Dân Chủ và Tự Do

Trần Bình Nam

Bầu cử tự do là bước đầu của Dân Chủ, nhưng có dân chủ chưa có nghĩa là có Tự Do. Nhiều chế độ dân chủ trở thành độc tài, điển hình là chế độ Ðức Quốc Xã. Và gần đây tại Cam bốt. Hitler trở thành quốc trưởng nước Ðức năm 1934 qua một thủ tục đề cử hợp hiến sau khi tổng thống Hindenburg qua đời. Hunsen trở thành đệ nhị thủ tướng của Cam Bốt sau cuộc bầu cử năm 1993 được xem là tự do do Liên hiệp quốc tiêu 3 tỉ mỹ kim để tổ chức vẫn dùng vũ lực hất cẳng đệ nhất thủ tướng Ranariddh. Và hiện tượng này đang có khuynh hướng tăng trưởng. Muốn có Tự Do còn cần một cái gì hơn là một chế độ dân chủ hình thức. 

Trước ngày bầu cử tháng 9 năm 1996 tại Bosnia, thương thuyết gia Hoa Kỳ Richard Holbrooke bày tỏ sự lo âu: "Nếu cuộc bầu cử được tự do, và những người đắc cử chủ trương phát xít, kỳ thị và chia cắt Bosnia thì thật là nhức đầu." Sự lo âu thành sự thật. Sau bầu cử các phe nhóm vẫn đâm chém nhau, nhân quyền vẫn bị vi phạm. Ba chục nghìn quân của NATO gồm 8.000 quân nhân Mỹ đến Bosnia cuối năm 1996 giúp ổn định tình hình định rút lui sau một năm bây giờ ở lại không kỳ hạn để giữ cho Bosnia khỏi rơi vào tình trạng cũ. Trong khi đó tại nhiều quốc gia những người đắc cử sau các cuộc bầu cử được đánh giá là tự do đã biến thành những nhà độc tài như tại Peru, Sierra Leone Pakistan và Phi Luật Tân... 

Hiện tượng trên có vẻ bất thường, vì ở Tây phương trong gần một thế kỷ qua Dân Chủ (Democracy) đồng nghĩa với Dân Chủ Tự Do (Liberal Democracy). Chế độ Dân Chủ Tự Do đôi khi được gọi là chế độ Tự Do Hiến Ðịnh (Constitutional Liberalism) được hiểu là một chế độ hình thành qua bầu cử tự do, nhưng được cai trị trên nguyên tắc phân quyền, tôn trọng luật pháp và các quyền căn bản của con người. Nhà khoa học chính trị Philippe Schmitter nhận xét: "Quan niệm tự do đưa tới dân chủ nhưng dân chủ không nhất thiết dẫn tới tự do." 

Số nước dân chủ trên thế giới tăng nhanh trong 10 năm qua (hiện nay có 118 trên 193 nước), nhưng tỉ số các nền dân chủ bị lạm dụng cũng tăng lên khá nhanh: từ 22% bảy năm trước đây nay lên đến 35%. Hiện tượng lạm dụng dân chủ lan tràn từ các các nước ở trung-nam Âu châu, Á châu, Phi châu và châu Mỹ La tinh. Borris Yeltsin của Liên bang Nga cho xe tăng bắn vào quốc hội năm 1993, Carlos Menen của Argentina xem quốc hội như không có và cai trị bằng sắc luật từ 1989 đến nay. Quốc hội Iran ban hành những đạo luật gắt gao ấn định đến cả cách ăn mặc. Tại Kazakstan và Belarus sau các bầu cử tự do tháng 3 và tháng 7 năm 1994 dân sống đưới một chế độ độc tài không khác chế độ Xô Viết. 

Hiện tượng này không phải là một biến chuyển trung gian từ Dân Chủ sang Tự Do Hiến Ðịnh như nhiều người mong ước mà là một hiện tượng phổ biến đáng ngại. Nhiều quốc gia trên thế giới (trong đó có Việt Nam) hay dẫn chế độ dân chủ (ít tự do) của Singapore làm mẫu mực. Samuel P. Huntington giải thích hiện tượng này trong cuốn "The Third Wave" rằng: "Bầu cử tự do là căn bản của dân chủ, và một chính phủ dân cử có thể bất lực không thực hiện được gì dân muốn hay thao túng quyền lực. Nhưng không vì vậy mà không dân chủ. Dân Chủ là một điều kiện - không phải duy nhất - đưa tới Tự Do Hiến Ðịnh. 

