Xung Ðột Tư Tưởng giữa Vai Trò Thần Quyền và Chính Quyền I - Ambrose, Augustine và Aquinas
(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.)
Tương tự như lời dạy của Ðức Phật Thích Ca, huấn từ của Jêsus không biểu hiện chính trị tính. Nhìn lại cuộc đời của Jêsus, chúng ta có thể kết luận là ngài chú trọng vào việc cứu rỗi linh hồn của nhân loại hơn là trở thành kim chỉ nam cho các vấn đề quốc gia. Tuy nhiên trong nổ lực phát triển và cũng cố Thiên Chúa giáo, các tín đồ phải đụng với thực tế xã hội và bị chi phối bởi chính trị. Sự va chạm giữa tôn giáo và guồng máy chính trị đã khiến một số tín đồ xuất sắc nhất của Thiên Chúa giáo phải đưa ra những lý luận liên quan về thần quyền (Giáo Hội) và quốc quyền (chính quyền). Những lý luận này cũng như các tư tưởng chống đối lại đã ảnh hưởng rộng lớn nếp sinh hoạt chính trị ở Tây phương cho nên chúng ta cần tìm hiểu cặn kẽ hầu có thể rút tỉa một vài kinh nghiệm để áp dụng cho Việt Nam - một quốc gia đôi lúc bị tinh thần sùng đạo mù quáng chia rẽ.
Trong vòng 300 năm sau khi Jêsus bắt đầu giảng dạy giáo lý của ngài, Thiên Chúa giáo đã trải qua một giai đoạn vô vàn khó khăn bởi vì bị chính quyền La Mã đàn áp. Nhà thờ bị đốt và tài sản cũng như quyền công dân của tín đồ bị tướt đoạt chỉ vì người theo Cơ Ðốc giáo chỉ thờ Thiên Chúa mà không thờ các vị thần khác của đế quốc La Mã. Phải đợi đến khi Ðại Ðế Galerius lên ngôi vào năm 311 sau Tây lịch, tín đồ Thiên Chúa giáo mới được cho phép tự do tín ngưỡng và truyền đạo. Sau đó Ðại Ðế Constantine trở thành tín đồ Cơ Ðốc, và sự kiện này đánh dấu một bước ngoặc lịch sử; uy danh của Thiên Chúa giáo bắt đầu rạng rỡ. Vào cuối thế kỷ thứ tư, Ðại Ðế Theodosius nâng Cơ Ðốc giáo lên hàng quốc giáo.
Lý do mà Theodosius tôn Thiên Chúa giáo lên thành tôn giáo chánh thức của đế quốc La Mã phản ảnh nhu cầu chính trị lúc đó hơn là lòng tin cá nhân. Bởi vì đế quốc La Mã quá rộng lớn cho nên các khó khăn về quản trị ngày càng chồng chất; chính quyền trung ương có nhu cầu tìm một tựu điểm để có thể nắm giữ được các tiểu quốc. Vào thời điểm đó Thiên Chúa giáo đã có được một số lượng tín đồ khổng lồ tại La Mã và các tiểu quốc sau một thời gian được tự do truyền đạo. Thiên Chúa giáo hiển nhiên trở thành tựu điểm cần thiết của chính quyền. Giai cấp lãnh đạo La Mã hy vọng giới tu sĩ sẽ dạy dỗ các dân tộc bị trị hướng về một xã hội hòa bình và tránh nổi loạn chống lại bạo lực đế quốc. Sự phối hợp giữa chính quyền La Mã và Thiên Chúa giáo bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ tư và kéo dài cho đến khi đế quốc La Mã sụp đổ.
Trong giai đoạn đầu, chính quyền La Mã giữ vai trò chủ động trong khối liên hợp chính quyền-tôn giáo. Giáo Hội Cơ Ðốc đã gặp nhiều khó khăn khi phải đối đầu với một số quan niệm khác biệt của những tín đồ mới cải đạo từ những tôn giáo khác cho nên phải cần đến sự giúp đỡ của chính quyền. Chỉ có khả năng và sức mạnh quân sự của chính quyền mới có thể ôgiải quyếtọ được các vụ xung đột trong Giáo Hội.
