáng, nay được coi là khuôn mẫu cho mọi người làm theo.
Tô⍊Liên: liên minh các Cộng Ḥa theo chủ nghĩa xă hội sô viết, gọi tắt là Liên Sô (URSS). Nga chỉ là một cộng ḥa trong số 15 nước cộng ḥa khác.
bộ sậu: nghĩa chữ là bước đi của người, cách chạy của ngựa, nghĩa bóng là tŕnh tự tiến hành công việc.
Stakhanovisme: chủ trương của Stakhanov, chuyên viên người Nga nghiên cứu về cách làm việc cho hữu hiệu: phương pháp làm gia tăng sản phẩm bằng cách đăi ngộ các cá nhân có sáng kiến hay trong sản xuất, được phát triển và áp dụng ở Liên Sô vào năm 1935.
thuế biến: sự tiến hóa bằng h́nh thức lột xác để lên một mức cao hơn.
phạn thiên: là Đại Phạn Thiên Vương, vị thần cao nhất trong Bà La Môn giáo (Brahmanism), 2 ngôi kia là Vishnu và Shiva.
cương lĩnh: là cái dây kéo lưới, cái cổ của áo. Trong chính trị, cương lĩnh là bản tóm lược những điểm quan trọng chủ yếu trong chương tŕnh đấu tranh của một chính đảng.
vu miệt: là dựng chuyện để bôi xấu người với mục đích để hạ uy tín.
chế độ: nghĩa chữ là những thứ dùng để đo lường chung cho mọi người. Trong chính trị, chế độ là những nguyên tắc cơ bản để điều hành một quốc gia phản ảnh qua tổ chức chính quyền.
trẫm triệu: là những ǵ đă phát lộ ra h́nh tướng mà mắt trông tai nghe được để đoán biết trước những ǵ sẽ phải xảy ra sau đó, như nh́n điềm trời để đoán thời tiết.
quán tưởng: là chuyên chú suy nghĩ để t́m hiểu suốt dọc toàn thể sự việc.
tinh diệu: là cái tính chất không pha tạp, nhỏ bé khó nghĩ tới của một sự vật (ư niệm về phân tử trong khoa học, những nguyên tố tạo nên vật chất).
thăng hoa: nghĩa chữ là đưa lên cao và làm cho rực rỡ đẹp đẽ hơn. Trong tâm lư học, thăng hoa là sự chuyển hướng năng lực để làm những công việc được coi là cao thượng, hơn là dùng để thỏa măn những đ̣i hỏi sinh lư bị coi là thấp hèn.
công đức: là những hành động của cá nhân đóng góp trong việc xây dựng tập thể.
Có công lao với người gọi là công, có đức huệ với người gọi là đức, những thành quả do tu thân hành đạo mà tạo nên trong cuộc sống của một người.
Muses: Chín Nàng Nghệ Thuật, chín người con gái của Zeus với Mnemosyne, chia nhau chủ tŕ các ngành Nghệ Thuật:
1. Calliope coi về loai thi ca anh hùng (epic poetry)
2. Clio coi về lịch sử (history)
3. Erato coi về thi ca trữ t́nh (lyric poetry)
4. Euterpe coi về âm nhạc (music)
5. Melpomene coi về bi kịch (tragedy)
6. Polyhymnia coi về âm nhạc tế tự (religious music)
7. Terpsichore coi về vũ (dance)
8. Thalia coi về hài kịch (comedy)
9. Urania coi về thiên văn (astronomy)
Muses c̣n được gọi chung là những nguồn hứng khởi của người nghệ sĩ.
lương tâm: là cái hướng dẫn con người hành động theo lẽ phải mà ai cũng có.
lăng mạn: là phóng túng buông thả không kềm chế mối thất t́nh để chảy trôi tràn lan như sóng nước.
thời đại: là khoảng thời gian rất dài gồm nhiều chục năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm có chung một đặc tính nổi bật.

2.-SỬ HỒN

sử hồn: phần tinh anh trong ư nghĩa của sử nằm ẩn tàng trong các sự kiện vụn vặt được ghi chép lại. Phần tinh thần của sử, làm cho sự kiện rời rạc thống nhất thành một toàn thể linh động đầy ư nghĩa.
hối hận: giận ḿnh đă làm điều trái với lương tâm, thiên lư, nay giác ngộ, phản tỉnh mong muốn sửa đổi lỗi lầm xưa mà không được.
nhân đạo: là con đường mà loài người phải đi theo để đạt tới đích điểm dự cầu là sống tự do và hạnh phúc trong ḥa b́nh và huynh đệ. Nhân đạo là con đường với những chặng tiến hóa tất yếu của loài người.
tăng tiến: là sự phát triển đa diện của một vật thể trong không gian 3 chiều gồm cả phẩm lẫn lượng.
thực thể: là một vật thể hiện hữu trong thực tế với những cách biểu lộ đặc thù của nó, là cái bản chất chân thực của một vật được cụ thể hóa trong thực tế.
phong thiện: xưa thiên tử đi tuần thú đắp đất làm nền ở núi Thái Sơn để tế trời, quét núi nhỏ để tế đất gọi là phong thiện.