Nhiều người lập luận rằng muốn có bầu cử tự do (tiền đề của dân chủ) cần có tự do ngôn luận và tự do hội họp tức đã có Tự Do Hiến Ðịnh. Ðiều này đúng, nhưng sự tự do hiến định này có thể có tính cách tạm thời trong thời kỳ tranh cử. Trong cuộc bầu cử tổng thống thời Ðệ Nhất Cộng Hòa người dân miền Nam Việt Nam đã ngạc nhiên trước mức độ tự do phát biểu ý kiến của các ứng cử viên tổng thống. Nhưng sau cuộc bầu cử hầu hết các ứng cử viên đều bị rắc rối với ông Diệm. 

Mặt khác Thụy Ðiển có định chế kinh tế hạn chế quyền sở hữu, nước Pháp mới đây thôi còn kiểm soát truyền hình, và nước Anh xem Tin Lành như quốc giáo nhưng các nước này đều là các quốc gia Tự Do Hiến Ðịnh thật sự. 

Vậy cái gì làm nước Nga, Argentina, Trung quốc, Việt Nam khác nước Pháp và nước Anh? Căn bản nào là căn bản của một chế độ Tự Do Hiến Ðịnh? Nghĩ cho cùng đó không phải là cách chọn chính phủ mà là mục tiêu đặt ra cho một chính phủ và truyền thống của quốc gia kinh qua lịch sử. 

Truyền thống tự do cá nhân của Tây Phương phát xuất từ thời cổ Hy Lạp, và truyền thống hiến định có từ thời cổ La Mã, và các truyền thống này được các nhà trí thức tây phương từ nhà thơ như John Milton, luật gia như William Blackstone, lãnh tụ chính trị như Thomas Jefferson, triết gia như John Lockes, Adam Smith, Montesquieu khai triển. Nhờ truyền thống này 8 thế kỷ trước các thành phần không thuộc quí tộc Anh đã buộc vua Anh phải tôn trọng quyền sở hữu đất đai, và năm 1638 dân thành phố Hartford, Connecticut viết bản hiến pháp địa phương đầu tiên. 

Tuy nhiên con đường đưa đến Tự Do Hiến Ðịnh ở Tây phương không phải dễ dàng. Năm 1830, tại Anh quốc - quốc gia có nền dân chủ sớm nhất tại Âu châu - chỉ 2% dân chúng được đi bầu Hạ nghị viện. Năm 1867 lên 7%, và năm 1880 lên 40%. Mãi đến cuối thập niên 1940 các quốc gia Tây phương mới áp dụng đầy đủ quyền phổ thông đầu phiếu. Tại Hoa kỳ người phụ nữ được đi bầu từ năm 1920. Nhưng nét đặc thù của các nền dân chủ Tây phương là tinh thần hiến định đặt căn bản trên sự tôn trọng luật pháp trong đó nét chính yếu không phải là bầu cử tự do mà là tư pháp độc lập. 

Sau Thế chiến II các nước Á châu theo bước chân dân chủ của Âu châu, nhưng sau những bước bắt đầu, đa số trở thành độc tài vì thiếu truyền thống dân chủ hiến định. Việt Nam có bầu cử từ năm 1946, và không nói miền Bắc dưới chế độ cộng sản độc tài hiến định, miền Nam đã có nhiều cuộc bầu cử tương đối tự do nhưng chính yếu vẫn là độc tài, từ ông Ngô Ðình Diệm đến ông Nguyễn Văn Thiệu dù các ông ấy muốn hay không. 

Tại Tây bán cầu, 10 trong 22 quốc gia lớn nhỏ tại châu Mỹ la tinh trên đường dân chủ hóa vẫn xem thường nhân quyền, và càng lúc càng đi xa con đường Tự Do Hiến Ðịnh. Từ năm 1991 có ít nhất 45 quốc gia Phi châu tổ chức bầu cử tự do, đa số trở lại chế độ độc tài. Tại Trung Á, Kyrgyzstan và Kazakstan đã tổ chức được những cuộc bầu cử tốt nhưng các chính quyền được thành lập sau đó uy hiếp quốc hội và tư pháp biến thành những chế độ độc tài. Trong thế giới Hồi giáo hiện tượng thiếu tự do rất phổ biến, từ Iran đến Pakistan, từ Tunisia, Morocco, Ai Cập đến các nước vùng Vịnh. 

