Socrates và Plato với Chủ Thuyết Cộng Hòa cùng vai trò của Chính Khách và Luật Pháp 

(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

Socrates 

Ðại triết gia Socrates (? - 300 t.T.L.) là một trong những người tấn công chính thể dân trị của tiểu quốc Athens. Như đã bàn ở trên, nền dân chủ Athens phải đối đầu với nhiều thử thách và các yếu điểm của chế độ dân chủ đơn sơ đã bị bộc lộ qua các thử thách này. Ngoại nhân gian trá biết lợi dụng các khuyết điểm của chính thể dân chủ để chiếm đóng Athens; trong khi đó, thay vì cải cách cơ chế dân chủ, dân Athens lại quyết định dẹp bỏ chế độ dân trị với bước đầu tiên là giải tán Quốc Hội. Sự thất thủ của Athens đã khiến nhiều công dân đưa ra ý kiến đánh phá chế độ dân chủ. Mặc dầu tư tưởng của Socrates bị trói buộc trong khuôn khổ của tiểu quốc Athens với dân số ít và diện tích cai trị tương đối nhỏ, tư tưởng của ông về vấn đề quốc trị vẫn có những ý niệm độc đáo đáng cho chúng ta nghiên cứu (thí dụ: Dựa trên căn bản nào mà một người dân nghèo không có học đòi quyền lãnh đạo quốc gia với các vấn đề phức tạp cần đến khả năng chuyên môn? Các triết gia theo trường phái dân chủ tự do phải trả lời câu hỏi này thỏa đáng trước khi có thể bàn sâu về mô hình chính trị dân chủ). 

  Socrates quan niệm rằng linh hồn tồn tại mãi mãi và trong đời sống hiện tại con người phải cố gắng bồi dưỡng linh hồn bằng đời sống đạo đức. Muốn như vậy con người phải sống theo các tiêu chuẩn hợp lý. (Nhiều học giả cho là tư tưởng của Socrates đã dọn đường cho đạo Thiên Chúa vào Âu châu). Ông suy luận rằng đạo đức là kiến thức có thể được tìm ra, truyền đạt và học hỏi (virtue is knowledge, that is discoverable, and that it can be taught and learned). Ông ta có một lối đi tìm sự thật độc đáo đó là cách đưa ra các câu hỏi đả kích những quan niệm hiện hành và yêu cầu tác giả (của những quan niệm này) trả lời một cách mạch lạc. Ðối với Socrates, nhân loại cần phải tìm đến tận gốc rễ của sự việc để phát giác sự thật hầu đạt được kiến thức; và như đã nói ở trên, kiến thức biểu hiện cho đạo đức. Kiến thức không phải là học thức bởi vì nhiều người cắp sách đến trường hàng chục năm cũng phải cứng họng trước các câu hỏi thông thái và hợp lý của Socrates. Chính thái độ thẳng thắng đặt câu hỏi để tìm hiểu sự thật đã gây ra nhiều hận thù và bắt cầu đưa đến cái chết của Socrates.   Vì tin tưởng rằng kiến thức sẽ giúp cho nhân loại thăng tiến, Socrates tấn công chính thể dân chủ của Athens vốn đặt trọng trách quốc trị vào tay toàn dân mà đa số công dân lại thiếu vốn liếng kiến thức cần thiết để quản trị quốc sự. Xã hội chỉ có một thiểu số công dân đạt được kiến thức cao cho nên chính thể dân chủ đã bị đa số thiếu kiến thức - tức là thiếu đức hạnh - nắm quyền lãnh đạo. Ðối với Socrates, những công dân thiếu kiến thức không có khả năng lèo láy quốc gia. Dựa trên căn bản nào mà những kẻ thiếu kiến thức, thiếu đức hạnh đòi được nắm chính quyền để giải quyết các vấn đề quốc gia quan trọng? Socrates kết luận là chế độ dân chủ thật không công bằng. Ông khinh tởm tất cả những gì liên quan đến chính thể dân chủ như Quốc Hội và tòa án nhân dân. 

