Tôn Dật Tiên với Chủ Nghĩa Tam Dân
(Trích từ Diến Đàn Dân Chủ - Trích từ
Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của
Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải không bao gồm các phụ chú dẫn chứng đối
chiếu.)
Triều đại Mãn Thanh đã khống chế Trung Hoa trong một giai đoạn dài từ năm 1644 T.L. cho đến đầu thế kỷ 20. Trong suốt thời gian này, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh vẫn chìm ngập trong chồng sách vở Tống Nho và quên đi việc chấn hưng xứ sở. Những cuộc chạm súng giữa quân đội Thanh triều và vũ lực Âu Châu - đặc biệt là Chiến Tranh Nha Phiến (the Opium War 1839-1842)Ạ - chứng minh là Trung Hoa không còn đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền quốc gia trước nanh vuốt
'bạch quỷ'.
Trước thực trạng nhu nhược của đất nước, nhu cầu canh tân Trung quốc bộc phát. Tuy vậy, những nỗ lực cải tổ ban đầu của Thanh triều bị hệ thống thư lại Tống Nho nặng nề ép chết trong trứng nước. Sự kiện sức ép Tống Nho hủ bại cản trở nỗ lực canh tân đòi hỏi các nhà ái quốc Trung Hoa phải tái xây dựng tinh thần chính trị mới với các ý niệm tự do, dân chủ, dân sinh của Tây phương. Linh hồn cách mạng Trung Hoa trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 là Tôn Trung Sơn - người khai sinh ra chủ nghĩa Tam Dân. Tôn Văn, hiệu Trung Sơn, sinh ngày 12-11-1866 tại Hương Sơn, Quảng Ðông. Lúc còn nhỏ, ông sống với người anh cả ở Honolulu, Hạ-Uy-Di (Hawaii). Khi trưởng thành, ông về lại Trung Hoa và lấy người vợ đầu do cha mẹ sắp xếp (bà Tống Khánh Linh là vợ sau của ông). Ông theo học y khoa và, sau khi tốt nghiệp, bước vào con đường cách mạng với biệt danh Tôn Dật Tiên. Mặc dầu chủ nghĩa Tam Dân chỉ vang bóng một thời tương tự như chủ nghĩa Cộng Sản nhưng ảnh hưởng của chính thuyết này trên một phần tư dân số thế giới - cũng như trong giải pháp chính trị của một số nhà cách mạng Việt Nam - đáng cho chúng ta phân tích kỹ lưỡng tư tưởng quốc trị này.
Chủ nghĩa Tam Dân
Chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn đặt căn bản trên ba nguyên lý là Dân Tộc, Dân Quyền, và Dân Sinh. Nguyên lý Dân Tộc minh xác là nhân dân phải giành lại chủ quyền quốc gia để có thể hoạch định chính sách xây dựng đất nước một cách độc lập. Các thỏa ước thiếu bình đẳng với ngoại quốc bất lợi cho dân tộc phải được hủy bỏ hoặc tái xét nhằm có lợi cho đôi bên.
Tôn Trung Sơn nhận thấy tinh thần nhân dân Trung Hoa quá suy đồi cho nên ông hô hào tái xây dựng sức mạnh dân tộc. Người dân lúc đó chỉ biết bám vào gia tộc và tông tộc để sinh tồn trong giai đoạn đất nước suy yếu. Họ đã quên đi lý tưởng dân tộc quốc gia cao cả khiến sức mạnh nhân dân bị rã rời tiêu tan trước sức mạnh chính trị và kinh tế của Tây phương.
Ông kêu gọi nhân dân Trung Hoa phải thức tỉnh để ý thức được đức tính dân tộc lâu đời của họ. Dân tộc Hán vốn thông minh và có lịch sử oanh liệt cho nên không thể để cho ngoại nhân thao túng quốc gia. Tôn Trung Sơn quan niệm rằng nếu chỉ khơi lại những quý tính dân tộc đặc thù nghìn xưa thì cũng chưa có thể xây dựng quốc gia hùng cường; ông chủ xướng là nhân dân Trung Hoa phải học lấy kinh nghiệm Tây phương với những ưu điểm và khiếm khuyết để canh tân quốc gia một cách hữu hiệu.
