Xung Ðột Tư Tưởng giữa Vai Trò Thần Quyền và Chính Quyền II  - William, Marisillio và Jean Bodin 

 (Trích từ Triết Lý Quốc Trị Tây Phương của Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1994. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn chứng.) 

Quan Niệm Thần Quyền Tuyệt Ðối  Bị Chôn Vùi Bởi Thực Tế Chính Trị 

Trong suốt thời Trung cổ, người dân Âu Châu chứng kiến sự đụng độ triền miên giữa các Giáo Hoàng Cơ Ðốc và nhiều lãnh tụ quốc gia. Với sự phá sản hoàn toàn của đế quốc La Mã, vai trò của Giáo Hoàng được đưa lên tột đỉnh quyền uy với âm mưu bảo toàn đế quốc tinh thần Thiên Chúa giáo. Năm 1198, Innocent III trở thành Giáo Hoàng và bắt đầu sử dụng giáo quyền một cách độc đoán vì nhu cầu đoàn kết xã hội (Thiên Chúa giáo). Dĩ nhiên đế quốc Thiên Chúa giáo phi biên thùy không thể tồn tại bởi vì Giáo Hội Cơ Ðốc không có khả năng thay thế chính quyền. Song song, lòng yêu nước của người dân kể cả tín đồ Cơ Ðốc bắt đầu bộc phát sau một thời gian dài bị đế quốc La Mã ngăn cấm; họ cảm thấy gắn bó với lãnh tụ quốc gia hơn là Giáo Hội ở tận Rome xa xôi. Chính nhà vua chứ không phải các giáo sĩ Thiên Chúa trực tiếp bảo vệ quyền lợi của dân cho nên lòng trung thành của dân bắt đầu hướng về nhà vua, đặc biệt là sau khi quân đội của vua triệt hạ bọn lãnh chúa để chấm dứt chế độ phong kiến ở Âu Châu. Năm 1294, Boniface VIII được thượng phong thành Giáo Hoàng. Là một nhân vật ngạo mạng và đầy tham vọng, Boniface muốn tái lập uy quyền tuyệt đối cho ngôi vị Giáo Hoàng. Ông ta ra lệnh cắt đứt nguồn tài trợ từ các giáo phận địa phương cho lãnh tụ quốc gia trong khi họ đang cố gắng dẹp bọn lãnh chúa (chính quyền bị cấm không được đánh thuế giai cấp giáo sĩ ngoại trừ khi được Giáo Hoàng cho phép). Quyết định này bị các quốc gia chống đối mãnh liệt. Anh Hoàng Edward đe dọa là ông sẽ không bảo vệ an ninh cho giới giáo sĩ sinh hoạt trong lãnh thổ Anh quốc. Hoàng vương Phillip phản ứng mạnh hơn bằng cách ngăn cản không cho giáo phận địa phương thuyên chuyển tài vật từ Pháp quốc về Rome. 

Gặp phải sự phản đối mãnh liệt từ các quốc gia, Boniface phải chịu thua trong cuộc đấu trí này. Nhưng vào năm 1302, ông ta lại tự phong mình thành Hoàng Ðế của các quốc gia theo Thiên Chúa giáo. Boniface đòi hỏi chính quyền phải phụ thuộc vào quyền uy tinh thần của Giáo Hội Cơ Ðốc: Lưỡi gươm chính quyền nằm dưới lưỡi gươm thần quyền. 

Tham vọng quá đáng của Giáo Hoàng Boniface đã đưa đến cái chết của ông. Hoàng vương Phillip nhóm họp Hội Ðồng Nội Các trong đó có thành phần giáo sĩ Thiên Chúa cao cấp của Pháp quốc. Hội Ðồng Nội Các Pháp đi đến quyết định kết án Boniface là nhân vật vô đức, phạm tội sát nhân, v.v., và đề nghị truất phế ông ta ra khỏi ngôi vị Giáo Hoàng Cơ Ðốc. 

 Một trong các giáo sĩ Cơ Ðốc ủng hộ việc truất phế Boniface là John Ba-Lê. Ông ta đưa ra một lý luận vững chải để ủng hộ Pháp Hoàng Phillip. John quan niệm rằng quốc gia được hình thành theo định luật thiên nhiên và không liên quan gì đến tôn giáo. Chính quyền tồn tại hàng ngàn năm trước khi Thiên Chúa giáo xuất hiện cho nên không có lý do gì để chính quyền phải lệ thuộc vào Giáo Hội Cơ Ðốc. Nhân loại vẫn có thể sống một đời sống an lạc ngay cả khi không có Giáo Hội Thiên Chúa. 