  Chính vì Socrates thẳng tay phỉ báng nền dân chủ của Athens cho nên ông bị kết án phá hoại quốc gia. Ông có thể trốn chạy khỏi Athens để tránh bản án do tòa án nhân dân phán nhưng ông quyết định không làm như vậy. Socrates quan niệm rằng ông là công dân của Athens, ông đã nhận được nhiều quyền lợi công dân mà tiểu quốc Athens đem đến cho toàn dân; vì vậy, ông phải chấp nhận sự trừng trị của pháp luật Athens mặc dầu ông tin là pháp luật Athens không công bằng vì do những công dân thiếu kiến thức lập ra. 

  Socrates bị một bồi thẩm đoàn tuyên xử là phạm tội và họ cho ông quyền chọn lựa giữa cái chết và lời tuyên thệ là ông sẽ không tiếp tục phỉ báng nền dân chủ Athens. Socrates chọn cái chết bởi vì, theo ông, con người phải nói lên sự thật bất kể cái giá phải trả. Khi trách nhiệm nói lên sự thật va chạm với trách nhiệm (công dân) đối với chế độ, Socrates sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để ông có thể sống với lương tâm và với sự thật hay chân lý. 

  Tư tưởng và hành động của Socrates cho chúng ta nhiều bài học quý giá. Ông chỉ ra những khuyết điểm của chế độ dân chủ để nhân loại tìm kiếm cách chế ngự. Ông tuyệt đối tôn trọng luật pháp và chính cái chết của ông đã giúp cho nguyên lý pháp trị (the rule of law) nẩy nở và trở thành một trong những nguyên tắc căn bản của thể chế dân chủ hiện nay. Khuyết điểm của Socrates là ông chỉ chú trọng vào một số yếu điểm của chính thể dân chủ Athens để đả phá nó. Nếu Socrates sinh trưởng vào thời đại hôm nay và thấy được các ưu điểm cũng như phương pháp chế ngự những yếu điểm của nền dân chủ, có lẽ ông sẽ thay đổi quan niệm phi dân chủ của ông. 

Plato và Chủ Thuyết Cộng Hòa 

  Nhân loại biết về Socrates và tư tưởng của ông qua sự giới thiệu của đại triết gia Plato, một học trò của Socrates. Plato (427? - 347 t.T.L.) sinh trưởng trong một gia đình quý tộc ở Athens. Ba tuyệt tác phẩm của Plato là sách Cộng Hòa (Republic), Chính Khách (Statesman), và Luật Pháp (Laws). Qua những tác phẩm này, chúng ta có thể nhận ra được một số căn nguyên tư tưởng quốc trị Tây phương. 

  Tác phẩm Cộng Hòa của Plato đề cập đến nhiều khía cạnh của đời sống xã hội từ giáo dục, kinh tế đến lịch sử, triết lý đạo đức. Plato dùng tên thầy Socrates đặt cho nhân vật chính trong sách Cộng Hòa để đưa ra tư tưởng quốc trị của ông. Qua phương pháp đối thoại, các nhân vật trong sách trao đổi với nhau để tìm đến chân lý của vạn vật. Theo Plato, sự thật sẽ giúp cho nhân loại đạt được đời sống tốt đẹp trong khuôn khổ quốc gia. 

  Ðối với Plato, chính trị là một nghệ thuật đòi hỏi chính khách phải có kiến thức chuyên môn cho nên chỉ một thiểu số công dân có khả năng tham chánh. Ông đưa ra một cơ chế chính quyền do thiểu số quý tộc có kiến thức điều khiển. (Ðộc giả lưu ý là Plato có gốc gác quý tộc và sự kiện này có thể chi phối quan niệm quốc trị của ông.) Plato không cho thường dân quyền lãnh đạo quốc gia bởi vì, theo ông, họ thiếu khả năng và không được huấn luyện để có thể giải quyết các vấn đề quốc gia một cách sáng suốt. 

  Plato suy luận rằng ba động lực chính thúc dục một cá nhân hành động là ý thích, tinh thần và lý trí. Trong mỗi cá nhân, một trong ba động lực này sẽ chủ động ý chí cho nên xã hội mới được chia làm ba giai cấp: thiểu số thông minh nhất sử dụng lý trí, một số khác có tinh thần cao, và đại đa số bị ý thích chế ngự. Dựa trên sự kết luận này, Plato đề nghị một chính thể phản ảnh cả ba thành phần xã hội và mỗi thành phần trong đó sẽ nhận lãnh một số phận sự riêng biệt. 