Trước tình trạng suy bại của quốc dân, Trung Hoa cần khôi phục tinh thần dân tộc qua ba giai đoạn gia tộc, tông tộc và quốc gia. Bước đầu là sự thông cảm và đoàn kết giữa người và người. Gương hy sinh và tinh thần bác ái của Mặc Tử và Jêsus được Tôn Trung Sơn đề cao để khuyến khích mọi người noi theo. Người và người phải tôn kính và thương nhau bất kể chủng tộc, sang hèn, chức phận. Có được sự thông cảm tương trợ giữa người và người thì dân tộc mới đoàn kết để giành lại chủ quyền quốc gia hầu canh tân đất nước. Trung Hoa có hùng cường thì mới có thể trở nên bình đẳng được với các dân tộc khác trên thế giới, và có bình đẳng với các dân tộc khác thì mới không bị ức hiếp trong các hiệp ước quốc tế.
Chính sách dân tộc cũng chủ trương bình đẳng hóa các thành phần dân tộc như Hán, Mãn, Mông, Tây Tạng, Hồi. Tuy vậy, nhà cách mạng gốc Hán Tôn Trung Sơn vẫn mong muốn chính quyền Trung Hoa phải do người Hán kiểm soát. [So sánh quan điểm của Tôn Trung Sơn và Gandhi thì chúng ta mới thấy sự vĩ đại siêu nhân của Gandhi. Gandhi - một người theo Ấn Ðộ giáo - đã đề nghị là Ấn Ðộ có thể được lãnh đạo bởi một chính quyền Hồi giáo (dân Ấn theo đạo Hồi chỉ là thiểu số) để Ấn Ðộ không bị chia đôi.]
Nguyên lý Dân Quyền chủ trương là nhân dân phải có bốn (4)
'chánh quyền' căn bản: bầu cử, đề nghị dự luật, biểu quyết bãi nhiệm chính quyền hay công chức, và phúc phủ quyết luật pháp (modify and nullify the laws). Tôn Trung Sơn đưa ra ý niệm ỏquyền năng phân lậpõ để giải quyết các khuyết điểm của tổ chức dân chủ Tây phương là sự va chạm giữa khả năng hành pháp của nhà nước và quyền hạn của nhân dân [nếu chính phủ (tài xế xe) có quá nhiều quyền hành thì nhân dân (chủ xe) không kiểm soát nổi chính phủ; trong khi đó, nếu nhân dân kiểm soát chính phủ quá chặt chẽ thì khả năng quản thống quốc sự của chính phủ bị giới hạn bất
lợi].
Ý niệm 'quyền năng phân lập' đòi hỏi nhân dân phải thay đổi thái độ nghi ngờ chính phủ bằng thái độ tín nhiệm chính phủ.Ạ Tổ chức hành chánh quốc gia phân chia ra thành
'chánh quyền' (quyền chính trị) và 'trị quyền' (quyền quản trị quốc sự).
'Chánh quyền' là của nhân dân và ỏtrị quyềnõ thuộc về chính phủ. Như đã bàn ở trên, bốn (4)
'chánh quyền' căn bản của nhân dân là quyền bầu cử, đề nghị dự luật, biểu quyết bãi nhiệm chính quyền hay công chức, và phúc phủ quyết luật pháp.
'Trị quyền' của chính phủ bao gồm quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát, và khảo thí (Ngũ Quyền Hiến Pháp). Cơ chế Giám Sát kiểm soát sự lạm dụng quyền hành hay sự đồng lõa nhằm thao túng chính phủ của các cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp.Ạ Cơ chế Khảo Thí có nhiệm vụ chọn lựa và đề cử nhân tài vào các trọng trách quản thống quốc sự; nhờ vào cơ chế độc lập này mà đất nước có thể được quản trị bởi thành phần ưu tú nhất của dân
tộc. Tôn Trung Sơn tin rằng nếu tổ chức quốc gia được xây dựng trên căn bản của bốn ỏchánh quyềnõ và năm ỏtrị quyềnõ vừa được bàn đến thì các thế lực chính trị trong quốc gia sẽ được thăng bằng (phân lập) và có thể giải quyết được tệ nạn trì trệ trong lãnh vực quản thống quốc sự cũng như đẩy mạnh được nỗ lực canh tân đất nước.
Nguyên lý Dân Sinh chủ trương rằng vấn đề dân sinh là trọng tâm của sự tiến hóa trong xã hội, và sự tiến hóa trong xã hội trở thành trọng tâm của lịch sử chứ không phải vật chất là trọng tâm của lịch sử như lý thuyết Cộng Sản.Ạ Vì vậy cho nên chủ nghĩa Tam Dân bắt buộc chính quyền phải chăm lo đến đời sống của nhân dân bởi vì quốc gia không thể hùng cường nếu dân tộc không được ấm no. Sự cách biệt giữa kẻ giàu và người nghèo phải được giảm thiểu tối đa để nâng cao đời sống nhân dân một cách đồng đều và giới hạn sự bất bình đẳng quyền lợi kinh tế trong quốc gia.
