(Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở 8 xã và chợ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long)
Báo cáo tham gia hội thảo khoa học: PTS. Nguyễn Mạnh Huấn, Ủy viên Hội đồng dân chủ pháp luật.
Nước ta vốn là nước nông nghiệp và đang đi lên từ nông nghiệp. Hiện nay, nước ta vẫn còn 80% dân số và 70% lao động xã hội đang sống và làm việc ở nông thôn. Vì vậy, nguồn lực chủ yếu để phát triển nông nghiệp và nông thôn không phải chủ yếu là các nguồn lực từ bên ngoài mà là từ việc phát huy năng lực nội sinh của bản thân ngành nông nghiệp và nông thôn. Ðây là vấn đề có tầm chiến lược, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển nền kinh tế đất nước và đã được Ðảng ta một lần nữa nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị BCH trung ương Ðảng lần thứ 6 (khóa VIII) tháng 11.1998 vừa qua.
Trong giai đoạn tập thể hóa nông nghiệp và nông thôn (1955-1988), căn bệnh chủ yếu kìm hãm sự phát triển là căn bệnh suy giảm động lực phát triển nông thôn. Nguyên nhân chủ yếu là thực hiện tập thể hóa một cách ép buộc nông dân vào hợp tác xã theo mô hình quan liêu, bao cấp. Người nông dân mất dần quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, lợi ích của họ bị vi phạm. Ðiều đó đã làm suy giảm động lực phát triển nông thôn. Từ năm 1988 đến nay, chính sách khoán sản phẩm theo nghị quyết 10 đã giải phóng sức sản xuất của nông dân, phát huy động lực phát triển nông thôn, do đó chỉ trong 10 năm đổi mới, nền nông nghiệp và nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu rực rỡ. Chính sách tập thể hóa kìm hãm động lực phát triển nông thôn được gỡ bỏ, do đó nước ta từ chỗ không vượt qua được cửa ải 18 triệu tấn lương thực/ năm và phải nhập khẩu lương thực 3-4 triệu tấn/năm, đến nay sản lượng lương thực đã đạt hơn 30 triệu tấn, hàng năm đã xuất khẩu được hơn 3/4 triệu tấn gạo. Hiện nay nước ta đã đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.
Tuy nhiên, hiện nay nền nông nghiệp và nông thôn nước ta lại đang lâm vào một căn bệnh mới, đó là căn bệnh suy giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn. Căn bệnh này nảy sinh từ trong lòng quá trình đổi mới, nếu không sớm được khắc phục thì trong tương lai sự phát triển nông thôn sẽ bị chững lại, thậm chí sẽ bị tụt hậu so với hiện nay. Hai năm gần đây, do chúng tôi có cơ hội đi sâu nghiên cứu nông thôn trên cơ sở điều tra kinh tế - xã hội cho tới hộ gia đình. Với tư cách là chủ nhiệm đề tài: "Nghiên cứu thực nghiệm cơ cấu giá cả nông thôn trên cơ sở điều tra thực tế ở 8 xã và chợ nông thôn ở vùng Ðồng bằng sông Hồng (ÐBSH) và vùng Ðồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) Việt Nam"(1), chúng tôi nhận thấy (nếu không muốn nói là phát hiện ra): Căn bệnh mới nói trên nảy sinh là do 5 nguyên nhân chủ yếu sau đây:
1. Tình trạng phụ thu, lạm bổ:
1.1 Thực trạng:
Biểu 1: Các khoản đóng góp của hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình và Cần Thơ.