Hoàng vương Phillip gởi một đội quân qua Rome tổ chức bắt cóc Giáo Hoàng. Boniface bị bắt ở Anaqui nhưng được giải thoát; ông ta qua đời một vài tuần sau đó. Người lên kế vị Boniface là Benedict XI cũng thọ không quá vài tháng sau khi nhậm chức Giáo Hoàng. Clement V vốn là người Pháp được đề cử nắm giữ chức lãnh đạo Giáo Hội Cơ Ðốc sau cái chết của Benedict X¼ Clement nhậm chức và sau đó rời kinh đô Thiên Chúa giáo từ Rome về Avignon ở Pháp. 
Vào năm 1313, sự ra đi của Hoàng Ðế La Mã bù nhìn Henry VII (vốn do Giáo Hội Cơ Ðốc ủng hộ và giựt dây) đưa đến vụ tranh giành ngôi vị Hoàng Ðế (bù nhìn) giữa lãnh tụ Frederic của A¨o quốc và lãnh tụ Lewis của xứ Bavarian. Giáo Hoàng đương thời là John XXII ở Avignon ủng hộ Frederic và lên tiếng đòi nắm vai trò quyết định trong cuộc chọn lựa Hoàng Ðế. John XXII chẳng những bị các lãnh tụ quốc gia khác đã kích mà còn bị một số giáo sĩ Cơ Ðốc dòng Franciscan cực lực chống đối. Trong cuộc thử trí này xuất hiện hai triết gia với các quan niệm xuất sắc: giáo sĩ Anh William (thuộc Occam) và giáo sĩ Y¨ Marisillio (thuộc Padua). 

William và Marisillio

William (1280-1349) nằm trong nhóm giáo sĩ dòng Franciscan chống đối lại Giáo Hoàng John XXI¼ Ông muốn Giáo Hội trở lại với thuyết hai lưỡi gươm lúc đầu và Giáo Hoàng phải tránh các hành động có thể chi phối quốc sự. Uy quyền của Giáo Hoàng chỉ nhằm vào việc cứu rỗi linh hồn của tín đồ và không thể vượt khỏi vòng đai trách nhiệm này. Trong khi đó lãnh tụ quốc gia mang nhiệm vụ giúp cho người dân đạt được đời sống an lạc tốt đẹp. Vì vậy cho nên khi lãnh tụ quốc gia được nhân dân bầu lên, ông ta phải được toàn quyền quản trị quốc sự để phục vụ cho quyền lợi chung của nhân dân; dĩ nhiên là nhân dân có quyền truất phế một lãnh tụ cai trị công bình, phạm pháp hay chỉ biết lo cho tư lợi. 

Marisillio (1270-1342) theo ngành thần học nhưng lúc đầu ông không chịu phục vụ Giáo Hội Thiên Chúa. Sau một thời gian học hỏi thêm ngành y và làm việc trong quân đội, ông được đề cử làm linh mục tại Ðại Học Ba Lê. Sau này ông được Giáo Hoàng John XXII bổ nhiệm làm giáo sĩ cho giáo phận Padua. Tương tự như nhiều người Y¨ thời đó, Marisillio quy thảm cảnh Y¨ quốc bị chia rẻ cho tà ý chi phối quốc sự của Giáo Hội Cơ Ðốc. Ông viết sách Người Bảo Vệ Hòa Bình (Defensor Pacis) để tấn công âm mưu xây dựng quyền uy đế quốc của các Giáo Hoàng. 

Marisillio lý luận rằng nếu không có sự can thiệp của Giáo Hội vào nội bộ quốc gia, con người vẫn có thể tự xây dựng được đời sống tốt đẹp. Nguyên tắc căn bản để xây dựng một quốc gia an lạc là quyền tự quyết tối thượng của toàn dân. Uy quyền chính trị tối cao phải nằm trong tay của nhân dân. Trong mô hình chính trị của Marisillio, các chuyên gia thông thái sẽ nghiên cứu và đưa ra nhiều đề nghị hữu ích nhưng nhân dân có quyền chọn lựa giữa các đề nghị trong khi lập pháp. 
Marisillio công nhận là con người vốn ích kỷ; nhưng ông cũng tin tưởng rằng nếu so với quyết định của một cá nhân hay một vài nhân vật, quyết định chung của mọi người hay hơn và thu hút được tinh thần trách nhiệm cao hơn. Lãnh tụ phải quản trị quốc sự theo luật pháp của nhân dân bởi vì nhân dân, chứ không phải luật thiên nhiên, nắm quyền tối thượng trong một quốc gia. 