  Ðại đa số công dân có nhiệm vụ lao động để phục vụ xã hội về phương diện vật chất. Thiểu số còn lại sẽ nhận lãnh nhiệm vụ phụ trách quốc phòng; trong nhóm này, một số ít có khả năng suy tính hợp lý (thiên về lý trí) được lựa chọn để lãnh đạo quốc gia. Thiểu số lãnh đạo phải biết là hạnh phúc của họ gắng liền với hạnh phúc của toàn dân cho nên họ phải cố gắng tìm kiếm chân lý hay sự thật để xây dựng một xã hội công bằng. 

  Công lý là một phần của linh hồn và nhân loại cần nghiên cứu về linh hồn nếu muốn biết về công lý. Theo Plato, nếu muốn hiểu công lý, nhân loại phải xây dựng một xã hội công bằng bởi vì quốc gia là biểu tượng vĩ đại của con người. Ông tin tưởng rằng công lý chính là sản phẩm của sự phân chia giai cấp và chuyên ngành. Quốc gia lý tưởng sẽ phân phối trách nhiệm cho mỗi công dân một cách chính xác, và mỗi người sẽ hoàn tất việc được giao phó một cách thỏa đáng. Nhân loại đạt được công lý khi hạnh phúc của mỗi công dân và của quốc gia thăng tiến. 

  Kiến thức của một quốc gia được biểu hiện qua sự thông thái của thiểu số lãnh đạo tài ba, tinh thần dũng cảm của những người phụ trách quốc phòng, và sự tự chủ của cả ba giai cấp trong xã hội. Sự tiết độ của mỗi cá nhân cũng giúp cho công lý phát triển mạnh. Công dân sẽ được khuyến khích đóng góp cho quốc gia và giới hạn các ý thích cá nhân. 

  Plato đề cập nhiều về vấn đề giáo dục. Vào thời đó, Athens có chính sách giáo dục cưỡng bách bắt buộc tất cả công dân phải học hết lớp căn bản do thầy giáo tư dạy dỗ. Plato muốn thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục đương thời. Ông đề nghị một chính sách giáo dục do chính quyền kiểm soát chặt chẽ bao gồm hai bước: (1) Cả nam lẫn nữ phải theo học một chương trình huấn luyện gồm thể dục và âm nhạc cho đến tuổi 18 và sau đó là hai năm luyện tập quân sự; (2) Các học sinh xuất sắc sẽ được tuyển chọn để học thêm 15 năm nữa về toán số, thiên tinh, ngôn ngữ cũng như triết lý. Sau khi tốt nghiệp, những sinh viên xuất sắc được bổ xung vào làm việc cho chính phủ. Ðến tuổi 50, những người có khả năng nhất sẽ được đưa vào hội đồng cố vấn quốc gia với vai trò đóng góp ý kiến xây dựng và bảo toàn một xã hội công bằng. 

  Trong một quốc gia được xây dựng theo ý của Plato, nhân loại không cần đến pháp luật bởi vì thiểu số triết gia lãnh đạo có thể quản trị quốc sự theo sự thông thái của họ. Ông đề nghị nên tổ chức một xã hội công sản giới hạn (khác với quan niệm cộng sản toàn diện của Karl Marx sau này). Công thức tài sản chung của Plato chỉ bao gồm tài sản của thiểu số lãnh đạo và giai cấp mang trọng trách quốc phòng. Theo ông, công thức công sản có thể được áp dụng cho hai thành phần này bởi vì họ sinh hoạt theo lý trí và tinh thần cũng như họ không cạnh tranh về quyền lực. Ðại đa số công dân không nằm trong hai thành phần này có quyền tư hữu tài sản. Plato thấy rằng quốc gia cần phải áp dụng chính sách công sản giới hạn với hai thành phần quản trị quốc sự để tránh việc tranh giành quyền lực chính trị giữa những người có và kẻ không có tài sản trong hai giới này bởi vì sự xâu xé chính trị sẽ đem đến nhiều ảnh hưởng nguy hiểm cho quốc gia. Tựu trung, ông muốn hạn chế chủ nghĩa cá nhân trong giới lãnh đạo quốc gia.   Plato còn đi xa hơn trong nổ lực trong sạch hóa hai thành phần quản trị quốc sự bằng cách đưa ra đề nghị thủ tiêu quan hệ gia đình của hai giai cấp này. Cha mẹ mang nhiệm vụ song thân cho quốc gia và con cái là tiểu tử của quốc gia, chứ không phải của gia đình. Theo ông, để có những đứa trẻ khỏe mạnh và thông thái, chính quyền phải kiểm soát gắt gao quan hệ nam nữ. Quan hệ một vợ một chồng sẽ không được chính quyền công nhận.   Tổ chức quốc gia theo ý của Plato là một tổ chức lý tưởng do bộ óc của ông nặng ra cho nên nó cũng phải chết đi khi tác giả của nó qua đời. Quan niệm quốc trị này là một quan niệm lạc quan nhưng thiếu thực tế và không phản ảnh được nhân tính của con người. Hiếm có ai chấp nhận đánh đổi quyền tự do và quan hệ gia đình thiên liêng để được sống trong một xã hội lý tưởng do các nhà triết gia thông thái lãnh đạo. Ðộc giả có lẽ sẽ không ngạc nhiên khi biết được là Plato viết sách Cộng Hòa vào lúc ông còn trẻ, tràn đầy lý tưởng và thiếu sự già dặn của kinh nghiệm đời. Hai tác phẩm Chính Khách và Luật Pháp được Plato viết vào giai đoạn cuối của đời ông với những nhận xét và đề nghị tương đối gần gũi với thực trạng của nhân loại hơn. 