| Số TT | Khoản đóng góp phụ thêm(*) |
|
||||||||
| 1 | Dân công nhà nước |
|
||||||||
| 2 | Quỹ HTX |
|
||||||||
| 3 | Quỹ xây dựng làng xã |
|
||||||||
| 4 | Quỹ xây dựng nông thôn huyện |
|
||||||||
| 5 | Quỹ xây dựng nông thôn xóm |
|
||||||||
| 6 | Quỹ kế hoạch hoá dân số |
|
||||||||
| 7 | Quỹ an ninh quốc phòng |
|
||||||||
| 8 | Quỹ xã hội |
|
||||||||
| 9 | Quỹ phòng chống thiên tai |
|
||||||||
| 10 | Quỹ đền ơn đáp nghĩa |
|
||||||||
| 11 | Quỹ bảo trợ trẻ em |
|
||||||||
| 12 | Quỹ giúp người cao tuổi |
|
||||||||
| 13 | Quỹ mẫu giáo nhà trẻ |
|
||||||||
| 14 | Quỹ ủng hộ Cu ba |
|
||||||||
| 15 | Quỹ phòng chống bệnh gia súc |
|
||||||||
| 16 | Quỹ từ thiện chữ thập đỏ |
|
||||||||
| 17 | Quỹ khuyến nông |
|
||||||||
| 18 | Quỹ môi trường |
|
||||||||
| 19 | Quỹ bảo hiểm tai nạn học sinh |
|
||||||||
| 20 | Quỹ phát triển giáo dục(cho xã) |
|
||||||||
| 21 | Quỹ phát triển nhà trường(cho trường) |
|
||||||||
| 22 | Quỹ xoá đói giảm nghèo |
|
||||||||
| 23 | Quỹ tiết kiệm vì phụ nữ |
|
||||||||
| 24 | Quỹ hỗ trợ vốn cho người nghèo |
|
||||||||
| cộng |
|
(*): Ðây là các khoản đóng góp phụ thêm ngoài 3 khoản theo quy định của nhà nước phải đóng là: thuế đất nông nghiệp, thuế đất thổ cư và thủy lợi phí.
(**): Tính bình quân 1 hộ ở các xã điều tra của tỉnh Thái Bình:
- 4 khẩu/hộ
- 2 1ao động/hộ
- 2 vụ/năm
- 6 sào Bắc Bộ (2160 m2)
(***): Tính bình quân 1 hộ ở các xã điều tra tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng.
- 5,6 khẩu/hộ
- 2 1ao động/hộ
- 2 vụ/năm
10,6 công (10.600 m2)
Biểu 1 cho thấy:
- Ở tỉnh Thái Bình, hộ nông dân phải đóng góp phụ thêm ngoài 3 khoản thu mà luật pháp nhà nước qui định. Số thóc phải nộp là 439 kg, tương đương với số tiền là 658.500 đ/ hộ-năm. Ơ' tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, hộ nông dân phải đóng góp phụ thêm là 12 khoản. Số thóc phải nộp là 213 kg tương đương với số tiền là 266.500 đ.
- Các khoản thu nói trên là các khoản thu mà chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) tự qui định để thu thêm của nông dân. Các khoản thu phụ thêm ở Thái Bình không giống với ở Cần Thơ và Sóc Trăng. Mức độ thu ở Thái Bình cao hơn ở Cần Thơ và Sóc Trăng là 2,06 lần.
1.2 Ảnh hưởng của phụ thu lạm bổ đến suy giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn:
Biểu 2: Chi phí sản xuất lúa ở các xã điều tra của tỉnh Thái Bình, Cần Thơ và Sóc Trăng
|
Khoản mục |
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Biểu 2 cho thấy:
- Chi phí sản xuất lúa ở các xã điều tra chiếm từ 69,6% - 82,8%, do đó lãi suất của sản xuất lúa rất thấp, từ 17,2% - 30,4% so với đầu ra.
- Ở tỉnh Thái Bình, lãi của sản xuất lúa tính bình quân cho 1000 m2 là 315.430 đ, bằng 30,4% so với đầu ra; ở Cần Thơ: 165.700 đ, bằng 17,3%; ở Sóc Trăng: 160.000 đ bằng 17,2% so với đầu ra.
- Nếu liên hệ với biểu 1 ta thấy: ở Thái Bình bình quân 1 hộ gia đình canh tác 6 sào ruộng (2160m2) thì lãi của sản xuất lúa 1 năm là:
(315.430 đ x2160m2)/1000m2 = 681.328đ.
Như vậy, số tiền đóng góp phụ thêm của 19 khoản chiếm 96,6% so với tiền lãi thu được từ sáu sào ruộng.
Ở tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, hộ nông dân canh tác bình quân là 10.600m2, do đó lãi từ canh tác lúa là 1.762.210 đ. Như vậy, số tiền đóng góp 12 khoản phụ thêm chiếm 15,4% so với tổng số tiền lãi thu được từ 10,6 công ruộng. Ðiều đó chứng tỏ năng lực nội sinh của nông dân bị bòn rút ghê gớm (nhất là ở nông dân ÐBSH). Ðiều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất mở rộng. Ðây cũng là lý do giải thích vì sao nông dân ÐBSH kêu ca, phàn nàn, kiến nghị về tình trạng "phụ thu lạm bổ" mạnh mẽ hơn so với nông dân ÐBSCL.
