Mạnh Tử và Chủ Trương Dân Vi Quý 

(Trích từ  Diển Đàn Dân Chủ - Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.)

Tương tự như Khổng Tử, Mạnh Tử cũng theo chiều hướng tôn quân; tuy nhiên, ông vua của Mạnh Tử không quan trọng bằng nhân dân và quốc gia cho nên có thể bị thay đổi nếu vô tài đức hay xử sự thiếu nhân nghĩa. Theo ông, 'dân là quý, quốc gia là thứ, vua là nhẹ, cho nên được lòng dân rồi mới làm thiên tử'. Ðặc tính tôn trọng dân quyền trong sách lược quốc trị của Mạnh Tử là điểm khác biệt căn bản so với triết thuyết trị quốc của Khổng Tử. Bị ảnh hưởng của chủ nghĩa cá nhân cực đoan (Dương Chu), chủ nghĩa thực lợi (Mặc Tử), và chủ nghĩa vô vi (Lão Tử) cũng như các minh ý tôn trọng cá nhân trong sách Ðại Học và Trung Dung, Mạnh Tử nêu cao vai trò của nhân dân trong sách lược quốc trị của ông. Nhân dân được đưa vào địa vị quan trọng nhất rồi mới đến quốc gia và sau cùng là giới lãnh đạo. Y¨ trời là theo ý dân; dân có thuận thì người làm chính trị mới được tấn phong vào vai trò lãnh đạo quốc gia. 

''Vạn Chương hỏi: 'Nghiêu đem thiên hạ cho Thuấn, việc ấy có không?' Mạnh Tử trả lời: 'Không. Thiên tử không đem thiên hạ cho người khác được.' (Lại hỏi:) 'Vậy nguyên tắc nào mà Thuấn được thiên hạ?' Trả lời: 'Do trời cho.' (Lại hỏi:) Trời cho, có nghĩa là bảo rõ ràng hay sao?' Trả lời: 'Không. Trời không lời, (mà) chỉ lấy đức hạnh và sự nghiệp mà bày tỏ ra.' 
(Lại hỏi:) 'Lấy đức hạnh và sự nghiệp mà bày tỏ ra như thế nào?' Trả lời: 'Thiên tử có thể tiến cử một người nào với trời, (nhưng) không thể bắt trời đem thiên hạ cho người đó, cũng như chư hầu có thể tiến cứ một người nào với Thiên tử mà không thể bắt Thiên tử cho người đó làm vua chư hầu được, cũng như đạo phu có thể tiến cử một người nào đó với vua chư hầu mà không thể buộc vua chư hầu cho người đó làm đại phu được. Xưa Nghiêu tiến cử Thuấn với trời, mà trời nhận, giới thiệu với dân mà dân thuận, cho nên ta bảo: trời không nói, chỉ lấy đức hạnh cùng sự nghiệp mà tỏ ra thôi.' 
(Lại hỏi:) 'Tiến cử với trời mà trời nhận, giới thiệu với dân mà dân nhận là làm sao?' Trả lời: 'Sai người đó làm chủ tế mà bách thần hưởng, thế là trời nhận; sai người đó chủ trương công việc mà việc thành, trăm họ vừa ý, thế là nhân dân nhận..'' 

           Chủ trương 'Dân vi quý' của Mạnh Tử đòi hỏi giai cấp lãnh đạo phải chú tâm lo cho nhân dân được ấm no hạnh phúc. Vua phải biết 'vui cái vui của dân thì dân mới vui cái vui của vua, lo cái lo của dân thì dân mới lo cái lo của vua; vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo thì không làm vua là chưa đến mà thôi.' Vua phải chăm lo cho nhân dân 'có tài sản để đủ thờ cha mẹ, nuôi vợ con, sung túc khi được mùa nhưng không phải chết đói khi mất mùa; nếu được như thế thì khi vua khuyên làm lành, nhân dân nhất định sẽ làm điều lành.' Vua phải biết rằng nhân dân có lòng tốt khi có tài sản, không có lòng tốt khi không có tài sản; mà nếu nhân dân không có lòng tốt thì họ sinh ra phóng đãng, chậm trễ, gian tà, không từ chối làm bất cứ việc gì (dầu tệ hại tới mức nào đi nữa). 