Joseph Stalin (1879-1953): Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Sô từ 1922-1953, Thủ Tướng Liên Sô từ 1941-1953.
Stalinism: những nguyên tắc áp dụng chủ nghĩa cộng sản theo Stalin, đặc biệt là sự đàn áp thẳng tay phe đối lập khác biệt về chính kiến và ư thức hệ, sự độc tài tuyệt đối bằng cách tập trung quyền hành vào tay một cá nhân, và đường lối quốc tế xâm lược.
Tsar, Czar: Nga Hoàng, gọi chung những người cai trị nước Nga tới cuộc cách mạng 1917, chủ trương độc tài.
Komintern: Tổ chức Đệ Tam Quốc Tế (1819-1943), do Lenin tổ chức ở Moscow , với mục đích kết hợp các tổ chức cộng sản quốc tế lại và chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản bằng phương thức cách mạng bạo động. Komintern bị Stalin giải tán với mục đích để làm an tâm khối Đồng Minh.
phản tỉnh: là suy xét kỹ lưỡng, thẩm định lại giá trị những tư tưởng, hành động mà trước đây ḿnh cho là đúng dưới một nhăn quan mới của một người đă giác ngộ. Trong tương quan hành động, phản tỉnh là điều kiện cần thiết để có hối hận.
Phát xít (Fascism): chủ trương chính thể độc tài, do một lănh tụ cầm quyền, đề cao chủ nghĩa quốc gia cực đoan với chính sách xâm lược và đề cao chủng tộc. Phong trào phát xít Ư của Benito Mussolini (1883-1945) lập ra từ 1922-1943.
Nazi: viết tắt từ Nazional Sozialist của tiếng Đức tức đảng Quốc Gia Xă Hội gọi tắt là Quốc Xă, điều hành nước Đức từ 1933 đến 1955 dưới quyền lănh đạo của Adoft Hitler (1889-1945). Nazism là một chủ thuyết kinh tế chính trị được dựa theo cuốn "The Third German Reich" bao gồm những nguyên tắc cai trị độc tài, quốc gia kiểm soát hết mọi ngành kỹ nghệ, chủ trương chủng tộc siêu việt và tôn trọng quyền tối thượng của lănh tụ "Fhrer".
Mahatma Gandhi (1869-1948): Lănh tụ Quốc Gia Ấn Độ.
chủ nghĩa: là một hệ thống tư tưởng bao gồm những nguyên tắc căn bản để hướng dẫn hành động được cá nhân hay tổ chức tuân theo với một chủ tâm. Chủ nghĩa, nghĩa chữ là cái ư nghĩa cốt yếu được chủ trương bởi một cá nhân nào đó, đă nói lên cái tính chất chủ quan và tích cực trong tư tưởng cũng như hành động của những người tôn thờ nó. Bản chất biến dịch của cuộc đời và sự đặc thù của hoàn cảnh dễ làm cho "cái được gọi là" chủ nghĩa trở thành lỗi thời, mất hiệu nghiẹ䭬 cần phải xét lại từng phần hay toàn diện hoặc loại bỏ. Và nó làm nên sự tiến bộ trong tư tưởng của nhân loại đi về đích điểm Nhân Chủ sau nhiều đợt xét lại, sửa sai.
vũ trụ: là một môi trường dung chứa được toàn thể mọi sự vật, mọi hiện tượng đă được con người nhận biết và xếp đặt theo một trật tự có tính chất chủ quan. Vũ trụ là môi trường sinh hoạt của loài người thống nhất thành một thể, cũng như đời là môi trường sinh hoạt của cá nhân. Bản chất của vũ trụ và đời là sự đúc kết không gian và thời gian thành một, do đó chúng chỉ khác biệt ở mức độ cao thấp, lớn nhỏ trong tiến tŕnh cá biệt hóa, cụ thể hóa.
bá đạo: là những phương thuật phải thực hiện để lập nên nghiệp bá. Bá chưa phải là người cầm đầu thiên hạ nhưng uy quyền cũng trùm lớp thiên hạ, dưới một người mà trên muôn nngười, thường nhân danh thiên tử, đạo nghĩa để sai xử chư hầu. Trong nghĩa rộng, bá đạo được hiểu như một đường lối chính trị khinh nhân nghĩa trọng kỹ thuật, thường dùng bạo lực để đàn áp người để được khẩu phục.
vương đạo: đường lối để làm nên vương nghiệp, thống nhất toàn thiên hạ. Trong nghĩa rộng, vương đạo được hiểu như mô⯴ đường lối chính trị trọng nhân nghĩa, thường dùng lư tưởng đạo đức để cảm hóa người nên đạt được tâm phục.