2. Tập tục truyền thống tái phát triển:
Kết quả điều tra cho thấy cơ cấu thu nhập của hộ nông dân làm nông nghiệp có mức sống trung bình về kinh tế như sau:
Biểu 3: Cơ cấu thu nhập của hộ nông dân
|
Khoản thu |
4 xã ÐBSH
|
4 xã ÐBSCL
|
|||||||||||||||||||||||||
|
|
|
Biểu trên cho thấy, ở 4 xã điều tra của ÐBSH, thu nhập từ 2 vụ lúa chiếm tỉ trọng lớn nhất: 56% so với tổng thu nhập của hộ gia đình, thu nhập từ làm vụ đông chiếm 20,8%, thu nhập từ chăn nuôi: 18%, thu khác 5,2%. Ơ' 4 xã điều tra ÐBSCL, thu nhập từ 2 vụ lúa chiếm tỉ trọng lớn nhất 76,7% so với tổng thu nhập của hộ gia đình, thu nhập từ vườn hộ: 11,9%, thu từ chăn nuôi: 7%, thu khác: 4,7%. Nếu so sánh về số tuyệt đối, thì thu nhập của hộ gia đình ở ÐBSCL bằng 2,5 lần so với hộ gia đình ở ÐBSCL.
Kết quả điều tra ở 8 xã cho thấy cơ cấu tiêu dùng của hộ nông dân làm nông nghiệp có mức sống trung bình về kinh tế như sau:
Biểu 4: Cơ cấu tiêu dùng của hộ nông dân (*)
|
Khoản chi |
4 xã DBSH
|
4 xã DBSCL
|
||||
| 1. Ðóng góp cho địa phương (ngoài thuế) |
|
|
||||
| 2. Ma chay: chi phí chôn cất người thân trong gia đình bị chết và tiền đi phúng viếng các đám khác trong làng - xã/năm |
|
|
||||
| 3. Cưới xin: Chi phí tổ chức cưới vợ (hoặc chồng) cho con và tiền đi mừng các đám khác trong làng - xã/năm |
|
|
||||
| 4. Giỗ Tết: Chi phí cúng giỗ và các Tết trong năm |
|
|
||||
| 5. Dịch vụ y tế: Khám và mua thuốc |
|
|
||||
| 6. Giáo dục: Ðóng học phí và mua sách vở, bút mực cho con |
|
|
||||
| 7. Mua thực phẩm và công nghệ phẩm thiết yếu: tiền điện, muối, xà phòng, dầu hỏa, mỡ động vật, thịt cá các loại.v.v... |
|
|
||||
|
Tổng cộng |
|
|
(*): Cơ cấu tiêu dùng được tính bằng tiền. Ðối với nông dân, gạo ăn hàng ngày và một số thực phẩm hộ nông dân tự sản xuất được (như khoai tây, rau, v.v...) không tính ở đây.
Biểu 4 cho thấy, chi phí đóng góp các khoản ngoài thuế ở 4 xã ÐBSH chiếm 31%, ở 4 xã ÐBSCL chiếm 5% so với tổng chi phí tiêu dùng của hộ gia đình. Chi phí cho ma chay, cưới xin, giỗ tết, ở 4 xã ÐBSH là 40%, còn ở 4 xã ÐBSCL là 51,7%. Chi phí cho y tế, giáo dục chiếm tỉ lệ rất thấp: ở 4 xã ÐBSH là 10,8%, còn ở 4 xã ÐBSCL là 8,1%. Chi phí mua thực phẩm và công nghệ phẩm ở 4 xã ÐBSH chiếm tỉ lệ thấp: 18%, còn ở 4 xã ÐBSCL chiếm tỉ lệ cao hơn: 31%(2). Người nông dân không còn tiền để tái sản xuất mở rộng và cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần. Một số gia đình có hoàn cảnh kinh tế trung bình, để mua được tivi hoặc radio, hoặc sửa chữa nhà cửa, họ phải bớt đi khẩu phần ăn hàng ngày theo phương thức "ăn nhịn, để dành".