Chính sách Dân Sinh được xây dựng trên ý thức là sự tiến hóa của xã hội Tây phương không đến bằng phương pháp đấu tranh cộng sản mà bằng sự điều hòa quyền lợi của giới chủ xưởng và giới công nhân nhằm kiểm soát tiến trình phát triển tư bản và nâng cao đời sống của công nhân. Ðối diện với nền kinh tế nông nghiệp Trung Hoa và thực trạng đại đa số nhân dân là nông dân, Tôn Trung Sơn chủ trương ỏbình quân địa quyềnõ và
'tiết chế tư bản'.
Chính sách 'bình quân địa quyền' nhắm vào nỗ lực cải cách điền địa để trưng mua đất đai và cấp cho dân vô sản cày cấy (canh giả hữu kỳ điền hay người cày có ruộng). Tôn Trung Sơn không muốn cướp đoạt ruộng đất của thành phần địa chủ một cách trắng trợn để chia cho dân nghèo như chính sách cộng sản sau này của Mao Trạch Ðông. Ông suy luận rằng chính quyền phải lưu tâm đến bảy vấn đề quan trọng nhằm bảo vệ nông nghiệp như
sau:
1. Nhân dân nên được khuyến khích để chế tạo máy móc nhằm tiết kiệm được ngoại tệ (dùng để nhập cảng máy móc);
2. Nghiên cứu hóa chất nhằm chế tạo phân bón cho đất đai;
3. Việc trồng trọt nên được nghiên cứu để thay đổi giống trồng nhằm gia tăng sản lượng cũng như giữ gìn sự mầu mỡ của đất đai;
4. Chế tạo thuốc sát trùng nhằm diệt trừ sâu bọ để bảo vệ mùa màng;
5. Nghiên cứu việc bảo vệ và lưu trữ thực phẩm để không bị hư hại;
6. Cải cách việc vận chuyển cũng như phân phối thực phẩm (lập đường, đào kinh, v.v.) nhằm giảm thiểu số lượng thực phẩm hư hại; và
7. Lưu ý đề phòng thiên tai để giảm thiểu sự tàn phá của thiên nhiên (khai rạch, đắp đê, bảo vệ rừng, v.v.).
Song song, nhân dân phải được hướng dẫn và khuyến khích dùng đồ nội hóa. Tôn Trung Sơn rất bất bình về việc ngoại nhân thu mua vật liệu ở đại lục với giá rẻ mạt rồi tái xuất với giá cắt cổ sang Trung Hoa hàng hóa được sản xuất với nguyên liệu của Trung Hoa. Ông đề nghị là chính quyền phải áp dụng chính sách kinh tế chú trọng vào việc sản xuất hàng hóa nội địa nhằm cung ứng cho thị trường trong nước. Và chính quyền cũng phải dùng đến hàng rào quan thuế để giới hạn số lượng thành phẩm ngoại quốc nhằm khuyến khích sự phát triển của guồng máy kinh tế quốc dân.
Tôn Trung Sơn thấy rằng Trung Hoa vào thời đó quá nghèo nàn cho nên chỉ có hai hạng người là ỏtiểu bầnõ (có chút ít tài sản) và ỏđại bầnõ (vô sản) mà không có hố sâu chia rẽ giữa thành phần chủ xưởng và công nhân như ở phương Tây; do đó ông không tin là chủ nghĩa Cộng Sản có thể thành công trong việc canh tân Trung Hoa. Ông đã phân tích sự khác biệt giữa chủ nghĩa Tam Dân và chủ nghĩa Cộng Sản như
sau:
'Chủ nghĩa Cộng Sản là lý thuyết dân sinh, và nguyên tắc Dân Sinh (của chủ nghĩa Tam Dân) là sự thực hành chủ nghĩa Cộng Sản. Hai nguyên lý này không khác xa nhau lắm, nhưng phương pháp của nó thì không giống nhau... Chúng tôi khen ngợi khen sự bác học của Các-mác (Karl Marx), nhưng chúng tôi không thể áp dụng những phương pháp của (Karl Marx) ở Trung quốc được, vì ở đây chúng tôi khổ vì nghèo, chứ không phải vì sự bất bình đẳng về của cải'
Tôn Trung Sơn không chấp nhận phương pháp đấu tranh giai cấp để cải tạo xã hội Trung quốc. Tệ trạng phân chia giai cấp là quái thai của trào lưu phát triển kinh tế kỹ nghệ hóa ở Âu Châu, trong khi đó nền kinh tế Trung quốc vẫn còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Tôn Trung Sơn không muốn đầu độc nhân dân Trung Hoa với tư tưởng căm thù giai cấp để đi đến cảnh giết hại lẫn nhau. Ông muốn cá nhân được tự do với tứ dân quyền căn bản mà không bị ý niệm phân chia giai cấp và lòng căm thù giai cấp bóp chết trong cuộc cách mạng vô sản.