Mạnh Tử chủ trương đức trị hơn là pháp trị. Theo ông, nếu vua bỏ qua điều lợi mà chỉ dùng nhân nghĩa để quản thống quốc sự thì ít khi cần dùng đến luật pháp. Nếu vua không dạy cho nhân dân về đạo đức và không lấy nhân nghĩa làm căn bản khi thi hành quốc sự thì nếu nhân dân phạm tội mà vua sử dụng luật pháp để trừng trị thì không khác gì vua giăng lưới để lừa nhân dân. Ðiểm đặc biệt là Mạnh Tử quan niệm rằng, mặc dầu dùng nhân nghĩa để trị nước, nhưng khi phải áp dụng luật pháp thì vua không thể thiếu công bằng. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, kể cả thân tộc của vua. 

'Ðào Ư¨ng hỏi: 'Vua Thuấn là thiên tử, ông Cao Dao phụ trách về hình phạt, nếu ông Cổ Tấu (cha vua Thuấn) giết người thì xử cách nào? 
Mạnh Tử trả lời: 'Cứ theo phép mà thi hành chớ có gì đâu.' 
(Ðào Ư¨ng hỏi:) 'Vậy vua Thuấn không cấm ư? 
Trả lời: 'Vua Thuấn cấm sao được. Phép truyền thụ từ đời này qua đời kia là phép công mà.' 

            Mạnh Tử quan niệm rằng lãnh tụ quốc gia phải lấy nhân nghĩa làm căn bản khi quản thống quốc sự. Theo ông, nếu giới lãnh đạo quốc gia không lấy nhân nghĩa làm tiêu chuẩn hành sự mà lại bám vào lợi lộc thì quốc gia tất sẽ trở nên loạn. Nếu lãnh tụ quốc gia chỉ chú trọng đến quyền lợi thì quan tướng cũng chỉ nhắm vào việc có lợi cho gia đình hay dòng họ, và nhân dân sẽ bám vào các việc có lợi cho bản thân của họ; như thế thì ai cũng chỉ biết đến lợi lộc riêng mà bỏ qua nhân nghĩa khiến quốc gia có thể bị nguy hiểm. 

Mạnh Tử muốn áp dụng đạo nhân nghĩa vào mọi việc kể cả quan hệ đối ngoại để tránh chiến tranh tương tàn, dân tình loạn lạc. Ông từng khuyên Tống Hình - vốn muốn lấy điều lợi hại để khuyên Tần và Sở từ bỏ việc tranh chấp quân sự - như sau: 

'Nếu ông dùng điều lợi mà khuyên vua Tần và vua Sở thì hai người này sẽ không tiếp tục đánh nhau vì lợi; nhưng nếu mọi người đều ham lợi thì tôi thần thờ vua chỉ vì bụng dạ tham lợi, con thờ cha chỉ vì bụng dạ tham lợi, em thờ anh chỉ vì bụng dạ tham lợi. Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ nhân nghĩa mà chỉ dùng bụng dạ tham lợi mà đối xử với nhau, như vậy quốc gia chưa mất là việc chưa xảy ra mà thôi. (Nhưng) nếu lấy nhân nghĩa để mà bàn bạc thì tôi thần thờ vua vì nhân nghĩa, con thờ cha vì nhân nghĩa, em thờ anh vì nhân nghĩa. Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi mà lấy nhân nghĩa để đối xử với nhau, như vậy mà chưa trị được thiên hạ là việc chưa xảy ra mà thôi. Vì thế cho nên (ông) không cần phải bàn bạc (với Tần và Sở) về điều lợi'. 

       Tinh thần chống lại chiến tranh nhằm an định xã hội của Mạnh Tử kết tội bất cứ ai chủ trương hay có khả năng gây ra chiến tranh: 'Có người (tự hào): Ta giỏi bày trận, ta giỏi đánh giặc. (Mạnh Tử phê bình) Như thế là trọng tội'. Theo ông, đánh nhau để lấy đất, giết người để cướp ruộng đồng, xua quân để đoạt thành, sát nhân đầy thành như thế là 'đem đất ăn thịt người,' tội này đem xử tử còn chưa hết tội; vì vậy cho nên kẻ thiện chiến thì phải chịu thượng hình (trọng tội), kẻ liên hợp chư hầu để đánh nhau thì phải chịu tội thứ, kẻ bắt dân đi khai hoang rừng rậm để lấy ruộng đất thì phải chịu tội thứ kế tiếp. Lãnh tụ quốc gia anh minh phải cố gắng tránh gây chiến sự, sát nhân vô tội; nếu thi hành nhân nghĩa và không sát nhân thì có thể thống nhất thiên hạ.