Rõ ràng là cả ở ÐBSH và ÐBSCL, hộ nông dân chi phí cho ma chay, cưới xin, giỗ tết khá tốn kém, chiếm từ 40% - 51,7% so với tổng chi phí của gia đình họ. Ðiều đặc biệt lưu ý là ma chay, cưới xin, giỗ tết thường tiến hành vào 4 tháng mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau). Ðể có tiền, họ thường phải bán thóc, lúa, lợn, gà, hoa quả v.v... vào thời điểm giá lương thực trên thị trường xuống rất thấp. Trong 4 tháng này, nông dân bị ép cấp, ép giá nặng nề nhất vì lượng cung lớn hơn lượng cầu về hàng hóa nông sản. Người nông dân vốn đã khó khăn lại càng bị bóc lột nhiều hơn do tập quán truyền thống ép họ phải theo anh, theo em. Ðiều đó góp phần làm suy giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn. Dưới sự ép của phụ thu lạm bổ và của tập tục, nên vốn tái sản xuất mở rộng hầu như không còn nữa.
3. Sự phức tạp trong việc vay vốn ngân hàng:
90% nông dân ở các xã điều tra được hỏi trả lời rằng: họ rất cần vốn phát triển sản xuất và kinh doanh, nhưng vay tiền của ngân hàng không dễ dàng. Một là, với khoản vay ngắn hạn, số lượng tiền vay không được quá 500.000 đ, thời gian vay không quá 6 tháng. Nếu muốn vay được lượng tiền nhiều hơn 500.000 đ người vay cần phải viết luận chứng kinh tế kỹ thuật. Ðây là một thách đố đối với nông dân vì họ không đủ trình độ để diễn tả nhu cầu vay của mình bằng một luận chứng kinh tế - kỹ thuật dài 5-7 trang giấy. Nông dân buộc phải thuê người viết, bình quân mỗi bản luận chứng kinh tế - kỹ thuật xin vay chi phí từ 50.000 đ đến 100.000 đ. Hai là, việc vay cần có 7 loại chữ ký trong đơn như sau:
- Chữ ký của trưởng xóm.
- Chữ ký của trưởng thôn.
- Chữ ký của UBND xã (có dấu đỏ).
- Chữ ký của cán bộ ngân hàng phụ trách khu vực.
- Chữ ký của trưởng phòng ngân hàng phụ trách khu vực.
- Chữ ký của kế toán ngân hàng.
- Chữ ký của giám đốc ngân hàng.
Sau đó thì thủ quỹ ngân hàng mới giải ngân cho người vay. Khi giải ngân, thường phải "buốc boa" lại cho cán bộ ngân hàng phụ trách khu vực từ 2-3% so với tổng số tiền vay. Như vậy, về lý thuyết thì lãi suất tiền vay là 1,2% tháng, nhưng trong thực tế nếu tính cả chi phí làm giấy tờ, "buốc boa" thì lãi xuất tới 1.8% - 2% tháng.
Lãi xuất ngân hàng tăng lên làm cho chi phí sản xuất nông sản tăng lên. Việc kinh doanh, buôn bán hàng hóa nông sản cũng kém năng động hơn.
Hộp thông tin số 1:
Báo Nhân dân số ra ngày 7.7.1996 đăng tin: "Bảy cửa trước khi vay tiền ngân hàng" của tác giả Văn Mạnh nêu việc các tư nhân và doanh nghiệp ở Phú thọ trước khi vay tiền ngân hàng phải qua nhiều của và trả thêm quá nhiều lệ phí. Nói cách khác, để vay được tiền phải qua 7 cửa làm thủ tục và nộp lệ phí. Nếu vay một món tiền 10 triệu đồng phải nộp lệ phí trong ngành ngân hàng 130.000 đ, ngoài ngành ngân hàng (gồm phường, xã, công chứng v.v...) là 51.000 đ".
Trong bối cảnh vay vốn tín dụng của ngân hàng nhà nước khó khăn và phức tạp như trên, hộ nông dân buộc phải vay vốn của ngân hàng cổ phần hoặc vay vốn của tư nhân, hoặc vay vốn thông qua thế chấp của các đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Ðoàn thanh niên.
Về vay vốn của các ngân hàng cổ phần, 100% những người được phỏng vấn trả lời rằng tiền của Ngân hàng cổ phần thuận tiện hơn, thủ tục đơn giản hơn, nhưng lãi xuất cao hơn Ngân hàng nhà nước từ 0,3 - 0,5% tháng.