Nhưng Giáo Hội Cơ Ðốc dần dần chiếm được thế thượng phong trong khối liên hợp chính quyền-tôn giáo vào khoảng 150 năm cuối cùng của đế quốc La Mã. Sức mạnh của đế quốc La Mã tuột dốc bởi vì sự yếu kém của các Ðại Ðế sau này và vì chiến tranh với lân bang triền miên. Xã hội La Mã bắt đầu nảy sinh ra nhiều tệ nạn và tinh thần anh dũng kiêu hãnh trong quá khứ bị thay thế bằng quan niệm bi quan thụ động. Trong khi đó, Thiên Chúa giáo lại có nhiều lãnh tụ tài giỏi cũng như giáo lý Cơ Ðốc với những hứa hẹn về cõi thiên đàng xa xôi càng lôi cuốn nhiều người theo để chạy trốn thực tế của một xã hội bi quan. Hệ thống quản trị của Thiên Chúa giáo lại được cải tổ nhằm tập trung quyền lực vào cơ quan đầu não Giáo Hội ở Rome; hệ thống phân quyền về các nhà thờ hay giáo phận địa phương dần dần được thay đổi để phù hợp với mục tiêu tập trung quyền hành tôn giáo.
Trong một xã hội bớt phức tạp và quyền lực của chính quyền trung ương còn mạnh như đế quốc La Mã trong những thế kỷ đầu, lời dạy trong kinh thánh hãy trả cho (Ðại Ðế) Caesar (Sê-ra) vật gì của Caesar và trả cho Ðức Chúa Trời vật gì của Ðức Chúa Trời (Ma-thi-ơ xxii:21) được tín đồ Cơ Ðốc xem như là kim chỉ nam. Giáo lý Thiên Chúa không xem thế giới hiện tại của nhân loại là quan trọng bởi vì theo Jêsus Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian này (Giăng xviii:36). Vì vậy cho nên chính quyền cũng như Giáo Hội chỉ cần thiết cho đời sống hiện tại và cả hai nên giúp đỡ lẫn nhau để kiến tạo một xã hội tốt đẹp hầu con người có thể tạm sống trước khi về nước Chúa. Tuy nhiên, thực tế phức tạp cho thấy vai trò của chính quyền và tôn giáo nhiều lúc đụng chạm và khó dung hòa được. Ðiển hình như trong lãnh vực thuế má: chính quyền có thể đánh thuế tài sản của Giáo Hội hay không khi Giáo Hội lý luận là tài sản được sử dụng để phục vụ Thượng Ðế? Nhưng căng thẳng nhất có lẽ là khi lòng trung thành của tín đồ bị thử thách: Giáo dân vốn cũng là công dân phải trung thành với chính quyền đại diện quốc gia hay Giáo Hội đại diện cho Thượng Ðế khi chính quyền và Giáo Hội bất đồng ý kiến? Những lãnh tụ đầu tiên của Thiên Chúa giáo chưa tìm được một lý luận ổn thỏa về vai trò của Giáo Hội và chính quyền (có lẽ tại vì chính quyền La Mã lúc đó còn rất mạnh). Trong một lá thư gởi cho dân La Mã, Thánh Paul đề cập đến lãnh tụ chính quyền như một vị tướng quân của Thượng Ðế (Romans xiii:1-7). Quan niệm lãnh tụ quốc gia được Thượng Ðế giao trọng trách cai trị này tương tự quan niệm Thiên tử (con của Trời) ở Ðông phương, và được Giáo Hội Cơ Ðốc tôn trọng cho đến khi Giáo Hội có đủ uy danh và thế lực để tranh giành ảnh hưởng với chính quyền.
Thánh Ambrose (340-397) có thể được xem như là vị giáo sĩ đầu tiên đưa ra triết thuyết về sự phân quyền giữa quốc gia và tôn giáo. Theo Ambrose, quốc gia được Thượng Ðế sắp đặt, và nhân dân phải tuân phục lãnh tụ quốc gia mặc dầu hành vi của lãnh tụ đôi khi thiếu công minh. Ông lý luận là Giáo Hội có thể dùng kỷ luật tinh thần để khuyên răng lãnh tụ khi lãnh tụ lạm quyền. Lãnh tụ quốc gia cũng phải tuân theo luật lệ và chịu kỷ luật của Giáo Hội.
Thánh Augustine (354-430) - vốn là học trò của Ambrose - đưa ra thuyết hai thành phố: vương quốc của Thượng Ðế và thế giới của quỷ sa-tăng. Qua tác phẩm Thành Phố của Thượng Ðế, Augustine xem lịch sử như một chuỗi dài của các cuộc xung đột giữa những động lực thuộc thành phố của Thượng Ðế và thành phố của quỷ sa-tăng. Ông đi đến kết luận là cuối cùng thì cộng đồng thịnh vượng của Thượng Ðế sẽ được thành lập.