Qua tác phẩm của Marisillio, độc giả có thể nhận thấy được một số nguyên tắc tương tự các định lý của chính thể dân chủ cộng hòa hiện nay. Mặc dầu con người có khác nhau về khả năng cá nhân nhưng ai cũng có phần trong các sinh hoạt chính trị. Một quốc gia tự do chỉ tồn tại được khi toàn thể công dân kể cả những người nghèo nhất có tiếng nói trong tiến trình lập pháp vốn ảnh hưởng đến đời sống của họ. 

Khi bàn về tôn giáo, Marisillio viết là sinh hoạt của Giáo Hội phải theo thần lý đến từ Thượng Ðế chứ không phải con người (ông ám chỉ Giáo Hoàng và các giáo sĩ thuộc hạ). Thượng Ðế chứ không phải Giáo Hội có quyền trừng phạt những kẻ không theo giáo lý Thiên Chúa. Chính quyền có thể quyết định trừng phạt những người không theo giáo lý Cơ Ðốc, nhưng Giáo Hội không thể làm như vậy ngoại trừ khi được chính quyền cho phép. 

Giáo Hội cần có tài sản để sinh hoạt nhưng tất cả tài sản trong quốc gia đều phải nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền. Giáo Hội có thể được hưởng những đặc lợi như được miễn thuế lợi tức, nhưng Giáo Hội phải biết đó là các đặc quyền do chính quyền ban phát. Tương quan giữa Giáo Hoàng và chính quyền tương tự như sự liên hệ giữa một giáo sĩ ở cấp thấp nhất và chính quyền. Chức vụ Giáo Hoàng được đặt ra do nhu cầu quản trị giáo sự, và cá nhân Giáo Hoàng không có gì hơn những giáo sĩ Cơ Ðốc khác; Giáo Hoàng chắc chắn không phải là người thừa tự của Thánh Peter. (Marisillio còn nghi là Thánh Paul mới chính là vị giáo sĩ đầu tiên ở Rome. Không có dữ kiện gì chứng minh là Peter có mặt ở Rome trong khi đó Paul từng giảng đạo ở Rome khoảng 2 năm.) 

Marisillio đề nghị dân chủ hóa Giáo Hội Cơ Ðốc bằng cách thành lập một Hội Ðồng Quản Trị bao gồm các giáo sĩ và tín đồ có khả năng được bầu lên bởi tín đồ ở các quốc gia theo Thiên Chúa giáo. Hội Ðồng Quản Trị này có nhiệm vụ bầu ra Giáo Hoàng và quyết định về ý nghĩa của các lời dạy trong Thánh kinh. Tuy không yêu cầu tách tời tôn giáo và chính quyền, Marisillio đã đưa chính quyền vào ngôi vị chính trong quốc gia. Các giáo sĩ Thiên Chúa phải tuân theo luật pháp của quốc gia như những công dân khác. Marisillio bình thường hóa vấn đề tín ngưỡng giữa Thượng Ðế và tín đồ Thiên Chúa; ông xóa đi vai trò trung gian của Giáo Hội giữa Thượng Ðế và những người theo Cơ Ðốc giáo. Chính tư tưởng khai phóng này góp phần mở rộng một cánh cửa mới cho sự nhận thức của nhân loại về tương quan giữa tôn giáo và con người. Tư tưởng của Marisillio cũng như của William xây dựng căn bản cho một phong trào đòi cải tổ sôi nổi nhằm giới hạn quyền uy của Giáo Hoàng Cơ Ðốc. Khi kinh đô Thiên Chúa giáo được dời trở lại Rome, các Giáo Hoàng mới tiếp tục xen vào quốc sự của Y¨ quốc. Tệ hại hơn cả là khi một số giám mục đầy tham vọng tự phong thành Giáo Hoàng Cơ Ðốc để rồi tranh giành nhau ngai vị tôn giáo tối cao này (the Great Schism 1378-1417). Uy danh của Giáo Hội Thiên Chúa tuột dốc một cách thê thảm khiến nhiều tín đồ phải lên tiếng đòi hỏi cải cách tổ chức Thiên Chúa giáo. 