Về vay vốn thông qua các đoàn thể, thủ tục có đơn giản hơn nhưng lãi suất tăng lên từ 0,5 - 0,8%/tháng. Người vay phải được BCH của các Hội đoàn thể xét duyệt, đồng thời phải đóng tiền dự phòng chống quỵt nợ cho Hội.
Hộp thông tin số 2:
Bà Tư Thuấn, Phó bí thư Ðảng ủy xã Phú Tân, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng cho biết; lãi xuất Ngân hàng là 1,5 - 1,7% nhưng vay qua đoàn thể lãi xuất tới 2 - 2,5%. Phần lãi xuất phụ trội (0,5 - 0,8%/tháng) do đoàn thể thu được chia làm 3 phần: 1 phần để làm quỹ, 1 phần để bồi dưỡng cho cán bộ đoàn thể, 1 phần để bồi dưỡng cho cán bộ ngân hàng nhà nước. Ngoài ra, người vay phải đóng 25.000 đ vào quỹ dự phòng. Các đoàn thể thu tiền này để gây quỹ thanh toán cho các trường hợp người vay không trả được nợ.
Người vay không được lấy lại 25.000 đ này, mặc dù đến thời hạn thanh toán họ đã trả đầy đủ ngân hàng cả vốn và lãi. Khoản tiền 25.000 đ được đưa vào quỹ của đoàn thể để giúp đỡ người vay của đợt sau.
Về vay vốn của tư nhân, 100% những người được phỏng vấn đã trả lời rằng vay vốn của tư nhân thủ tục đơn giản, kịp thời nhưng lãi xuất tiền vay rất cao, bình quân tới 3 -5%/tháng. Thậm chí, trong một số trường hợp cấp bách, lãi xuất tiền vay tới 1% ngày (tức 30%/tháng). Ðây là lãi xuất "cắt cổ", song cực chẳng đã và trong lúc cần thiết, nông dân đành vay tín dụng nặng lãi này.
Rõ ràng là, mặc dù người nông dân rất cần vốn để tái sản xuất mở rộng nhưng sự phức tạp nói trên trong việc vay vốn đã làm cho quá trình tái sản xuất mở rộng bị bế tắc hơn. Ðiều đó góp phần làm giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn trong bối cảnh đổi mới.
4. Sự phiền hà của các trạm kiểm soát, công an thuế vụ về lưu thông hàng hóa:
Chủ trương chống buôn lậu và săn bắt tội phạm vận chuyển ma túy là hết sức đúng đắn, tuy nhiên, ở các xã điều tra, trên các tuyến đường bộ và đường sắt đã xảy ra tình trạng một số trạm kiểm soát của công an, thuế vụ lợi dụng chủ trương của nhà nước để sách nhiễu các chủ phương tiện vận tải và nông dân để hối lộ, tham nhũng. Một số cán bộ thuế vụ, công an đã tạo ra các trạm kiểm soát lưu động, các barie vô nguyên tắc để thu tiền các phương tiện vận tải hàng hóa. Tình trạng công an, thuế vụ bắt các phương tiện vận tải dừng xe một cách vô cớ để kiểm soát, hạch sách giấy tờ nhằm nhận tiền hối lộ còn tồn tại khá phổ biến ở các tuyến đường nông thôn. Ơ' các khu vực cửa ô thành phố, ở các cửa sông, bến cảng thì sự phức tạp nói trên xảy ra thường xuyên hơn, tinh vi hơn.
Ở các tuyến đường sông, chính quyền địa phương và nhân dân sống ven sông tự phát làm các cầu phao nổi trên mặt sông khiến các thuyền bè vận tải nông sản và vật tư nông nghiệp đi dọc sông bị ngăn trở. Ðể đi qua được các cầu phao tự tạo nói trên các thuyền bè phải nộp tiền với giá thỏa thuận. Ðể chở lúa, mía, vật tư nông nghiệp dọc các sông lạch, chủ thuyền bè phải nộp tiền ở các điểm barie tự phát nói trên. Tất cả điều đó làm giảm năng lực vận tải nông sản và hạn chế lưu thông hàng hóa tự do trong nông thôn.