Theo Augustine, chỉ có cộng đồng thịnh vượng Thiên Chúa giáo mới có công lý. Những cộng đồng được tạo dựng trước đây không thể có công lý bởi vì nhân loại chưa nhận thức được Chúa để tôn vinh Chúa. Lý thuyết này đã ảnh hưởng đến hơn 1.000 năm sau và là kim chỉ nam hướng dẫn nổ lực tổ chức một cộng đồng Thiên Chúa giáo phi biên thùy. (Dĩ nhiên vào thời đại hôm nay, lý thuyết của Augustine không thể tồn tại bởi vì sự hiểu biết của nhân loại về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn).
Augustine suy luận rằng quốc gia và giáo hội chỉ là những cơ chế do Thượng Ðế tạo ra để giúp cho nhân loại được cứu rỗi và đạt được đời sống bất diệt trong thành phố của Thượng Ðế. Giáo hội đại diện Thượng Ðế ở thế giới hiện tại và có khả năng cứu rỗi loài người đầy tội lỗi từ lúc mới chào đời; và vì vậy cho nên địa vị của quốc gia thấp hơn địa vị của giáo hội.
Tuy ông đặt ngai vị của giáo hội trên ngai vị của quốc gia, Augustine không xem thường quốc gia như một bộ phận của giáo hội. Theo ông, quốc gia mang nhiệm vụ khác với vai trò cứu rỗi linh hồn của giáo hội. Vai trò của quốc gia là giữ gìn an ninh và trật tự. Nhân loại vốn đã mang tội lỗi cho nên đời sống không thể dễ dàng được. Chính sự khác biệt về tội lỗi tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội như tình trạng nô lệ, tình trạng giàu nghèo. Chính quyền cũng là một sản phẩm của tội lỗi.
Augustine suy luận rằng lãnh tụ chính quyền cũng nhận quyền cai trị đất nước từ Thượng Ðế. Ông kết luận là mọi người phải tuân phục lãnh tụ chính quyền ngay cả khi vị lãnh tụ có những hành động thiếu công bằng. Augustine không nói rõ là giáo hội có phải tuân phục chính quyền hay không. Như đã nói ở trên, ông cho là địa vị của giáo hội cao hơn địa vị của chính quyền và Ambrose - thầy của Augustine - không cho phép chính quyền đụng chạm đến quyền hạn của giáo hội.
Triết thuyết về tương quan giữa thần quyền và chính quyền được Giáo Hoàng Gelasius I hệ thống hóa vào cuối thế kỷ thứ năm. Theo Gelasius, xã hội Thiên Chúa giáo được hai cơ chế chịu trách nhiệm quản trị: giáo hội với vai trò tinh thần, và quốc gia phụ trách quốc sự trên mặt đất. Cả hai cơ chế đều có chung một mục đích là quản trị tất cả các vấn đề theo một chiều hướng giúp đỡ nổ lực cứu rỗi linh hồn con người. Trong khi giáo hội phải giảng dạy giáo lý và lo cho quyền lợi tinh thần của nhân loại, chính quyền có nhiệm vụ bảo an cho nhân loại. Hai cơ chế này phải giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết và không một cá nhân nào có quyền kiểm soát cả hai cơ chế. Gelasius giữ cho giáo hội quyền được kỷ luật bất cứ vị Hoàng Ðế nào vi phạm giáo lý bởi vì Hoàng Ðế cũng chỉ là một tín đồ không hơn không kém.