'Khi thống nhất thiên hạ thì yên định được thiên hạ.. Ai không thích giết người thì thống nhất được thiên hạ.. Hiện nay trong thiên hạ chẳng có bậc chăn dân nào mà chẳng ham sát nhân. Nếu có một vị vua không sát nhân thì chắc chắn thiên hạ quay đầu hướng về vị đó.' 

           Khi chọn lấy nhân nghĩa làm nền tảng cho việc quản thống quốc sự, giới lãnh đạo phải chú trọng vào vấn đề giáo dục cho nhân dân thấm nhuần nhân nghĩa. Lãnh tụ quốc gia đời trước đã biết tổ chức trường ốc, học viện để dạy dân về luân lý hầu nhân dân biết thương yêu lẫn nhau và tường tận về lễ giáo; do đó khi quản thống quốc sự thế hệ hậu sinh phải biết an ủi vỗ về nhân dân, tu chính lòng tín ngưỡng và đức tin của nhân dân, giúp đỡ che chở nhân dân; làm được như vậy thì chính mình được vui về đạo (nhân) mà còn giúp chấn hưng đạo đức của nhân dân. Xã hội nhân nghĩa phải có tôn ti trật tự; tất cả các thành phần công dân đều được bình đẳng như nhau bởi vì ai sinh ra cũng có thiện tính, nhưng những người có đạo đức lớn và tài trí hơn người thì được kính trọng theo đúng đạo trời.

'Thiên hạ có ba bậc đáng tôn trọng: tước, tuổi và đức. Ở triều đình không có gì đáng tôn trọng bằng tước, ở hương đảng không gì đáng tôn trọng bằng tuổi, giúp đời mà trị dân không gì bằng đức.' 

        Luật trời đất là 'thuận đạo (luật) trời là còn, trái đạo trời là mất.' Ðạo (luật) trời quy định rõ ràng là nếu thiên hạ mà có đạo thì người có đức nhỏ phục dịch người có đức lớn, người có hiền tâm nhỏ phục dịch người có hiền tâm lớn; nhưng nếu thiên hạ không có đạo thì kẻ nhỏ làm tôi tớ kẻ lớn, kẻ yếu làm tôi tớ kẻ mạnh. Do đó lãnh tụ quốc gia phải chú trọng nhân nghĩa và giáo dục nhân dân về đạo lý; quốc gia không có đạo thì người trên không có lễ, người dưới không có học, tình trạng vô lễ nghĩa sẽ bắc cầu cho giặc đến và đất nước chắc chắn bị mất. 

Lãnh tụ quốc gia muốn xây dựng đất nước hùng cường thì phải biết dùng đức để cảm hóa nhân dân, quý mến kẻ có đức, tôn trọng người có học thức; người hiền ở ngôi báu, kẻ giỏi có chức tước thì nước nhà mới nhàn hạ hầu có thể cập nhật hóa luật pháp, chính trị. Nếu lãnh tụ không tin và không cầu hiền thì quốc gia sẽ trở nên trống rỗng (mất đi nhân tài), không biết trọng dụng lễ nghĩa thì nội sự trên dưới sẽ loạn, chính trị không anh minh thì tài sản (quốc gia) bao nhiêu cũng tiêu tán hết. 

Làm vua thì phải làm hết đạo vua, làm tôi thần thì phải làm hết đạo tôi thần (hai điều này chỉ bắt chước vua Nghiêu, vua Thuấn mà thôi. Không theo cách vua Thuấn thờ vua Nghiêu là không kính trọng vua, không theo cách vua Nghiêu trị dân là hại dân). Vua phải biết đối xử với tôi thần như chân tay thì tôi thần kính trọng vua như bụng như lòng; nhưng nếu vua đối xử với tôi thần như chó ngựa thì tôi thần chỉ xem vua như người đồng hương, và nếu vua đối xử với tôi thần như đất cỏ thì tôi thần xem vua như kẻ thù. 

'Làm vua một nước mà muốn đặt người hiền ở dưới thấp lên cao thì phải cẩn thận lắm, như bị quốc dân bắt buộc vậy. Muốn dùng một người nào mà hỏi tả hữu bên mình, ai cũng bảo người đó hiền, như vậy chưa được; hỏi các đại phu, các đại phu đều bảo người đó hiền, như vậy vẫn chưa được; khi toàn thể quốc dân đều bảo người đó hiền, lúc đó mới xét, xét xong mà thấy người đó quả là hiền thì mới dùng.' 

