John Stuart Mill và Tự Do Luận
(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.)
John Stuart Mill là con của James Mill, một người bạn tri kỷ của Bentham. Mill trưởng thành trong một xã hội bị hủ hóa bởi các kết quả bất công của nền kinh tế tự do. Một số triết gia chủ chương tự do kinh doanh trong đó có các học giả phái Hữu Dụng bắt đầu chuyển hướng đòi hỏi chính quyền phải can thiệp vào thương trường để giảm thiểu sự bất công trong xã hội. Trong cuộc thảo luận về sự tự do của con người và quyền hạng của chính quyền, Mill là một triết gia ưu tư về số phận của con người khi bị chính quyền và xã hội kiểm soát. Theo ông, xã hội còn có thể đàn áp con người một cách tàn bạo hơn là chính quyền. Ưu tư của Mill được ông nêu ra với những phương pháp giải quyết sáng suốt trong các tác phẩm của ông. Chủ nghĩa Hữu Dụng đã được Mill canh tân hoàn toàn; thế hệ sau này có thể nói là chủ nghĩa Hữu Dụng đã trưởng thành với các tư tưởng độc đáo đặc biệt qua ngòi bút của Mill.
Khi bàn về liên hệ giữa chính quyền và công dân, Mill không những nói đến các ưu điểm mà còn nhận diện sự nguy hiểm của chính thể dân chủ thông thường. Trong tác phẩm Chính Quyền Ðại Diện, Mill suy luận rằng chính thể Dân Chủ là cơ chế chính trị tốt đẹp nhất của nhân loại bởi vì nó có khả năng giúp cho con người được hoàn mỹ [chứ không chỉ để đạt hạnh phúc thôi như lối lý luận cũ của trường phái Hữu Dụng]. Trong một quốc gia dân chủ, tất cả công dân có quyền tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và, nếu họ hiểu được là quyền lợi cá nhân luôn luôn song hành với quyền lợi quốc gia, họ sẽ hành động một cách có lợi cho quốc gia trong tinh thần trách nhiệm.
Tuy vậy, nhân loại ít ai có khả năng hiểu biết là quyền lợi riêng tư dính liền với quyền lợi quốc gia; vì thế, chính quyền cần phải hướng dẫn cũng như cưỡng ép công dân sinh hoạt một cách có lợi cho quyền lợi chính đáng. Tuy nhiên nhu cầu hướng dẫn công dân không có nghĩa là quốc gia phải có chính thể quý tộc trị (hay cơ chế chính trị do một nhóm thông thái cai trị). Theo Mill, công dân phải được đóng góp vào việc quản trị quốc sự; ông không chấp nhận một chế độ độc tài bởi vì nó tiêu hủy quyền tự do của công dân. Câu hỏi ở đây là cơ chế chính trị nào có thể giải quyết các khó khăn được nêu ra? Mill đưa ra mô hình chính quyền đại diện với những cơ chế mới mẻ hơn mô hình của Bentham để giải quyết bài toán khó khăn này.
Cơ chế chính quyền đại diện của Mill có ba thành phần: công dân, đại biểu, và cơ quan nghiên cứu chính sách quốc gia. Nhân dân có vai trò chọn lựa đại biểu của họ qua việc tranh cử và bầu cử. Tiến trình vận động bầu cử bao gồm các cuộc thảo luận, phê bình cũng như giáo dục (thông tri), v.v., để công dân có thể đánh giá được các ứng cử viên. Công dân không những có quyền bầu lên các vị đại biểu mà còn có thể cách chức các vị đại biểu nếu họ (công dân) không hài lòng với các chính sách quốc gia.
Thành phần đại biểu giữ vai trò quản trị quốc sự và, để hoàn thành trọng trách được giao phó, thành phần này cần đến sự giúp đỡ của cơ quan nghiên cứu chính sách quốc gia bao gồm các học giả uyên bác trong lãnh vực riêng của họ. Các chuyên gia của cơ quan nghiên cứu chính sách quốc gia được đại biểu nhân dân chỉ định; và dĩ nhiên, họ cũng có thể bị cách chức bởi đại biểu nhân dân. Với khả năng chuyên môn, các chuyên gia sẽ đệ trình cho thành phần đại biểu những dự luật có lợi cho quốc gia; tuy vậy, các nhà chuyên môn này không có quyền lập pháp hay có thể ảnh hưởng ngành lập pháp. Các đại biểu nhân dân có nhiệm vụ bàn luận và chấp thuận hay phủ quyết các dự luật (lập pháp); song song, thành phần đại biểu còn có trách nhiệm phải giải thích và giáo dục cử tri về pháp luật.