Thuyết Hai Lưỡi Gươm ra đời dưới ngọn bút của Gelasius nhưng cũng không thể dàn xếp được hết các cuộc xung đột giữa chính quyền và Giáo Hội Cơ Ðốc. Giáo dân gặp nhiều trường hợp oái ăm khi phải quyết định là trung thành với mệnh lệnh của chính quyền hay sự hướng dẫn của giáo hội. Phải đợi đến nhiều thế kỷ sau quốc gia mới cho phép công dân được tự do tín ngưỡng và các vị lãnh tụ tôn giáo mới hiểu là trách nhiệm đối với quốc gia đôi khi cao hơn nhiệm vụ tôn giáo. Các ý kiến về tương quan giữa thần quyền và chính quyền không dừng lại ở đây mà còn được khai triển sâu rộng hơn bởi vì các cuộc xung đột suốt chiều dài lịch sử. Vào đầu thế kỷ thứ sáu, đế quốc La Mã bị đánh bật khỏi Tây Âu. Sự kiện này tạo ra một lỗ hổng quyền lực chính trị và các lãnh tụ địa phương vội vã vươn vai giành đất. Chế độ phong kiến ở Châu Âu ra đời với các cuộc chiến đẫm máu giữa những tiểu quốc mới được hình thành. Một số cá nhân có quyền lực như Charlemagne (742-814) được Giáo Hội Cơ Ðốc ủng hộ để tái lập trật tự Thiên Chúa giáo cũng như đế quốc La Mã. Các nổ lực tái tạo vòng đai kiểm soát của Rome bị thất bại bởi vì sức ly khai của các dân tộc bị trị quá mạnh mẽ. Tuy vậy, vì được Giáo Hội Cơ Ðốc ủng hộ (do nhu cầu phải có một tụ điểm đại diện cho sự đoàn kết Thiên Chúa giáo), các Hoàng Ðế La Mã vẫn được ngồi trên ngai vàng như những bù nhìn trong một thời gian dài. Song song, các lãnh chúa mới cũng cảm thấy cần đến một lãnh tụ bù nhìn làm trọng tài cho họ trong các cuộc tranh chấp đất đai. Ðế quốc La Mã dần dần biến mất khỏi bản đồ Âu Châu, biến mất với nó là quyền lực của Giáo Hội Cơ Ðốc. Phải đợi đến thế kỷ thứ 11 uy danh của Giáo Hội mới được cứu rỗi nhờ vào phong trào cải tổ đạo Cluny.
Bối Cảnh Mới Ðưa Ðến Quan Niệm Mới
Suốt thế kỷ thứ 10, Giáo Hội Cơ Ðốc hoàn toàn bị các lãnh chúa phong kiến chi phối. Nhiều lãnh chúa đã được Giáo Hội phong làm Tổng Giám Mục để rồi nắm lấy cả hai quyền lực chính trị và tinh thần. Sự lạm dụng thần quyền và chính quyền của các lãnh chúa nhằm phục vụ cho quyền lợi cá nhân đẩy uy danh của Giáo Hội xuống dốc một cách thê thảm. Các Giáo Hoàng Cơ Ðốc lúc đó chỉ là tù nhân của thế lực phong kiến, và bất cứ ai lên tiếng chống lại bạo lực phong kiến đều bị thay đổi hay ám sát.
Mặc dầu giai cấp lãnh đạo Giáo Hội bị các lãnh chúa kiểm soát, tổ chức quản trị giáo sự vẫn còn vững vàng. Vào giữa thế kỷ thứ 10, tu viện Cluny (thành lập năm 910) - một trong hơn 300 tu viện Công giáo vào lúc đó - trở thành một trong các động cơ chánh vận chuyển Giáo Hội Cơ Ðốc. Từ năm 950, tu viện Cluny dẫn đầu một phong trào cải tổ quan trọng với mục đích chống lại cảnh mua bán chức vụ trong Giáo Hội Cơ Ðốc, thảm trạng tình tự trai gái của các Giám mục, và sự liên kết giữa Giáo Hội và các lãnh chúa mà trong đó các lãnh chúa lợi dụng uy danh của Giáo Hội để phục vụ cho quyền lợi cá nhân.
Tưởng cũng cần nhắc lại ở đây là các Giáo Hoàng Cơ Ðốc lúc đó quan tâm về chính sự hơn là các cuộc biểu tình lớn do phong trào cải tổ Cluny thực hiện. Tuy vậy nhờ vào áp lực của phong trào cải tổ này mà các Giáo Hoàng được hưởng thêm nhiều lợi lộc hơn; song song, uy danh của Giáo Hội cũng dần dần được nâng cao. Vào thế kỷ thứ 11, Giáo Hội lấy lại đủ quyền lực để đối đầu với các lãnh chúa. Quan hệ thân thiện giữa Giáo Hội và các lãnh chúa dần dần biến mất, và những vụ va chạm giữa hai bên ngày càng gia tăng. Tình trạng mới này khiến người ta bắt đầu bàn cãi thêm về tương quan giữa chính quyền và thần quyền.