Nhóm tín đồ Hòa Giải lo sợ là nếu Giáo Hội không tự canh tân từ bên trong thì lý tưởng đoàn kết Thiên Chúa giáo có thể bị các nhóm cải tổ bên ngoài làm tiêu tan. Phong trào Hòa Giải giúp dàn xếp thành công vụ Tranh Ðoạt Ngôi Vị Giáo Hoàng 1378-1417 nhưng thất bại trong nổ lực dân chủ hóa tổ chức Cơ Ðốc giáo. Quan niệm quyền uy của Giáo Hội nằm trong tay tất cả các tín đồ và Giáo Hoàng chỉ là đầy tớ của tín đồ do phong trào Hòa Giải đưa ra (dựa trên tư tưởng của William và Marisillio) không được áp dụng. Giáo Hoàng đương thời giảo quyệt lợi dụng sự khác biệt ý kiến giữa các phái đoàn đại diện tín đồ trong phong trào Hòa Giải để chia rẽ Hội Ðồng Constance vốn có nhiệm vụ tìm cách dân chủ hóa Giáo Hội. Sự bất đồng ý kiến khiến nhiều đại diện bất mãn để rồi cuối cùng quay sang ủng hộ Giáo Hoàng. Nổ lực dân chủ hóa tổ chức Thiên Chúa giáo của những tín đồ thành tâm tạm thời bị trì trệ ở đây nhưng tái bùng nổ khi đương đầu với phong trào Cải Tổ 1517 do Martin Luther và John Calvin dẫn đầu.   

Luther và Calvin với đạo Tin Lành

Linh mục người Ðức Martin Luther (1483-1546) bắt đầu kêu gọi canh tân Giáo Hội Cơ Ðốc sau chuyến viếng thăm Rome năm 1510. Như những tín đồ Cơ Ðốc thành tâm khác, Luther cảm thấy bẽ bàng khi ông đặt chân lên kinh đô Thiên Chúa giáo lúc đó. Cảnh tượng Giáo Hoàng và các Hồng Y cặp kè tình nhân, công khai lo cho đám con rơi và tư lợi của họ trong khi uy danh của Giáo Hội ngày càng tuột dốc khiến Luther trở nên hoang mang. 

Trong giai đoạn ban đầu của nổ lực cải tổ Giáo Hội, Luther vẫn tự tin là ông có thể chuyển hóa được giới lãnh đạo Thiên Chúa giáo lúc đó. Nhưng ông không ngờ là chính cá nhân ông bị trục xuất ra khỏi Giáo Hội bởi vì ông dám xác định vai trò tối thượng của Thánh kinh và phủ nhận thần quyền tuyệt đối của Giáo Hoàng. 
Luther quan niệm rằng nhân loại phải trở về với đời sống đơn giản để không bị ảnh hưởng bởi các giáo điều do Giáo Hội truyền giảng. Chính sự bình dị trong cuộc sống sẽ giúp cho con người thấu hiểu lời Thượng Ðế dạy. Chính lòng tin, hơn là việc làm, sẽ cứu rỗi linh hồn. Tín đồ Cơ Ðốc thành tâm sẽ cảm nhận được Thượng Ðế một cách trực tiếp mà không qua môi giới của Giáo Hội. Chính những hành động phạm giáo như nhận tiền để giảm tội cho những kẻ giàu có đã biến Giáo Hội thành vật cản trở quan hệ giữa tín đồ và Thượng Ðế. 

Song song với việc chống lại chính sách bắt buộc giáo sĩ phải ở độc thân (nhưng không được Giáo Hội thi hành!), Luther còn chê bai tư tưởng của Plato vốn được Giáo Hội Cơ Ðốc sử dụng để biện luận cho chủ trương chỉ có một số cá nhân (Giáo Hoàng và các giáo sĩ lãnh đạo Giáo Hội) có thể hiểu được Chân Lý để bắt tín đồ phải tuân hành một cách mù quáng theo ý muốn của các nhân vật này. Luther xác định rằng một cá nhân không đương nhiên có thể trở thành một tín đồ thành tâm. Một cá nhân có thể mang giáo danh, rước lễ ở nhà thờ, và tự xưng là tín đồ Thiên Chúa nhưng chưa chắc là người chịu sống theo tinh thần Cơ Ðốc giáo. Lễ Báp-tem không biến một người thành tín đồ Cơ Ðốc bởi vì nhiều người đã thụ lễ Báp-tem nhưng vẫn lợi dụng danh nghĩa của Thượng Ðế để giết hại kẻ khác. Một tín đồ Thiên Chúa thành tâm phải sống theo lời dạy của Thượng Ðế trong Thánh kinh. Luther kết luận rằng vai trò của chính quyền rất cần thiết bởi vì xã hội còn nhiều người không sống theo lời dạy của Thượng Ðế. Giáo sĩ không thể trừng trị những tín đồ bất trung cho nên chính quyền được trao uy quyền để giữ an ninh trong xã hội. (Ðộc giả có thể nhận thấy quan niệm của Luther ở đây phản phất ý kiến của Thánh Augustine: chính quyền tồn tại do tội lỗi của nhân loại). 