Về chính sách 'tiết chế tư bản', chương Tri Phú trong tài liệu Tam Dân Chủ Nghĩa (ghi lại các bài diễn thuyết) của Tôn Trung Sơn có đoạn như
sau:
'Muốn giải quyết vấn đề nhân sinh (thì) nhất định phải phát đạt tư bản, chấn hưng thực nghiệp. Nhưng nếu không dùng lực lượng quốc gia ra mà kinh doanh, mà lại phó thác cho tư nhân Trung quốc, hoặc thương nhân ngoại quốc, thì tương lai chẳng qua làm giàu cho một số người có tư bản và phát sinh sự bất bình đẳng giữa giai cấp giàu nghèo.'
Chính phủ không chỉ tiết chế tư bản cá thể mà còn phải phát triển nền kinh tế quốc doanh qua phương pháp chấn hưng các ngành nghề. Chính phủ có nhiệm vụ kiểm soát quyền sản xuất công-kỹ-nghệ trong quốc gia và không thể để cho tư nhân hay ngoại nhân thao túng. Ðối với một vài cơ sở kỹ nghệ lớn, Tôn Trung Sơn chủ trương quốc hữu hóa và bồi thường xứng đáng cho giới chủ nhân. Các cơ sở này có thể được sử dụng làm bàn đạp trong chính sách kỹ nghệ hóa Trung Hoa nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Tương tự như chính sách cải cách điền địa, Tôn Trung Sơn vẫn không muốn thấy cảnh soán đoạt cơ sở kinh tế của thành phần ỏtiểu bầnõ mà không bồi thường xứng đáng cho
họ.
Khi áp dụng chủ nghĩa Tam Dân vào thực tế, Tôn Trung Sơn đưa ra một cương lĩnh chính trị gồm bốn (4) trọng điểm để hướng dẫn cuộc cách mạng canh tân quốc gia (năm 1919):
1. Lấy chủ nghĩa Tam Dân làm tông chỉ để hướng dẫn cách mạng;
2. Lấy Ngũ Quyền Hiến Pháp làm mục tiêu cần phải đạt đến để hoạt động;
3. Tiến trình cách mạng được chia thành 3 giai đoạn:
a) Quân Chánh: Tổ chức phải dùng sức mạnh quân sự để san bằng các trở ngại hầu xây dựng nền tảng quốc gia;
b) Huấn Chánh: Tuyên truyền chính trị và khuyến khích nhân dân bài trừ các thế lực phong kiến phản động để thành lập cơ sở tự trị địa phương (kiểu Nghị Viện tiểu bang ở Hoa Kỳ);
c) Hiến Chánh: Ðại biểu địa phương sẽ nghị hội để pháp hóa Ngũ Quyền Hiến Pháp;
4. Trung Hoa Quốc Dân Ðảng độc quyền kiểm soát hoàn toàn việc quốc trị và quốc phòng trong suốt giai đoạn cách mạng cho đến khi Ngũ Quyền Hiến Pháp được pháp hóa và công bố.
Sự thành công giới hạn của Tôn Trung Sơn và Trung Hoa Quốc Dân Ðảng sau khi ông qua đời không thể được xem như là sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa Tam Dân. Chủ nghĩa Tam Dân là một đóng góp quan trọng cho nỗ lực dung nạp các tư tưởng tự do dân chủ khai phóng của Tây phương vào xã hội
Á Châu đương thời vốn vẫn còn đang mơ màng trong tinh thần Tống Nho hủ bại. Trong khi các phong trào chống Thanh triều tiếp tục theo chủ trương cục bộ ỏphò Hán diệt Thanhõ thì Tôn Trung Sơn đã có cái nhìn xa vượt lên trên sự tranh giành ngai vị tầm thường để đi đến sách lược chăm lo cho đời sống nhân dân cũng như bảo vệ quyền tự do cá nhân trong một xã hội công bằng.
.......... Dương Thành Lợi: Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương,
tr.341-367