Hộp thông tin số 3:
Một ông nông dân ở xã Thụy Dân tỉnh Thái Bình cho biết gia đình ông có một chiếc ô tô vận tải IFA (Ðức) chở gạo từ Thái Bình đi bán ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Một tháng chở gạo đi Việt Trì 10 chuyến xe. Mỗi chuyến phải "làm luật" (hối lộ) ở 5 trạm kiểm soát của Công an dọc đường, bình quân phải hối lộ 50.000 - 60.000 đ/trạm. Việc nộp tiền này không có hóa đơn. Bình quân một chuyến xe chở gạo từ Thái Bình đến Việt Trì chi phí hối lộ ít nhất là 250.000 - 300.000 đồng. Ðiều đó làm cho giá gạo bán ở Việt Trì tăng lên từ 100 - 200đ/kg.
Một nông dân là chủ máy xay ở xã Phú Tân, tỉnh Sóc Trăng nói rằng: tiền hối lộ trong một tháng mất khoảng 200.000 - 300.000đ cho thợ điện, thuế vụ, cán bộ môi trường, công an khu vực. Nếu chở thóc từ huyện khác đến Phú Tân thì phải đóng 5% giá trị của thuyền chở thóc cho trạm thuế. Nếu không đóng thì phải hối lộ cho trạm 100.000đ/thuyền.
5. Tệ nạn tham nhũng và quyền dân chủ của nông dân bị vi phạm:
Tham nhũng được thể hiện dưới các hình thức, một là, một số cán bộ có chức có quyền "cắt xén" tiền đóng góp phụ thêm của nông dân. Hầu hết các khoản đóng góp của hộ gia đình cho chính quyền xã và HTX thu, nông dân (thậm chí cả đại biểu Hội đồng nhân dân xã) hầu như không được biết tiền ấy sử dụng như thế nào? Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 38% số tiền đóng góp phụ thêm để xây dựng: điện, đường, trường, trạm bị thất thoát rơi vào túi cá nhân. Hai là, tham nhũng qua việc chuyển đổi đất canh tác thành đất thổ cư. Hộ nông dân khi được duyệt đất ở, ngoài các khoản phải nộp chính thức theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai, còn phải "chạy chọt" núp dưới hình thức tiền "bồi dưỡng" cho một số cán bộ có vai trò trong việc giao quyền sử dụng đất ở. Ba là, tham nhũng qua việc xét duyệt danh sách các hộ nông dân được vay vốn của quỹ xóa đói, giảm nghèo. Kết quả điều tra cho thấy, hộ gia đình nào đó được xét vay vốn lãi xuất thấp thì phải có tiền "bồi dưỡng" cho người xét duyệt từ 1-2% so với tổng số vốn được vay. Ðiều đó làm cho người nghèo đáng lẽ được vay với lãi xuất thấp trở thành phải vay với lãi xuất trung bình hoặc cao hơn. Bốn là, tham nhũng qua việc xét xử hoặc giải quyết một số vụ việc về tệ nạn như cờ bạc, đánh nhau, nghiện hút hoặc xét duyệt cấp giấy phép để mở quán hàng hoặc phát triển ngành nghề. Cơ chế tham nhũng theo phương thức: "nước chảy chỗ trũng", nghĩa là có "bồi dưỡng" thì được duyệt trước hoặc được giải quyết nội bộ; thân quen thì được ưu tiên xem xét, v.v... Kết quả là một số cán bộ có quyền hành làm giàu thông qua giải quyết tệ nạn hoặc cấp giấy phép phát triển ngành nghề, dịch vụ nông thôn, v.v...
Trước những thực trạng tham nhũng nói trên, một số người, trước hết là các cựu chiến binh và người về hưu đề nghị phải công khai hóa việc sử dụng tài chính của tập thể và tài sản của cán bộ địa phương thì hoặc là bị quên lãng, hoặc là bị trả đũa bằng nhiều hình thức khác nhau. Nông dân kiến nghị, khiếu tố lên cấp trên thì không được giải quyết kịp thời mà được "kính chuyển" hết cấp này đến cấp khác. Kết quả là lòng tin của nông dân với cán bộ bị suy giảm. Ðây là một nguyên nhân hết sức quan trọng (mặc dù rất khó lượng hóa) góp phần làm suy giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn.
Nghị quyết 10 đã giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, tạo cơ hội cho quá trình đổi mới phát triển. Tuy nhiên, trong lòng sự đổi mới đã và đang nảy sinh căn bệnh làm suy giảm năng lực nội sinh phát triển nông thôn. Nhằm khắc phục căn bệnh này, cần phải thực hiện một số giải pháp cấp bách sau đây:
1. Tạo môi trường phát triển nông thôn:
1.1. Thực hiện tự do hóa lưu thông hàng hóa nông sản trong nội địa và xuất khẩu. Nhà nước cần nghiêm trị các cá nhân tham nhũng lợi dụng các nghị định về an toàn giao thông để tạo ra các barie "ngăn sông" "cấm chợ" để thu lợi bất chính.