Chính quyền đại diện của Mill không những thể hiện được nguyên lý dân chủ căn bản mà còn bảo đảm là quốc gia có thể sử dụng được các bộ óc thông thái nhất của dân tộc để lo cho quyền lợi đất nước: công dân giữ quyền kiểm soát thành phần lãnh đạo quốc gia (ngành lập pháp) trong khi những nhân vật có tài nhất của quốc gia được đóng góp vào chính sách quốc gia nhưng không thể kiểm soát ngành lập pháp. Mặc dầu quốc gia có thể xây dựng được chính thể dân chủ đại diện, xã hội cũng chưa hẳn có thể trở nên công bằng hoàn toàn bởi vì thành phần thiểu số trong xã hội có thể bị đa số đàn áp. Quy tắc thiểu số phục tùng đa số có thể biến chế độ dân chủ thành một chính thể đa số bạo ngược (majoritarian tyranny). Trong một chế độ dân chủ, một đảng phái được đa số công dân ủng hộ có thể nắm quyền tuyệt đối. Theo Mill, bất cứ nhóm lãnh đạo nào cũng có khuynh hướng phục vụ cho quyền lợi của nhóm - đa số; và như vậy, thiểu số công dân ủng hộ đảng đối lập có thể bị thiệt thòi. Ðể ngăn ngừa khuynh hướng phục vụ quyền lợi của bè lũ, Mill suy luận rằng quốc gia nên có một đảng chính trị thứ ba nhằm làm quân bình quyền lực chính trị trong nước. Ðảng chính trị thứ ba này có thể kiểm soát một số ghế trong Quốc Hội để không cho một trong hai đảng kia có thể nắm đa số ghế. Cách thứ hai để giải quyết tệ nạn này là, theo Mill, cơ chế chính quyền dân chủ đại diện phải bảo đảm cho đảng đối lập thất cử với thiểu số cử tri có cơ hội nắm quyền. Ðảng chính trị đang cầm quyền không được phép có những hành động ngăn cản sự thay đổi chính quyền một cách hợp pháp và hòa bình; quyền tự do ngôn luận, phê bình, bày tỏ quan điểm chính trị, v.v., không thể bị ngăn cấm. Các quyền tự do của công dân được Mill phân tích kỹ lưỡng trong tác phẩm Tự Do Luận - tác phẩm vĩ đại nhất của ông.
Trong Tự Do Luận, Mill quan tâm đến các tương quan giữa con người và xã hội - đặc biệt là xã hội kỹ nghệ hóa. Sự xung đột giữa quyền tự do của con người và quyền lực của chính phủ có thể được Hiến Pháp kiểm soát một cách rõ ràng. Tuy nhiên sự xung đột giữa quyền tự do của con người và áp lực của xã hội không được phơi bày rõ ràng, nhưng ảnh hưởng của sự xung đột này cũng có thể trở nên vô cùng tàn bạo và khó giải quyết. Xã hội bị dư luận ảnh hưởng cho nên có thể đưa ra những tiêu chuẩn cư xử, quan niệm sống, v.v., theo ý nguyện của đa số công dân và bắt buộc thiểu số công dân phải chấp nhận với các đe dọa đàn áp. Xã hội có thể trở thành một chính thể bạo ngược vô hình mà không cần đến thực quyền của chính phủ; xã hội bạo ngược theo đa số có thể bắt buộc mọi người sống và cư xử theo một số quy tắc định sẵn, và bất cứ ai có những hành động không phù hợp với các quy tắc này sẽ bị trừng phạt. Một khi xã hội đã quy định các nguyên tắc sinh hoạt dựa theo ý kiến của đa số công dân, xã hội cung cấp cho các nguyên tắc này màu sắc đạo đức của đa số công dân để xã hội có uy quyền bắt buộc thiểu số phải phục tùng đa số. Một cá nhân không thể được hoàn toàn tự do trong bất cứ xã hội nào cho nên vấn đề quan trọng là tìm cho ra lằn ranh phân định giữa quyền tự do bất khả xâm phạm của công dân và các giới hạn quyền hành mà xã hội có thể sử dụng để quy định sự tự do của công dân. Theo Mill, tiêu chuẩn duy nhất để suy xét tất cả các xung đột giữa quyền tự do của con người và áp lực của xã hội là tiêu chuẩn tự vệ (self-protection). Mục đích tự vệ là mục đích duy nhất cho phép nhân loại xâm phạm quyền tự do của một hay vài cá nhân; mục đích chính đáng duy nhất để sử dụng uy quyền hầu ngăn cản một cá nhân hành động theo ý riêng trong xã hội văn minh là phòng ngừa thiệt hại cho người khác; ngoài ra những mục đích khác như vì quyền lợi xã hội, vì đạo đức luân lý, v.v., không phải là mục đích chính đáng để giới hạn sự tự do của con người. (The sole end for which mankind are warranted, individually or collectively, in interfering with the liberty of action of any of their number is self-protection. That the only purpose for which power can be rightfully exercised over any member of a civilized community, against his will, is to prevent harm to others. His own good, either physical or moral, is not a sufficient warrant.)