  Trong tác phẩm Chính Khách, Plato viết là một chính khách giỏi phải có khả năng chuyên môn; chính khả năng chuyên môn đó cung cấp cho chính khách nhiều biệt quyền. Chính khách được phép quản trị quốc sự bởi vì ông ta biết cách cai trị và ông ta đứng trên cả luật pháp hiện hành. Plato vẫn thiên về một chính thể do một lãnh tụ hay thiểu số lãnh đạo có tài hơn là chính thể dân chủ do đa số công dân thiếu khả năng điều hành.   Tuy nhiên khi đề cập về những quốc sự khó khăn, Plato nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của luật pháp. Bởi vì nhân loại không thể tìm kiếm được một nhà lãnh đạo có tài đức như ý, luật pháp trở nên vô cùng cần thiết để bảo vệ xã hội tránh sự lạm quyền của những kẻ thiếu tài đức. Ông đã sáng suốt nhận định là hình thái quốc gia lý tưởng theo sách Cộng Hòa khó có thể được xây dựng cho nên ông sẵn sàng bỏ qua ý niệm này. Plato sắp đặt các chính thể thành hai nhóm như sau: 

1) Các chính thể pháp trị: Ðặc điểm của những chế độ này là luật pháp nắm giữ vai trò điều hòa các sinh hoạt xã hội chính trị. Chế độ quân chủ do một lãnh tụ tài đức nắm quyền được Plato xem là chế độ tốt đẹp nhất, kế đến là chế độ quý tộc trị do thiểu số tài đức lãnh đạo, và cuối cùng là chế độ dân chủ do toàn dân lãnh đạo. Cả ba chính thể đều sử dụng luật pháp như nền tảng cho các sinh hoạt của toàn thể công dân, và tất cả mọi người từ thường dân đến lãnh tụ đều phải chấp nhận bị pháp chế (luật pháp trên hết). 
2) Các chính thể vô pháp: Trong những chế độ loại này, các phần tử lãnh đạo hoàn toàn kiểm soát quốc gia theo ý kiến riêng tư. Những chính thể vô pháp là những chính thể tệ hại nhất cho nhân loại bởi vì luật pháp không có khả năng kiểm soát sự lạm quyền lãnh đạo. Theo Plato, tệ hại tương đối là chế độ độc tài do một người cầm đầu, tiếp đến là chế độ chuyên chế do thiểu số nắm quyền, và sau cùng là chế độ dân chủ phi pháp luật. Bởi vì chính thể xem thường luật pháp cho nên quyền lực chính trị dễ bị lạm dụng và có thể đưa đến tình trạng thiếu công lý. 