Vào năm 1073, Gregory VII trở thành Giáo Hoàng. Suốt 12 năm lãnh đạo Giáo Hội Cơ Ðốc, Gregory ra lệnh biên lại các giáo lệnh thành pháp điển, yêu cầu các linh mục phải tuân theo nguyên tắc độc thân, và dành lại cho Giáo Hội quyền quyết định các vấn đề tôn giáo trong đó có cả quyền bổ nhiệm giáo chức của chính phủ. Chính quyết định tướt quyền bổ nhiệm giáo chức của các lãnh chúa đã khiến Gregory gặp nhiều khó khăn. Ông vua trẻ Henry IV của Ðức quốc đã cố gắng truất phế Gregory khỏi ghế Giáo Hoàng. Ðể trừng phạt Henry, Gregory khai trừ vị vua trẻ này ra khỏi Giáo Hội và tuyên bố bãi bỏ các bổn phận của dân Ðức đối với Henry (dân Ðức không còn phải tuân lệnh của Henry nữa). Quyền lực chính trị trong chế độ phong kiến tập trung vào tay các lãnh chúa. Nhân dân sống trên đất đai của lãnh chúa phải hứa trung thành với lãnh chúa để được lãnh chúa bảo vệ. Nguyên tắc hợp đồng (khế ước) giữa người bị trị và kẻ cai quản ra đời ở Âu Châu và tồn tại nhiều thế kỷ sau khi chế độ phong kiến biến mất. Theo nguyên tắc hợp đồng, nếu một phe vi phạm các điều khoản của hợp đồng, phe bên kia có quyền rút ra khỏi hợp đồng hay buộc phe vi phạm thi hành hợp đồng một cách đúng đắng.
Gregory sử dụng ngôi vị Giáo Hoàng để ra lệnh cho tín đồ Cơ Ðốc giáo ở Ðức rút khỏi cái hợp đồng siêu hình với Henry mặc dầu là cuộc xung đột giữa Henry và Gregory không liên can gì đến dân Ðức. Dĩ nhiên Henry xem hành động của Gregory là một hành động lạm quyền và xâm phạm vào lãnh vực của chính quyền. Ðể biện hộ cho việc làm của mình, Gregory lý luận rằng Giáo Hoàng tiếp nhận uy quyền do Thượng Ðế trao cho Thánh Peter - vị giáo sĩ đầu tiên ở Rome. Uy quyền này bao trùm vạn vật cho nên Gregory có quyền truất phế tất cả các quyền lực, trong đó có quyền hạn của chính phủ. Giáo Hoàng chỉ chịu trách nhiệm trước Thượng Ðế về các hành động của ông và không ai có thể chê trách Giáo Hoàng được. Tư tưởng Giáo Hoàng có uy quyền tuyệt đối gặp sự chống đối mãnh liệt từ phe chính quyền cũng như đại đa số tín đồ Cơ Ðốc lúc đó. Vua Henry dựa vào lý thuyết hai lưỡi gươm của chính Giáo Hội để bẻ gãy lý luận của Gregory. Thượng Ðế trao quyền trị quốc thẳng cho vua chứ không qua tay Giáo Hoàng rồi mới đến tay vua. Vua chịu trách nhiệm trước Thượng Ðế về việc quản trị quốc sự tương tự như Giáo Hoàng phải chịu trách nhiệm về tinh thần trước Thượng Ðế. Quan trọng hơn hết là nguyên tắc không cá nhân nào có thể nắm cả thần quyền và chính quyền của thuyết hai lưỡi gươm. Henry và những người ủng hộ ông kết tội Gregory đã xâm phạm đến lãnh vực quốc trị của chính quyền khi Gregory bãi bỏ trách nhiệm của dân Ðức đối với Henry. Ðộc giả cũng cần biết thêm là các tư tưởng thời Trung cổ phản phất giáo lý Cơ Ðốc cũng như triết lý của Plato và nhóm Stoic (triết lý của Plato đã được Giáo Hội nghiên cứu từ lâu nhưng tư tưởng của Aristotle chưa được biết đến). Ðáng kể nhất là sách Policraticus của John thuộc Salisbury (1120-1180) liệt kê lại các quan niệm chính trị vào thời đại đó (trước khi đối đầu với tư tưởng của Aristotle). John lý luận theo mô hình chính trị của Cicero (cộng đồng thịnh vượng pháp trị) thay vì áp dụng nguyên tắc hợp đồng (hay xã ước) giữa dân và vua. Mặc dầu mô hình Cicero không phản ảnh được nhu cầu thực tế của xã hội phong kiến nhưng lại vô cùng hấp dẫn đối với Giáo Hội Cơ Ðốc bởi vì nó hổ trợ cho tư tưởng gầy dựng và giữ gìn một cộng đồng Thiên Chúa giáo chống lại các nổ lực phân chia quyền lực của các lãnh chúa phong kiến.