1.2. Cho phép các công ty tư nhân và Doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh bình đẳng. Nói tới thị trường là phải nói tới sự bình đẳng trong cạnh tranh, trước hết là xóa bỏ việc cấp quota xuất nhập khẩu. Theo tính toán của IFPRI, nếu bỏ hạn ngạch xuất khẩu gạo, giá gạo trong nước sẽ tăng khoảng 2%, đồng thời sẽ tăng xuất khẩu từ 2,5 - 5,7 triệu tấn gạo/năm và tăng khoảng 795 triệu USD cho thu nhập quốc gia (báo Kinh tế - đầu tư, ngày 12.5.1997, trang 6).
1.3. Tăng cường thông tin về thị trường nông sản và vật tư nông nghiệp, đặc biệt là về hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu. Ðây là việc làm cần thiết và cấp bách, bởi vì các chức năng của kinh tế thị trường chỉ phát huy tốt với chất lượng thông tin đầy đủ và điều này chưa có ở nông thôn nước ta. Thiếu thông tin chính xác, kịp thời về thị trường đã hạn chế sự phát triển nông thôn, làm cho sự rủi ro tăng lên.
2. Xóa bỏ tình trạng phụ thu, lạm bổ:
Nhà nước cần công bố công khai các khoản nông dân phải nộp theo luật pháp quy định như thuế nông nghiệp, thuế đất ở. Ngoài các khoản phải nộp mà luật pháp đã qui định, nông dân không phải nộp thêm gì nữa cho chính quyền địa phương. Nông dân chỉ phải trả tiền hoặc thóc cho các dịch vụ mà họ được nhận theo giá thỏa thuận.
Từng bước thực hiện cạnh tranh các dịch vụ cung cấp cho nông dân về thủy lợi, phân bón, dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa xã hội. Có chính sách chống độc quyền quy định với một số hàng hóa và dịch vụ như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu v.v... Nghiêm trị những tổ chức hoặc cá nhân lợi dụng danh nghĩa Nhà nước để thu tiền hoặc thu thóc của nông dân mà không cung cấp dịch vụ sòng phẳng cho họ.
3. Phát triển thị trường vốn để phát huy năng lực nội sinh phát triển nông thôn:
Hiện nay ở nông thôn nước ta thị trường vốn chưa phát triển. Thị trường vốn không phải chỉ là quan hệ giữa ngân hàng Nhà nước với nông dân mà bao gồm cả vấn đề tích tụ vốn đầu tư vốn. Nhằm mục đích đó, một là nhà nước cần tạo môi trường để nâng cao khả năng tích lũy vốn ở nông thôn như khuyến khích thành lập các công ty tư nhân và công ty cổ phần ở nông thôn, xóa bỏ sự phân biệt giữa quốc doanh và tư nhân, giữa bóc lột và làm thuê v.v... Hai là, tạo cơ hội để cho nông dân và doanh nghiệp sử dụng vốn để đầu tư phát triển sản xuất chế biến nông sản và làm giàu. Cần có chính sách ưu đãi về tín dụng và thuế để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở nông thôn có được các hợp đồng xuất nhập khẩu. Việc ưu đãi tín dụng không chỉ giành cho người nghèo mà cả cho những doanh nghiệp tư nhân làm ăn có hiệu quả. Ba là, nghiêm trị các hành vi lợi dụng ngân hàng nhà nước để bắt nông dân phải hối lộ khi họ vay tính dụng. Từng bước xóa bỏ các thủ tục phiền hà về vay tín dụng phải qua "7 cửa" như đã nói ở trên. Ðổi mới phương thức cho nông dân vay tín dụng của ngân hàng. Bốn là, khắc phục nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn. Ðiều đó làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong nông thôn ngày càng mở rộng hơn.
4. Tăng cường sức mua của nông dân:
Sức mua của nông dân có ý nghĩa quyết định đối với quy mô, tốc độ phát triển sản xuất và dịch vụ nông thôn. Tăng sức mua của nông dân sẽ góp phần phát huy năng lực nội sinh phát triển nông thôn.