đào thải: là đăi lọc lấy cái tốt, gạt bỏ những cái xấu, một quy luật của sống c̣n và tiến hóa.
Lê Văn Hưu: người làng Phủ Lư, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đậu Bảng Nhăn năm 18 tuổi (1247) dưới thời Trần Thái Tông. Làm đến Binh Bộ Thượng Thư, tước Nhân Uyên Hầu. Ông là sử gia đầu tiên của Việt Nam , làm bộ Đại Việt Sử Kư gồm 30 quyển chép từ Triệu Vũ Đế (207 tr. C.N.) tới Lư Chiêu Hoàng (1224).
Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn): có công 3 lần thắng Mông Cổ, được vua nhà Trần phong làm Thái Sư, Thượng Phụ, Thượng Quốc Công, B́nh Bắc Đại Nguyên Súy, Hưng Đạo Đại Vương, được vua lập sinh từ (thờ từ lúc c̣n sống) ở Vạn Kiếp.
Hàn Nguyễn Thuyên: người Thanh Lâm tỉnh Hải Dương, làm H́nh Bộ Thượng Thư đời Trần Nhân Tông, dùng chữ Nôm làm thơ phú đầu tiên, "Bài Văn Tế Cá Sấu", tương tự như Hàn Dũ đời Đường nên được nhà vua đổi thành Hàn Thuyên.
Lê Thái Tổ (Lê Lợi): khởi nghĩa ở Lam Sơn chống quân Minh trong 10 năm (1418-1427), lập nên triều Lê (1428-1788).
Hồng Đức: niên hiệu thứ hai của vua Lê Thánh Tông (1460-1497), vị anh quân của triều Lê, vua thứ 4, tạo nên một triều đại cực thịnh trên cả hai phương diê䮠vơ công lẫn văn trị.
cương thường: gồm hai chữ Tam Cương (ba giềng mối lớn ràng buộc loài người: vợ chồng, cha con, vua tôi) và Ngũ Thường (những nguyên tắc, tiêu chuẩn của nhân luân để giàng giữ con người vào xă hội).
đề cương: những đề mục chính, những nét chủ yếu cần phải nghiên cứu tỏ bày một cách sâu xa và toàn diện trong một lănh vực nào đó.
thế hệ: là một lớp người cùng sinh ra và sống trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, cùng chịu ảnh hưởng của những biến động xă hội nên thường có những đặc điểm tương đồng về tư tưởng và hành động. Nghĩa chữ của Thế Hệ là được nối kết v́ cùng sinh sống trong một giai đoạn. Thời gian của một thế hệ thường được tính là 30 năm.
phục hoạt: là sự sống lại của một thực thể đă chết, sự hoạt động trở lại của một thực thể tưởng như đă chết từ lâu.
vận hành: đi theo chu kỳ nhất định không ngừng nghỉ, gián đoạn.
khí tiết: là gồm hai chữ chí khí và tiết tháo, những đặc tính của mẫu người công chính đă dày công hàm dưỡng.
Chu Văn An: danh nho thời vua Trần Dụ Tông (1341-1369), dâng Thất Trảm Sớ nhưng không được vua nghe theo nên từ quan bỏ về Chí Linh.
mô phạm: là cái khuôn thước, mẫu mực được chấp nhận là tiêu chuẩn để mọi người noi theo mà hành xử trong mọi trường hợp.
hủ bại: là hư hỏng, mục nát, dùng để chỉ những người đă lỗi thời, cố chấp, ngoan cố nên làm cản đà tiến hóa chung của tập thể.
dị đoan: nghĩa chữ là đầu mối khác lạ, không giống với cái thường có. Nghĩa rộng nói tới những tín ngưỡng làm con người u mê, sa đọa, ĺa xa nhân đạo.
vô lậu quốc pḥng: một nền quốc pḥng lư tưởng, không một kẽ hở để ngoại nhân có thể len vào hoạt động phá hoại. Toàn thể nhân dân đă được "đảng hóa" trong tư tưởng và hành động, v́ toàn thể những mầm móng, cơ duyên mà địch có thể lợi dụng đều đă được thanh toán.