John (thuộc Salisbury) là triết gia đầu tiên trong thời Trung cổ dùng phương pháp phân tích cộng đồng chính trị như một cơ thể động vật. Theo ông, cộng đồng chính trị như một cơ thể con người với chính quyền như cái đầu và giáo hội như linh hồn. Và như cơ thể của con người, cộng đồng chỉ có thể tồn tại và phát triển khi tất cả các bộ phận trong cộng đồng đều mạnh. Vua phải cai quản quốc gia một cách công bằng theo luật pháp để giữ cho các bộ phận trong cộng đồng được mạnh.
John nâng quyền uy của Giáo Hội Cơ Ðốc lên cao hơn uy quyền của chính phủ. Theo ông, quyền trị quốc của vua đến từ Thượng Ðế và Giáo Hội. Nhân dân phải tuân phục vua và kẻ nào chống lại vua tức là chống lại Thượng Ðế bởi vì vua được Thượng Ðế giao cho quyền trị quốc. Tuy nhiên nếu vua không cai quản đất nước theo luật pháp mà chỉ thích sử dụng sức mạnh để áp chế nhân dân, nhân dân có quyền truất phế nhà vua bởi vì các hành động bạo lực bị Thượng Ðế khinh tởm. John lý luận rằng nhà vua là quản gia của Thượng Ðế và có nhiệm vụ phát triển ôquốc giaọ Thiên Chúa giáo. Vua không chỉ lo giữ gìn hòa bình và an ninh xã hội mà còn phải tạo mọi điều kiện cần thiết cho nhân dân đạt được phúc lợi tinh thần. Tư tưởng nâng cao giáo quyền của John (thuộc Salisbury) đã bị phe chính quyền đã kích nhưng lại được Giáo Hội Cơ Ðốc sử dụng như một lá chắn hộ giáo để chống lại các lãnh chúa.
Ảnh Hưởng của Aristotle
Sau giai đoạn của John (thuộc Salisbury) không bao lâu thì giáo lý Cơ Ðốc bị khủng hoảng nặng nề khi đương đầu với tư tưởng thực tế của Aristotle do dân A¨ Rập và Do Thái đưa vào Châu Âu. Giáo Hội La Mã thời Trung cổ công nhận giá trị giới hạn của luận lý pháp nhưng lại tin tưởng tuyệt đối là con người chỉ có thể tìm được chân lý qua sự tín ngưỡng, và đời sống tốt đẹp nhất là đời sống theo Thiên Chúa giáo. Trong khi đó vị Triết Gia - danh từ của người Âu châu thời Trung cổ gọi Aristotle - tin rằng lý luận pháp là chìa khóa để mở cánh cửa đưa đến chân lý và đời sống tốt đẹp. Tư tưởng thực tế của Aristotle với những ý kiến đặc sắc ảnh hưởng bao trùm các lãnh vực vật lý học, sinh vật học đến chính trị học, tâm lý học, và khiến nhiều học giả bắt đầu nghi ngờ về các giáo điều mù quáng của Thiên Chúa giáo. Sự kiện Cổ Hy Lạp không biết đến Thiên Chúa giáo và chỉ dựa vào phương pháp luận lý - thay vì lòng tín ngưỡng Chúa - để đạt được các thành tựu phi thường trong lãnh vực khoa học, xã hội, chính trị, v.v., khiến nhiều học giả thời Trung cổ kính phục và đem ra so sánh với những gì nhân loại biết được về giáo lý Cơ Ðốc.