Theo Luther, mỗi người tự chịu trách nhiệm về lòng tin của mình và chính quyền không thể bắt buộc công dân theo bất cứ đạo giáo nào. Tín ngưỡng phụ thuộc lương tâm và không thể bị bạo lực của chính quyền hay Giáo Hội chi phối. Quan niệm của Luther cho phép nhân dân bất tuân phục chính quyền nếu họ bị bắt buộc phải làm trái ngược với lương tâm của họ. Tuy vậy, nhân dân không thể nổi lên chống lại chính quyền. Hình thức phản kháng thụ động được Luther xem như là phương pháp tốt nhất; nếu một lãnh tụ cai trị thiếu công bình, nhân dân chỉ có thể phản kháng một cách thụ động. (Ðộc giả cũng cần biết là Luther được các lãnh tụ quốc gia bảo vệ trong khi chống lại Giáo Hoàng cho nên quan niệm của ông khó có thể cho dân được nổi lên lật đổ chính quyền). Vai trò của chính quyền là giữ an ninh bằng mọi giá cho nên quân đội có thể đàn áp triệt để bất cứ cuộc bạo động nào. Luther lý luận rằng lãnh tụ là phương tiện của Thượng Ðế sử dụng để giữ gìn an ninh và trừng trị những kẻ phạm tội. 

Luther cũng như Calvin sau này đều là những nhà cách mạng tôn giáo. Họ không những muốn cải tổ Giáo Hội Cơ Ðốc về phương diện tổ chức mà còn về phương diện giáo lý. Luther nhúm lại ngọn lửa canh tân tôn giáo với tinh thần cách mạng, nhưng phải đợi đến Calvin thì ngọn lửa đó mới bùng nổ mạnh và thay đổi vĩnh viễn lịch sử Thiên Chúa giáo. Trong khi Luther nhấn mạnh vào lòng tin cá nhân hơn là hành động, Calvin nhấn mạnh vào nổ lực phụng sự Thượng Ðế để chứng tỏ lòng thành tâm đối với Thượng Ðế. Trong khi Luther nhờ vào các lãnh tụ quốc gia để phát triển tín đồ, Calvin bắt buộc tín đồ phải tự lực phát triển vòng đai đạo hữu. Trong khi Luther theo sát Thánh kinh và chống lại việc cho vay tiền lấy lời, Calvin không kết tội hành động này cho nên ông được giới thương gia ủng hộ nhiệt liệt. Nhờ vào những khác biệt này mà Calvin có thể xây dựng được một tân giáo vững mạnh và có ảnh hưởng lâu dài. 

Tư tưởng của John Calvin (1509-1564) đặt căn bản trên quan niệm quyền uy tối thượng của Thượng Ðế. Ðời sống là một vở kịch do Thượng Ðế dựng lên và mỗi người mang một số phận. Mặc dầu không thể thay đổi số phận, con người vẫn phải sống theo Thiên Chúa Thập Giới. Thánh kinh chứa đựng giáo lý về tất cả các phương diện của đời sống mà mọi người phải tuân theo. Bởi vì xã hội còn có nhiều tín đồ bất tín cho nên Calvin đề nghị hình thức chính thể giáo trị với các giáo sĩ nắm giữ vai trò quản trị quốc sự. 

Calvin quan niệm tương tự như Luther khi ông bàn rằng chính quyền là phương tiện của Thượng Ðế cho nên nhân dân không được bạo động chống lại lãnh tụ bất công. Calvin thành công trong nổ lực xây dựng một chính quyền giáo trị ở Geneva mặc dầu phương pháp chọn lựa lãnh tụ trên thực tế không được dân chủ; giới giáo sĩ hoàn toàn chi phối các sinh hoạt của Hội Ðồng Nhân Dân. (Mô hình chính trị của Calvin tồn tại cho đến ngày nay ở những quốc gia mà nhân dân chỉ có quyền bầu cho các ứng cử viên của một đảng chính trị mà không có sự chọn lựa nào khác). 