Plato quan niệm rằng bởi vì nhân loại không thể xây dựng được một quốc gia lý tưởng theo ý của ông trong sách Cộng Hòa, cho nên chính thể quân chủ pháp trị là chính thể tốt đẹp nhất và chế độ dân chủ vô pháp là chế độ tệ hại nhất. Qua tác phẩm Chính Khách, độc giả có thể thấy tư tưởng của Plato có phần thực tế hơn. Ông đã chấp nhận đưa vai trò luật pháp lên hàng đầu; mặc dầu vẫn không thích chế độ dân chủ, ông đã công nhận là một chính thể dân chủ pháp trị còn tốt hơn một chế độ quân chủ hay quý tộc trị vô pháp. Nguyên tắc pháp trị (the rule of law) của thầy Socrates được Plato nâng cao trong sách Chính Khách dần dần trở thành một trong những nguyên lý căn bản của tổ chức chính trị Tây phương. 

  Lúc về già, Plato viết tác phẩm Luật Pháp. Tác phẩm này biểu hiện sự trưởng thành trong lối suy tư của ông và đã trở thành một trong những tác phẩm vĩ đại của nhân loại. Trong sách Luật Pháp, Plato nhấn mạnh vai trò của luật pháp thay thế nhà lãnh đạo tài đức nhưng khó kiếm được trong thế giới thực tế của con người. Theo ông, luận lý pháp khống chế quốc gia lý tưởng nhưng, trong thực tại, luật pháp phải thống trị quốc gia. Luật pháp trở thành động lực khiến công dân sinh hoạt theo một phương hướng ổn định. Trong xã hội thực tại của nhân loại, luật pháp đảm trách vai trò tối thượng để chế ngự tính ích kỷ của con người bởi vì những hành động ích kỷ có thể phá rối trật tự xã hội. 

  Luật pháp quản chế toàn thể công dân với mục đích ổn định xã hội. Luật pháp, mặc dầu không được tuyệt đối hoàn hảo, vẫn tốt hơn là các quyết định tự ý của những kẻ lãnh đạo bất tài vô đức. Ðiểm quan trọng trong tác phẩm Luật Pháp là Plato đã xóa bỏ cách phân chia giai cấp xã hội được đưa ra trong sách Cộng Hòa; ông lại còn nâng cao tinh thần tự chủ tiết chế trong một chính thể pháp trị. Trong một quốc gia pháp trị, quyền lực của chính quyền bị công dân kiểm soát và chế ngự. Nguyên lý dân thuận trở thành một trong những nguyên lý căn bản của chính thể pháp trị. Mỗi công dân là một phần tử lãnh đạo quốc gia, và những lãnh tụ làm đa số công dân bất mãn có thể bị thay đổi.   Plato cũng bàn về những tiêu chuẩn lý tưởng của một quốc gia pháp trị như dân số, diện tích đất đai, nền tảng kinh tế, v.v. Các tiêu chuẩn này không phù hợp với thời đại hiện nay bởi vì chúng bị đóng khung trong khuôn khổ của tiểu quốc Athens. Ðiển hình là tiêu chuẩn về dân số; theo Plato, số công dân nên được giữ ở khoản 5.040 người (chia đều được cho 10 và 12) để quốc gia có thể sinh hoạt một cách hữu hiệu. Vì thế cho nên chúng ta có thể không cần bàn sâu về các tiêu chuẩn lý tưởng này.   Về vấn đề tư hữu tài sản, Plato đã bỏ hẳn chính sách công sản giới hạn được vạch ra trong tác phẩm Cộng Hòa. Theo chính sách kinh tế mới của ông thì mỗi công dân nên được cấp một số ruộng đất để cày cấy bởi vì nông nghiệp là căn bản của nền kinh tế Athens. Song song, mỗi công dân có quyền được làm chủ một số tài sản trị giá gấp bốn lần trị giá ruộng đất cá nhân. Lãnh vực thương mãi được dành riêng cho ngoại kiều; tuy vậy, tất cả thương sự đều được chính quyền kiểm soát kỷ lưỡng. Plato đề nghị là không ai có quyền được giữ lấy vàng bạc. 