Ðứng trước nguy cơ khủng hoảng tinh thần bởi vì sự nghi ngờ của các học giả về chân lý Thiên Chúa, Giáo Hội ra lệnh ngăn cấm việc nghiên cứu tư tưởng của Aristotle. Nhưng các cố gắng của Giáo Hội Thiên Chúa chỉ là những hành động tuyệt vọng và gặp phản ứng ngược từ dân chúng. Người dân Âu Châu càng tin tưởng vào triết lý của Aristotle và càng hoài nghi hơn về giáo điều Cơ Ðốc. Cuối cùng để lèo láy Cơ Ðốc giáo khỏi cơn hoạn nạn tinh thần, Giáo Hội quyết định phải Thiên Chúa hóa tư tưởng của vị Triết Gia. Các bộ óc thông thái nhất của Giáo Hội bắt đầu học hỏi và phân tích quan niệm của Aristotle với mục đích tìm ra các điểm tương đồng cũng như giảm chế các phần khác biệt giữa trường phái luận lý pháp và giáo điều Thiên Chúa. Một trong các học giả ưu tú của Giáo Hội là Thánh Thomas Aquinas (1227-1274). (Công trình nghiên cứu của Aquinas đã được Giáo Hoàng John XXII chính thức đưa vào giáo trình căn bản của đạo Thiên Chúa năm 1879). Aquinas cố gắng dung hòa sự tương phản giữa tư tưởng của Aristotle và giáo lý Cơ Ðốc với mục đích chứng minh sự khác biệt chỉ là bề ngoài và trên hình thức, ngoài ra căn bản tư tưởng của vị Triết Gia vẫn phù hợp với giáo lý Thiên Chúa. Ông cho là lý luận chỉ có thể giúp cho nhân loại hiểu rõ một số lãnh vực nằm ngoài giáo lý Thiên Chúa, và con người không thể dùng luận lý pháp để phân tích đạo lý. Nhân loại chỉ có thể hiểu được giáo lý Cơ Ðốc khi được Thượng Ðế hướng dẫn, và Thượng Ðế chỉ hướng dẫn những ai theo đạo Thiên Chúa thôi. (Thượng Ðế cũng có vẻ kỳ thị nhân loại ở đây!). Aquinas mô tả tư tưởng của ông như một mô hình tam giác với Thượng Ðế ở ngai vị tột đỉnh và nhân loại ở gần Thượng Ðế bởi vì con người có linh hồn và khả năng luận lý.
Ðể dung hòa với triết lý của Aristotle, Aquinas phải phủ nhận ý kiến cổ hủ của Thánh Augustine (chính quyền là sản phẩm của tội lỗi và tồn tại do tội lỗi của con người) để chấp nhận quan niệm con người có chính trị tính, và tính bẩm sinh này khiến con người tập hợp thành xã hội. Tuy vậy, Aquinas mạnh dạn Thiên Chúa hóa tư tưởng của Aristotle bằng cách lý luận là vị Triết Gia không thể biết đến mục đích cao cả của con người là sự cứu rỗi linh hồn (để đưa đến việc thành lập Cộng Ðồng Thịnh Vượng Thiên Chúa giáo) bởi vì Aristotle chưa từng sống trong xã hội Cơ Ðốc giáo. Aquinas viết là vai trò của chính quyền không chỉ dừng lại ở chỗ giúp người dân đạt được cuộc sống an lạc mà còn phải xây dựng đất nước thành một quốc gia Thiên Chúa giáo hầu giúp cho người dân đạt được mục đích cứu rỗi linh hồn. Theo Aristotle, đời sống thanh bình tốt đẹp là mục tiêu chính của nhân loại; Aquinas đi xa hơn với quan niệm là đời sống an lạc thực ra chỉ là một phương tiện để đi đến mục tiêu cứu rỗi linh hồn. Aquinas đưa ra ý kiến tổ chức đất nước theo mô hình quốc gia phúc lợi (welfare) với chính quyền chi phối đời sống của nhân dân qua các phương pháp như kiểm soát tiền tệ, vật giá, v.v. Chính sách của chính quyền được áp dụng để giữ nền kinh tế được quân bình hầu tạo một môi trường vật chất thuận tiện cho nỗ lực cứu rỗi linh hồn.
Theo Aquinas, mọi người đều bình đẳng trước Thượng Ðế; tuy vậy không phải ai cũng có khả năng sử dụng luận lý pháp như nhau. Dựa trên căn bản này ông ca ngợi chế độ quân chủ bởi vì luật thiên nhiên đòi hỏi những cá nhân có tài và có khả năng phải mang trọng trách lãnh đạo quốc gia. Tuy nhiên, Aquinas chủ trương là vua phải được bầu lên chứ không có chuyện cha truyền con nối ngai vua.
Lý luận của Aquinas bắt đầu lũng cũng khi ông bàn về tình trạng quốc gia đối đầu với một lãnh tụ lạm quyền và không công bằng. Bởi vì nhà vua được chọn lựa cho nên nhân dân phải dùng các phương tiện hợp pháp để trục xuất một vị vua gian ác; nhân dân không thể làm cách mạng để giết vua và thay đổi cơ chế chính quyền. Theo Aquinas, nhân dân thà có một ông vua gian ác còn hơn là phải đối đầu với hiểm họa đất nước bị phân chia. Sự cai trị ác độc của lãnh tụ có thể phản ảnh ý định trừng phạt người dân của Thượng Ðế (?) Và nếu các phương tiện hợp pháp không thể truật xuất vị lãnh tụ gian ác, người dân chỉ còn cách duy nhất là cầu nguyện Thượng Ðế. Nếu Thượng Ðế không đáp lại lời cầu nguyện để bắt buộc lãnh tụ quốc gia thoái vị thì nhân dân phải chấp nhận vị lãnh tụ gian ác này bởi vì đó là ý của Thượng Ðế (?)