Trong khi tư tưởng của Luther nâng cao vai trò của chính quyền và đã phá uy quyền tuyệt đối của Giáo Hoàng, Calvin sử dụng lại thuyết hai lưỡi gươm nhưng lại đặt cả hai lưỡi gươm vào tay của các giáo sĩ. Quan niệm của Calvin sau này được John Knox phát triển thêm và cho phép tín đồ bạo động chống lại Hoàng Hậu Mary của Tô-Cách-Lan vốn theo Thiên Chúa giáo La Mã. Từ đó tư tưởng của Calvin được giải thích cho phù hợp với từng hoàn cảnh; tín đồ Tin Lành (tân giáo) theo hệ phái Calvin có thể được hướng dẫn để phản kháng một cách tiêu cực hay bạo động tùy theo khả năng của các giáo sĩ kiểm soát chính sự tại mỗi quốc gia. Sau khi Calvin qua đời, các tín đồ thuộc hệ phái của ông ngày càng hoạt động mạnh hơn khiến tín đồ Thiên Chúa giáo La Mã phản ứng kịch liệt. Chiến tranh giữa hai nhóm này núp dưới danh nghĩa phụng sự Thượng Ðế bùng nổ khắp nơi từ Pháp, Tô-Cách-Lan qua đến Ðức, Hòa Lan. Nhiều cuộc tàn sát đẫm máu xảy ra làm dân tình oán trách. Tình trạng này khiến nhiều tài năng mới phải nhảy vào chính trường để tìm ra phương pháp cứu vãn tình hình. Pháp quốc là nơi có nhiều biến động nhất và cũng là nơi xuất hiện nhiều học thuyết quốc trị vào cuối thế kỷ 16 đáng để nghiên cứu. 

Trong khi đại đa số dân Pháp cũng như hoàng tộc Pháp theo Thiên Chúa giáo La Mã, thiểu số tín đồ Tin Lành ở Pháp lại mang tính khí bạo động. Khi chính quyền Pháp quyết định đàn áp sự bành trướng của hệ phái Calvin, nội chiến bùng nổ và kéo dài khoảng một phần ba thế kỷ. Năm 1589, lãnh chúa Henry của Navarre dành được ngai vàng và trở thành Pháp Hoàng Henry IV. Vốn là một tín đồ Tin Lành cho nên Henry gặp phải vô vàn khó khăn khi tổ chức chính phủ. Cuối cùng Henry phải cải đạo theo Cơ Ðốc giáo La Mã để giải tỏa sự chống đối của tín đồ Thiên Chúa và ổn định ngai vàng. 

Năm 1598, Henry nới rộng quyền tự do tín ngưỡng cho tín đồ theo hệ phái Calvin. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Âu Châu chính quyền công nhận là hai tôn giáo có thể cùng sinh hoạt trong một quốc gia. Dân Pháp bao gồm tín đồ Thiên Chúa La Mã và Tin Lành tán thành quyết định của Henry bởi vì họ quá chán nản chiến tranh tôn giáo triền miên dưới danh nghĩa phụng sự Thượng Ðế. 

Trong lãnh vực lý thuyết, hai trường phái xuất hiện với một số quan điểm mới phản ảnh sự chán chường chiến tranh tôn giáo cũng như nổ lực tập trung quyền hành của nhà vua hầu chống lại các lãnh tụ địa phương. Trường phái tôn vương của đảng chính trị Politiques lý luận rằng vua nhận quyền cai trị trực tiếp từ Thượng Ðế cho nên phải được tuân phục. Dân chỉ có thể phản kháng một cách tiêu cực chứ không thể làm cách mạng để xử tội nhà vua bởi vì nhà vua chỉ chịu trách nhiệm trước Thượng Ðế chứ không phải trước nhân dân. 

Trường phái tôn dân chống lại sự tập trung quyền lực vào tay vua được nhóm tín đồ Tin Lành cổ vỏ. Nổi tiếng nhất trong các tài liệu đương thời là tác phẩm Bảo Vệ Tự Do chống lại Ðộc Tài (Vindiciae contra Tyrannos) được viết dưới bút hiệu bí mật Stephen Junius Brutus. Tác phẩm này vốn chú trọng vào việc phân tích quyền của nhân dân chống lại lãnh tụ trong lãnh vực tôn giáo, nhưng ảnh hưởng của tác phẩm lan tràn qua cả những lãnh vực khác. 

Tác giả của Vindiciae contra Tyrannos trả lời bốn câu hỏi: (1) dân có phải tuân phục một lãnh chúa cai trị theo đường hướng chống lại Thượng Ðế hay không; (2) dân có thể phản kháng chống lại lãnh chúa trong trường hợp này hay không; (3) hành động chống lại lãnh chúa vốn đang phá nát quốc gia có hợp lý hay không; và (4) những lãnh chúa đứng bên ngoài có nên trợ giúp dân ở khác vùng chống lại lãnh chúa của họ khi vị lãnh chúa này trở nên độc ác hay đánh phá một tôn giáo chân thật. 