  Plato nhấn mạnh yếu tố nam nữ bình quyền, và cả hai đều phải được giáo dục như nhau. Tuy nhiên ông không nói rõ là nữ giới có quyền tham chánh hoặc bầu cử hay không. Trong sách Luật Pháp, Plato không còn giữ ý kiến là chính quyền có thể xâm phạm vào đời sống gia đình vốn đã được ông cổ vỏ trong tác phẩm Cộng Hòa. Nhận thấy được sự khác biệt giữa các gia đình giàu nghèo, trí thức và vô học có thể đưa đến những cuộc xung đột đáng tiếc, Plato đề nghị là công dân nên được dạy dỗ rằng vấn đề gia thất có mục đích xã hội; ông hy vọng là nhờ thế mà những người giàu sẽ kết hôn với người nghèo, kẻ có học sẽ thành hôn với kẻ vô học, v.v., để xã hội có được sự dung hòa. 

  Sự dung hòa trong xã hội sẽ ảnh hưởng đến chính quyền và, theo Plato, chính quyền pháp trị lý tưởng sẽ là một chính quyền biểu hiện được tất cả những ưu điểm của chính thể dân chủ và chính thể quý tộc trị. Ông công nhận là nếu nhiều công dân trong xã hội không có tiếng nói trong các vấn đề quốc gia thì xã hội khó có thể đạt được sự an lạc cần thiết. Vì vậy, Plato đưa ra ý kiến là tất cả những công dân có thể đảm nhận nhiệm vụ quốc phòng đều được làm thành viên của Quốc Hội. Quốc Hội có nhiệm vụ bầu lên một hội đồng quản trị quốc gia và các nhà lãnh đạo. Ðiểm đặc biệt là các thành viên nghèo có thể chọn lựa bỏ phiếu hay không trong các phiên họp Quốc Hội nhưng các thành viên giàu sẽ bị phạt nếu không chịu bỏ phiếu.   Trong sách Luật Pháp, Plato bãi bỏ ý kiến cho là những công dân có nhiều kiến thức phải lãnh đạo quốc gia. Tuy vậy, ông lại đặt nhiều kỳ vọng vào thành phần công dân có nhiều tài sản; ông đòi hỏi thành phần này phải tham chánh và đưa ra những biện pháp chế tài để phạt những người khá giả trốn tránh các sinh hoạt chính trị. Nếu nền giáo dục không thể huấn luyện được những lãnh tụ tài đức, Plato thấy chỉ còn có sự tích tụ tài sản là tiêu chuẩn khả sở dĩ có thể đánh giá khả năng quốc trị của công dân. Trong một xã hội mà người giàu kết hôn với người nghèo, kẻ có học thức thành hôn với người vô học (tài sản và kiến thức dung hòa) thì có lẽ ý kiến này có thể thực hiện được. Nhưng thực tế chứng minh là mô hình xã hội dung hòa của Plato chỉ là ước mơ hảo huyền cho nên sự tích tụ tài sản - cũng như hình thức dòng giống nối truyền - không hẳn có thể biểu hiện được tài đức toàn vẹn của cá nhân. 

  Trong sách Luật Pháp, Plato cũng bàn về chính sách giáo dục tương tự như các đề nghị trong tác phẩm Cộng Hòa. Riêng về vấn đề tôn giáo, ông đưa ra ý kiến là chính quyền phải kiểm soát tôn giáo một cách chặt chẽ. Ông đã đoán được manh nha của một số lãnh tụ tôn giáo muốn đặt lòng trung thành với tôn giáo - tức là trung thành với lãnh tụ tôn giáo - ngang hàng với lòng trung thành với quốc gia. [Sự kiện này đã xảy ra 14 thế kỷ sau đó khi một số Giáo Hoàng Cơ Ðốc lấn lướt quyền hành quốc gia khiến vấn đề tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền bùng nổ.] Tuy nhiên, theo Plato, chính quyền cũng có nhiệm vụ bắt buộc công dân phải tuân theo luân lý tôn giáo bởi vì giáo lý bồi bổ đức hạnh, và sự hiện hữu của Thượng Ðế không thể bị phủ nhận. 