Nhằm tăng sức mua của nông dân, trước hết, cần phát triển nền nông nghiệp hàng hóa và đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn. Thu nhập bằng tiền của nông dân tăng lên thì giá mua sẽ tăng lên. Hai là, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn về đường giao thông, chợ, cơ sở chế biến v.v... và xóa bỏ tình trạng "ngăn sông, cấm chợ". Biện pháp này tạo cơ hội để lưu thông hàng hóa năng động hơn. Ðể phát triển cơ sở hạ tầng cần thực hiện công thức: vốn của nhà nước + công lao động của nông dân. Không nên huy động vốn của dân vì nông dân nghèo, thu nhập thấp. Không nên lợi dụng khẩu hiệu "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để phụ thu lạm bổ mà chỉ nên sử dụng công lao động của nông dân để làm cơ sở hạ tầng nông thôn. Ba là, quy hoạch và phát triển của thị trấn, thị tứ, các trung tâm thương mại, dịch vụ ở nông thôn. Thực hiện từng bước đô thị hóa nông thôn, biến các chợ nghèo nàn hiện nay ở các vùng nông thôn thành các tụ điểm phát triển tiểu thủ công nghiệp, giao thông, dịch vụ. Nhằm mục đích đó, các địa phương cần dành một số diện tích đất đai ở các khu trung tâm kinh tế, văn hóa của địa phương để xây dựng thị trấn, thị tứ, các chợ, các trung tâm thương mại của vùng. Tùy theo điều kiện của từng địa phương để có quy hoạch phát triển về quy mô, vị trí của các cơ sở thương mại, nhưng ít nhất phải đạt các yêu cầu: có chợ, có điện, có đường ô tô, có cơ sở chế biến (nông, lâm ngư, hải sản), có cửa hàng, các ngành nghề phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ và có khu dân cư tập trung và phi nông nghiệp. Mục tiêu của biện pháp này là đưa thị trường về nông thôn đến tận đối tượng mua bán là nông dân, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng, chống sự chèn ép của quốc doanh và tư thương độc quyền với nông dân. Bốn là, nhà nước nên nghiên cứu vấn đề miễn thuế nông nghiệp cho nông dân, đồng thời trợ cấp sản xuất nông nghiệp qua giá mua nông sản phẩm và giá bán một số sản phẩm công nghiệp mà nông dân cần dùng cho sản xuất nông nghiệp. Biện pháp này, một mặt khắc phục tình trạng lợi dụng danh nghĩa thuế nông nghiệp để phụ thu lạm bổ nông dân, mặt khác chống được độc quyền nhằm thu lợi bất chính, giải pháp này cùng góp phần kích thích sức mua của nông dân có hiệu quả, có tính lâu dài...
5. Nâng cao dân trí và cải thiện điều kiện sống về văn hóa - xã hội nông thôn:
Nhằm mục đích đó, cần xúc tiến xóa nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi lao động, tiến hành tự do hóa và công khai hóa thông tin về thị trường, hướng dẫn nông dân mua bán và chi tiêu một cách có hiệu quả, giúp nông dân tự nguyện và tự giác giảm bớt chi tiêu cho ma chay, cưới xin và tập tục lạc hậu truyền thống để giành tiền cho phát triển sản xuất và văn hóa - xã hội.
6. Thực hiện trong thực tế thiết chế dân chủ nông thôn:
Hiện nay, Ðảng và Nhà nước đã ban hành các quy định về thiết chế dân chủ nông thôn, đặc biệt là các quy định về sự đóng góp và sử dụng tiền đóng góp của nông dân. Nhà nước cần có biện pháp triển khai trong thực tế các qui định về dân chủ đã ban hành để các qui định đó "đi" được vào cuộc sống. Ðiều đó, sẽ góp phần chữa trị được căn bệnh đang tồn tại hiện nay và góp phần phát huy tốt năng lực nội sinh phát triển nông thôn.
(1): Ðề tài này được triển khai qua con đường Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. PTS. Nguyễn Mạnh Huấn là Chủ nhiệm đề tài. Các chuyên gia tham gia nghiên cứu và điều tra là chuyên gia liên ngành có sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQ Việt Nam và MTTQ các tỉnh, huyện, xã.
(2): Từ các số liệu điều tra này cho thấy nông dân ÐBSH có đời sống vật chất khó khăn hơn và chi tiêu tiết kiệm hơn nông dân ÐBSCL cả về số tuyệt đối và số tương đối.