Tác giả phân tích là trong thời đại vàng son ban đầu, xã hội được những nhà thông thái lãnh đạo theo quyền lợi chung. Tất cả tài sản đều là của chung và vạn sự đều bình an mà không cần đến bạo lực kềm hãm. Chính sự xuất hiện của tư sản đưa đến các xung đột xã hội và nhu cầu cần có chính quyền để giữ được công lý khiến kẻ giàu có không áp bức được người nghèo. Xã hội sau thời đại vàng son được đặt căn bản trên hợp đồng giữa Thượng Ðế và dân cũng như vua nhằm giữ gìn một tôn giáo chân chính, và hợp đồng giữa dân và vua nhằm xây dựng nền móng chính quyền. 

Vua phải bảo vệ lòng tín ngưỡng Thượng Ðế và nhà vua có thể bị truất phế nếu chống lại Thượng Ðế. Vua cũng có nhiệm vụ phải cai quản công bằng dựa theo pháp luật. Vua thực ra chỉ là cánh tay hành pháp của nhân dân và ông có thể bị nhân dân chống đối nếu phạm pháp. Các lãnh chúa đứng bên ngoài có thể giúp dân xứ khác chống lại vua của họ nếu vị vua này vi phạm hai hợp đồng trên. 

Ðể chống lại hấp lực của đạo Tin Lành, tín đồ Thiên Chúa giáo La Mã đưa ra phong trào Chống Cải Cách. Mặc dầu mang tên Chống Cải Cách, phong trào này thực sự cố gắng giữ thể diện cho Giáo Hội La Mã bằng một số phương pháp canh tân tổ chức Thiên Chúa giáo. Các tín đồ của phong trào này nhận thấy rằng họ khó có thể tái tạo uy quyền tột đỉnh của Giáo Hoàng. Họ công nhận sự hiện hữu của quốc gia và các lằn ranh biên giới cũng như chấp nhận là uy quyền của chính phủ bao trùm quốc gia. Họ chỉ yêu cầu rằng Giáo Hoàng được xem như là một nhân vật nắm giữ vai trò tối cao trong các vấn đề tinh thần và có tiếng nói gián tiếp trong các trường hợp cần đến sự trừng phạt về tinh thần. Với biên giới quốc gia được vạch rõ và uy quyền của các chính phủ ngày càng mạnh, nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo Chống Cải Cách vốn là những người thực tế chỉ hy vọng là chính quyền sẽ không xen vào các vấn đề tinh thần. Phong trào Chống Cải Cách cố gắng giữ lại cho Giáo Hội La Mã lưỡi gươm tinh thần; họ sợ là nếu mất luôn lưỡi gươm tinh thần, Giáo Hội sẽ bị tan rã. 

Jean Bodin

Trong khi chiến tranh tôn giáo vẫn tiếp diễn ở Pháp, một số tín đồ Thiên Chúa giáo yêu nước hơn là yêu Giáo Hội La Mã đã thành lập đảng chính trị Politiques với đường lối tôn vương. Các thành viên của đảng này đưa ra ý kiến là hòa bình chỉ có thể được tái lập bằng cách tập trung quyền lực chính trị và nâng cao vai trò của nhà vua. Cách chấm dứt chiến tranh tôn giáo nhanh nhất là công nhận nguyên tắc tự do tín ngưỡng của toàn thể công dân. Thành viên đảng Politiques là những người đầu tiên xác định quốc gia có thể bao gồm công dân theo nhiều tôn giáo khác nhau. 

Quan điểm chính quyền không nên cưỡng bức nhân dân theo bất cứ một tôn giáo nào của đảng Politiques đã tạo ra nhiều kẻ thù trong giai đoạn đó. Vào giai đoạn đầu, các thành viên còn bàn cải nhiều về quyền hạn của nhà vua. Nhưng dần dần về sau, có lẽ vì ngao ngán chiến tranh, họ thiên về chính thể quân chủ tuyệt đối. Họ không thấy có cách nào khác hơn là tập trung quyền hành vào tay của vua để tái lập hòa bình. Lịch sử cho thấy lúc hiểm nghèo con người cần đến các lãnh tụ quả quyết, và sự kiện này giúp cho nhóm Politiques tin tưởng hơn vào phương pháp giải quyết chiến tranh của họ. 