        Trong khi đó, tôi thần thờ vua thì phải biết khuyên nhủ hướng dẫn vua theo chiều hướng nhân nghĩa và không lơi là việc bảo quốc ngay cả trong thời bình [vạ với phúc đều là tự mình cầu lấy cả; khi quốc gia nhàn hạ mà vui chơi lười biếng thì tự cầu lấy cái vạ (mất nước)]. Phận làm tôi theo nhân nghĩa chỉ giúp cho vua theo đạo chứ không phải làm giàu cho vua. Vua không theo đạo, không chú tâm làm điều nhân mà (tôi thần) lại theo giúp cho vua làm giàu tức là làm giàu cho (ông vua tàn bạo) Kiệt. 
Lãnh tụ mà hại người thì bị gọi là tặc, hại nghĩa thì bị gọi là tàn. Kẻ tàn tặc là một kẻ không ra gì (không đáng được gọi là vua [Ta - Mạnh Tử - nghe nói giết một đứa Trụ nhưng chưa nghe nói giết vua vậy]). Nếu vua vô đạo đức mà không bị luật pháp kiềm chế thì dân có quyền nổi dậy làm cách mạng để lật đổ hay không? Mặc dầu cũng chủ trương tôn quân như Khổng Tử, Mạnh Tử chỉ tôn trọng những ông vua tài đức nhân nghĩa cho nên ai tài đức nhân nghĩa đều có thể thay thế những tên 'tàn tặc' để nắm lấy thiên hạ. Như đã bàn ở trên, Mạnh Tử suy luận rằng 'dân là quý, quốc gia là thứ, vua là nhẹ'. Nhân dân được đưa vào vai trò quan trọng nhất rồi mới đến quốc gia và sau cùng là giới lãnh đạo. Vua không ra vua lại vô tài bất nghĩa, không lo cho dân mà chỉ biết hưởng thụ thì người tài đức có thể thay thế để chăm lo quốc sự nhằm an dân và làm rạng rỡ nhân nghĩa. 
Mặc dầu Mạnh Tử chủ trương là hôn quân bạo ngược, bất tài và vô nhân nên được thay thế, nhưng ông chỉ cho phép những bậc 'thiên lại' (người được trời hướng dẫn) làm cách mạng để canh tân chính quyền. Ông không định nghĩa tư cách của bậc 'thiên lại' nhưng chắc chắn là người có khả năng làm theo ý trời (thuận đạo trời) - mà ý trời là theo dân. 

''Nước Tề chinh phạt Yên quốc. Hoặc vấn: 'Có phải ông khuyên Tề phạt Yên?' [Mạnh Tử] trả lời: 'Không vậy. (Quan Tề) Thẩm Ðồng hỏi tôi có nên phạt Yên? Tôi nói nên. Nhân đó vua Tề xua binh đánh Yên. Nếu Thẩm Ðồng hỏi thêm là 'Ai có quyền phạt nước ấy?' thì tôi tất phải nói là chỉ có bậc thiên lại mới có quyền phạt Yên.'' 

Theo Mạnh Tử, trong lớp người lãnh đạo có hạng Vương và Bá. Người dùng sức mạnh để làm điều nhân là Bá; Bá nhân cần đến quốc gia lớn bởi vì phải dùng sức mạnh để khiến thiên hạ sợ hãi. Ngược lại, người lấy đức làm điều nhân được gọi là Vương; Vương nhân không cần đến đại quốc với binh hùng tướng mạnh bởi vì có thể dùng đức để cảm hóa thiên hạ. Sức mạnh binh quân khiến dân sợ hãi Bá nhân, nhưng đạo đức anh minh khiến dân yêu mến và thành tâm kính phục Vương nhân. 

Muốn nắm giữ vương vị để thay thế kẻ 'tàn tặc' thì phải biết phát chính (chính trị anh minh), 'thi hành việc nhân nghĩa khiến ai làm quan cũng muốn triều phục, nông dân thì muốn trồng trọt trong lãnh thổ của vương, thương nhân muốn buôn bán tại chợ của vương, lữ khách muốn sử dụng quan lộ của vương; làm được như vậy thì có thể nắm lấy thiên hạ.' 

.......... Dương Thành Lợi: Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương, tr.69-99