Xã hội hay chính quyền chỉ có thể ngăn cản một công dân hành động theo ý riêng nếu hành động của đương sự này sẽ chắc chắn gây nguy hiểm (clear and present danger) cho những công dân khác. Nếu sự hiểm nghèo không có thực mà chỉ là những suy đoán mông lung, xã hội hay chính quyền không thể ngăn cản các hành động tự do của một công dân. Ngay cả khi một số hành động tự do có thể gây thiệt hại cho xã hội, Mill quan niệm rằng một số quyền tự do nên được xã hội bảo đảm: tự do suy luận (opinion), tự do sống theo ý riêng (tastes and pursuits), và tự do liên kết (association). Theo Mill, quyền tự do suy luận (freedom of opinion) là quyền tự do tuyệt đối bất khả xâm phạm trong khi hai quyền tự do kia vẫn có thể bị giới hạn nếu mang đến các hậu quả nguy hiểm cho những công dân khác. (It comprises, first, the inward domain of consciousness; demanding liberty of conscience in the most comprehensive sense; liberty of thought and feeling; absolute freedom of opinion and sentiment on all subjects, practical or speculative, scientific, moral, or theological... Secondly, the principle requires liberty of tastes and pursuits; of framing the plan of our life to suit our own character; of doing as we like, subject to such consequences as may follow: without impediment from our fellow-creatures, so long as what we do does not harm them, even though they should think our conduct foolish, perverse, or wrong. Thirdly, from this liberty of each individual, follows the liberty, within the same limits, of combination among individuals; freedom to unite, for any purpose not involving harm to others.)
Quyền tự do suy luận mà Mill đề cập đến không chỉ bao gồm quyền tự do suy nghĩ mà còn bao gồm quyền tự do phổ biến tư tưởng cá nhân cho những công dân khác biết (tự do ngôn luận). Mill quan niệm rằng quyền tự do suy luận phải được bảo đảm tuyệt đối, và xã hội không thể xâm phạm quyền tự do này. Hành động cấm đoán quyền tự do suy luận là hành động cướp giật của nhân loại cơ hội tìm hiểu sự thật. Một tư tưởng đúng mà bị cấm đoán thì xã hội sẽ bị thất thiệt; trong khi đó, một tư tưởng sai mà bị cấm đoán thì nhân loại mất đi cơ hội nhận thức được chân giá trị của sự thật vốn đến từ sự xung đột giữa các tư tưởng. Sự thật cũng thường thay đổi; những gì đúng trong thực trạng hôm nay chưa chắc sẽ mãi mãi đúng trong tương lai với những bối cảnh mới. Vì vậy, những ý kiến đối chọi với sự thật của hôm nay có thể trở thành sự thật trong tương lai. Trong quá khứ, nhiều sự thật đã bị chôn vùi bởi vì xã hội không chấp nhận các ý kiến tương phản với tư tưởng và phép tắc hiện hành.
Nhân loại không thể chấp nhận hành động cấm đoán các tư tưởng đối lập dựa trên giả thuyết là tư tưởng hiện hành không thể sai bởi vì nhân loại không ai có thể biết hoàn toàn sự thật cũng như không ai có thể tuyệt đối không bao giờ sai trái. Sự thật phải được thử thách bởi các ý kiến đối lập, và nhờ đó mà giá trị của sự thật mới được sáng lạng hơn. Xã hội không nên ngăn cấm quyền tự do suy luận của công dân mà còn nên khuyến khích công dân suy nghĩ một cách tự do và sáng tạo để giúp cho xã hội được tiến bộ. Nếu một công dân mang tư tưởng đối lập cực đoan bị đàn áp, những công dân khác có ý kiến cải cách tốt đẹp hơn sẽ không dám bày tỏ ý kiến riêng tư; đây là một thiệt thòi lớn cho xã hội văn minh.
. . . . . . . . . . Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 224-231