  Plato đã bỏ hẳn ước mơ tìm được những cá nhân tài đức để lãnh đạo quốc gia. Ông nặng ra mô hình Hội Ðồng Nocturnal bao gồm một số người thông thái trên 50 tuổi kể cả Bộ Trưởng Giáo Dục và vài tu sĩ. Một số thành viên trẻ cũng có thể gia nhập Hội Ðồng Nocturnal nếu được các thành viên cao niên chấp thuận. Các thành viên Nocturnal giữ nhiệm vụ cố vấn cho chính sách quốc gia và có khả năng kiểm soát chính phủ. Có lẽ Plato quá tin tưởng vào kinh nghiệm và sự tiết chế không lạm quyền của họ cho nên ông cấp cho họ quyền hành qua mặt cả pháp luật. Hội Ðồng Nocturnal có thể được xem là một quái vật trong chính thể pháp trị của Plato; trong một quốc gia do luật pháp thống trị thì làm sao mà một cơ chế chính trị có thể hoạt động bên ngoài luật pháp và có quyền kiểm soát chính quyền. Trên phương diện này, Plato có lẽ đã hướng về mô hình chính trị do giai cấp triết gia tài đức cầm quyền vốn được ông đề cập đến trong sách Cộng Hòa. 

  Ðó đây trong các tác phẩm của Plato chúng ta có thể thấy Plato đặt gánh nặng lên vai giới lãnh đạo quốc gia: họ phải hoàn toàn quên đi quyền lợi riêng tư và luôn luôn chú trọng lo cho nhân dân được an lạc. Một nhà lãnh đạo công bằng không bao giờ lo cho quyền lợi cá nhân bởi vì ông ta biết là hạnh phúc của riêng ông ta không thể tách rời khỏi hạnh phúc của nhân dân. Trong thế giới hôm nay, đi kiếm một cá nhân được như vậy thật không khác gì mò kim dưới đáy bể. 

  Chúng ta cũng có thể thấy được là chính thể do Plato đưa ra xem thường ý kiến của dân vô giáo dục và sẵn sàng bóp chết tự do cá nhân để lo cho mục đích chung của quốc gia. Song song, Plato cũng đã đánh giá sai về bản tính của con người khi ông kết luận là chỉ có ba động lực (ý thích, tinh thần, và lý trí) chi phối các sinh hoạt của nhân loại. Khả năng cũng như tư cách của con người về nhiều mặt không thể bị đóng khung trong một số quy tắc tiền định (như sĩ, nông, công, thương), và sự khác biệt về kiến thức có thể được vượt qua một cách tương đối không khó khăn cho lắm. 

  Chính học trò của Plato là Aristotle sau này đã đề cập đến giá trị của sự giáo dục và kinh nghiệm cá nhân khi ca ngợi chính thể dân chủ. Chế độ dân chủ không đòi hỏi tất cả công dân phải đóng góp đồng đều cho xã hội mà chỉ dựa trên căn bản là đa số công dân có khả năng đóng góp cho xã hội; từ chối không cho thường dân quyền tham chánh tức là ngăn chận không cho quốc gia được nhận sự đóng góp - nhiều khi rất quý giá và cần thiết - của họ (khi quốc gia suy vong thì thất phu cũng có thể trở nên hữu dụng). 

  Mặc dầu Plato phạm một số khuyết điểm trong các kết luận tổng quát và nhiều lúc thiếu chính xác, ông đã đóng góp rất nhiều cho sự hiểu biết của nhân loại về lãnh vực quốc trị với những ý kiến vô vàn quý báu. Nếu hiểu được là Plato cố tâm đi tìm một mô hình chính trị tốt đẹp để giải quyết các khó khăn cho chế độ đương thời, chúng ta có thể thông cảm bỏ qua các sơ sót của ông như sự khiếm diện của quyền tự do, các suy luận thiếu chính xác về nhân tính, v.v., bởi vì không có một giải pháp chính trị nào là tuyệt đối hoàn hảo. 

  Plato chỉ cho chúng ta thấy được nhiều yếu điểm của chính thể dân chủ; điển hình như sự tự do phi giới hạn (tính ích kỷ cá nhân không biết tự chủ) có thể trở thành những động lực phá hoại xã hội. Chính những ý kiến xây dựng của Plato đã giúp cho nhân loại một số phương pháp giải quyết các vấn đề khó khăn của xã hội và chính thể dân chủ: vai trò tối thượng của luật pháp, chính sách giáo dục công cộng, nam nữ bình quyền, v.v. Cũng chính nhờ sự hướng dẫn của Plato mà học trò của ông, đại triết gia Aristotle, đã nhìn ra được những ưu khuyết điểm của chính thể dân chủ để rồi ra sức cải tạo các khuyết điểm của nó. 

 . . . . . . . . . .                 Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 1-25