Nói đến đảng Politiques là phải nhắc đến Luật Sư Jean Bodin (1530-1596). Bodin phủ nhận các quan niệm cho là con người vốn sống trong thời đại vàng son, và xã hội của loài người ngày càng đi thụt lui. Ông dẫn chứng lịch sử và lý luận rằng vạn vật thay đổi theo chiều hướng thăng tiến. Hiện tại tốt hơn quá khứ và tương lai còn tốt hơn nữa nếu nhân loại biết học hỏi và áp dụng các kinh nghiệm lịch sử. Tuy là định lý về khí hậu ảnh hưởng con người của ông thiếu chính xác (người miền Nam thông minh nhưng thụ động, người miền Bắc kém thông minh nhưng thích hoạt động, người miền Trung là khá hơn cả), ý kiến của Bodin về lãnh vực quốc trị đáng cho chúng ta học hỏi. 

Qua Sáu Sách về chính thể Cộng Hòa (Six Livres de la République) phát hành năm 1577, Bodin quan niệm rằng gia đình là cộng đồng đầu tiên của nhân loại bao gồm vợ chồng, con cái và tư sản. Quyền tư hữu là quyền tự nhiên của gia đình - tức là quyền hiển nhiên của con người - mà chính quyền phải công nhận và bảo vệ. Uy quyền của quốc gia cũng bắt nguồn từ gia đình, và uy quyền trong gia đình nằm trong tay người cha. Gia đình cũng sẽ loạn như quốc gia nếu người cha không biết sử dụng uy quyền của mình. 

Các yếu tố như kinh tế, tôn giáo, v.v., dần dần kết hợp các gia đình thành cộng đồng rồi phát triển thành quốc gia. Quốc gia xuất hiện khi quyền tự quyết (lập pháp và hành pháp) được xác định rõ rệt. Quyền tự quyết giúp cho chính quyền đạt được các mục tiêu của quốc gia. Chủ đích của quốc gia là bảo vệ sự an lạc về tinh thần cũng như vật chất của công dân. Theo Bodin, sự tự do có nghĩa là công dân được bảo vệ và không bị bắt làm nô lệ. Công dân phải tuân theo luật pháp nhưng không có quyền lập pháp bởi vì - theo Bodin - diện tích rộng lớn của quốc gia đòi hỏi sự tập trung quyền hành để dể kiểm soát. 

Ðặt nhiều kỳ vọng vào chế độ quân chủ, Bodin khuyên là nhà vua phải biết uyển chuyển khi lập pháp nhằm hướng về quyền lợi chung và để tránh được nội loạn. Pháp luật phải được thay đổi theo nhu cầu; tuy nhiên Bodin nhấn mạnh rằng sự bất nhất không cần thiết của luật pháp có thể dẫn đến sự đối kháng. Ông cũng viết là sự cách biệt quá đáng giữa người nghèo và kẻ giàu có thể tạo ra các xung đột chính trị. Bodin không cho biết là chính quyền phải làm gì để giảm bớt sự cách biệt giàu nghèo. 

Vì nhu cầu tái tạo hòa bình ở Pháp lúc đó, Bodin sẵn sàng ủng hộ chế độ quân chủ tuyệt đối thay vì chế độ dân chủ. Mặc dầu tập trung nhiều quyền hành vào tay nhà vua, Bodin cũng vạch ra một số giới hạn mà chính quyền không nên vượt qua. Vua không thể tướt đoạt tài sản của nhân dân và chỉ có thể đóng thuế khi được dân đồng ý. Song song, những vị vua soán ngôi một cách bất hợp pháp có thể bị nhân dân truất phế. 

Y¨ niệm sáng giá nhất của Bodin có lẽ là lý thuyết quyền tự quyết của quốc gia hoàn toàn độc lập với nguyện vọng của Thượng Ðế. Quốc gia không tồn tại bởi vì ý muốn của Thượng Ðế mà là vì nhu cầu đời sống của nhân loại. Mặc dầu quốc gia có nhiệm vụ giúp đỡ đời sống tinh thần của nhân dân, mục đích chính của quốc gia là ổn định đời sống vật chất của nhân dân bởi vì đó là vấn đề sinh tử. Bodin đã tách rời vai trò của quốc gia ra khỏi ảnh hưởng tôn giáo và đưa chính quyền vào một vị thế độc lập với Giáo Hội. Ngoại trừ một số khía cạnh xã hội liên quan đến vấn đề tinh thần, tôn giáo mất dần ảnh hưởng trong nhiều lãnh vực quốc sự. 

  . . . . . . . . . .             Dương Thành Lợi, Triết Lý Quốc Trị Tây Phương, tr. 55-69