Khi bàn về phương diện pháp luật thì ý kiến của Aquinas tương đối hợp lý và trong sáng hơn. Theo ông, vua phải quản trị quốc sự theo luật pháp. Vũ trụ có bốn loại luật: luật Bất Diệt, luật thiên nhiên, giáo lý và luật của con người. Luật Bất Diệt là các nguyên tắc của Thượng Ðế dùng để quản trị vũ trụ mà nhân loại không thể hiểu được (ngay cả qua phương pháp luận lý). Luật thiên nhiên bao gồm tất cả các động cơ tự nhiên đưa con người đến các hành động cần thiết và chính đáng như ăn uống, tập hợp thành xã hội. Chính các động cơ tự nhiên này thúc dục loài người tổ chức xã hội, tìm kiếm chân lý và phương tiện để phát triển cộng đồng nhân loại. Giáo lý hay thần luật được Thượng Ðế truyền đạt cho nhân loại và được ghi trong kinh Thiên Chúa (Kinh Thánh: Cựu và Tân Ước); giáo lý Cơ Ðốc là những nguyên tắc hành động mà con người phải tuân theo. Nhân luật tổng hợp các phong tục và tập quán của nhân loại với một số nguyên lý của luật thiên nhiên.
Nhân luật không thể đi ngược lại với luật thiên nhiên nếu muốn giữ được đặc tính công bình bởi vì luật thiên nhiên chứa đựng các nguyên tắc quy định cách xử thế để đạt được đời sống tốt đẹp. Con người không thể thay đổi luật Bất Diệt và thần luật (giáo lý Thiên Chúa) và phải tuân phục các điều lệ này theo cách giảng dạy của những người nghiên cứu về khoa thần học. Dĩ nhiên độc giả không cảm thấy ngạc nhiên khi biết Aquinas giữ lại cho Giáo Hội Cơ Ðốc quyền xác định ý nghĩa của các Thánh ý và bắt buộc mọi người phải tuân phục theo một cách mù lòa. Ông còn đi xa hơn và đòi hỏi chính quyền phải quản trị quốc sự theo đường hướng của Giáo Hội Cơ Ðốc bởi vì chỉ có Giáo Hội mới biết cách cứu rỗi linh hồn của nhân loại. Tư tưởng của Aquinas bắt buộc lãnh tụ của các quốc gia trở thành chư hầu của Giáo Hội Cơ Ðốc, và Giáo Hội trở thành trung tâm quyền lực của đế quốc Thiên Chúa giáo. Tuy vậy, có lẽ Aquinas nhận thức được là nhiều lãnh tụ quốc gia không theo Công giáo La Mã cho nên ông viết là quốc gia có quyền tự trị trong các vấn đề quốc gia, và Giáo Hội Cơ Ðốc chỉ can thiệp khi lãnh tụ không tôn trọng luật thiên nhiên. Khi lãnh tụ quốc gia cai quản đất nước theo luật thiên nhiên thì tín đồ Thiên Chúa phải tuân phục lãnh tụ mặc dầu lãnh tụ không theo Cơ Ðốc giáo. Tín đồ Thiên Chúa chỉ bất tuân mệnh lệnh của lãnh tụ trong các trường hợp lãnh tụ đi ngược lại với các nguyên tắc của luật thiên nhiên.
Mặc dầu vẫn giành cho Giáo Hội Cơ Ðốc độc quyền chi phối chính quyền để hướng dẫn quốc gia theo Thiên Chúa giáo, Aquinas đã góp phần tách rời ảnh hưởng tôn giáo ra khỏi môi trường chính trị. Ông công nhận là uy quyền chính trị của quốc gia đến từ thiên nhiên chứ không phải từ Giáo Hội Cơ Ðốc. Nếu chính phủ tiếp tục quản trị quốc sự theo các nguyên tắc của luật thiên nhiên, công dân và tín đồ Công giáo không được phản đối và Giáo Hội Cơ Ðốc không có quyền chi phối chính sự.
. . . . . . . . . . Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 37-54
(Phần kế tiếp: Xung Ðột Tư Tưởng giữa Vai Trò Thần Quyền và Chính Quyền II)