Các quốc gia Trung Âu như Hung Gia Lợi, Ba Lan, Tiệp, trái lại nhờ truyền thống tự do hiến định của những thế kỷ trước, sau khi thoát khỏi xích xiềng của Liên bang Xô viết nhanh chóng trở thành các quốc gia tự do. Myron Weiner trong cuốn "Empirical Democratic Theory" viết năm 1987 nêu ra rằng đa số thuộc địa Anh được độc lập sau Thế chiến II đi trên con đường đến tự do hiến định một cách vững vàng hơn các thuộc địa trước kia thuộc Pháp. Lý do: nước Anh có truyền thống trọng luật và đặt mục tiêu tốt cho một nền hành chánh hơn là ban bố tự do qua bầu cử tự do cho là đủ như tinh thần của người Pháp. 

Lịch sử chứng tỏ rằng sự tập trung quyền hành vào tay một đảng hay một nhân vật (dù được lòng dân) mà không có cơ chế vững chắc kiểm soát đều là chướng ngại của một nền dân chủ Tự Do Hiến Ðịnh. Việt Nam là một thí dụ. Trong thế kỷ thứ 19 khi Âu châu dân chủ hóa, hai nước Anh và Thụy Ðiển đi vào con đường dân chủ dễ dàng thoải mái nhờ truyền thống đa nguyên từ thời trung cổ như nghị viện và tổ chức chính quyền địa phương. Pháp và Ðức trái lại thời trung cổ trải qua những chế độ tập trung quyền hành tuyệt đối vào các vị vua nên trên con đường đi đến Tự Do Hiến Ðịnh từng trải qua các bước độc tài. Nước Mỹ, giữa thế kỷ thứ 19 khi phương tiện giao thông còn khó khăn đã có thể tổ chức bầu cử rộng rãi nhờ tổ chức địa phương (tiểu bang, thành phố, quận) có căn bản, và các tổ chức quần chúng bất vụ lợi theo truyền thống của Anh quốc. Ấn độ, một nước bao la, sau khi độc lập với bao nhiêu luộm thuộm khó khăn không sụp đổ cũng nhờ tính đa nguyên (tôn giáo, ngôn ngữ, địa lý) có sẵn do truyền thống của Anh quốc để lại. 

Hiện nay nhiều chính thể độc tài (trong đó có Việt Nam) biện minh cần ổn định (có nghĩa ai đó đừng đặt vấn đề chính trị ồn ào) để phát triển kinh tế. Nghe cũng hữu lý. Nhưng chừng nào thì phải chấm dứt, và những người đang cầm quyền có chương trình gì để xây đắp truyền thống cho nền Tự Do Hiến Ðịnh không? Kinh nghiệm cho thấy chế độ nào thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền cá nhân như quyền sở hữu, có một nền tư pháp công minh, nước đó có điều kiện phát triển kinh tế nhất. Biện minh tập trung quyền hành để thực hiện một chính sách tốt nào đó cho dân tối hậu sẽ dẫn đến lạm dụng, tham nhũng và hỗn loạn, nếu không hỗn loạn chính trị là hỗn loạn kinh tế. Liên bang Xô viết sụp đổ không phải vì hỗn loạn chính trị mà do thất bại về kinh tế. 

Quyền của thiểu số cũng cần được bảo vệ. Nhìn dưới một khía cạnh nào đó định chế chính trị Hoa Kỳ có những mặt có vẻ thiếu dân chủ. Một trong 3 ngành của chính quyền và là ngành quan trọng nhất gồm vỏn vẹn 9 ông thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, đó là chưa nói đến hằng trăm thẩm phán liên bang có quyền đưa ra những phán quyết ngược với cái nhìn của đa số. Tại Thượng viện Hoa Kỳ mỗi tiểu bang (lớn như California có hơn 31 triệu dân, nhỏ như Arizona 4.4 triệu dân) đều có 2 đại diện. Nghịch lý là 51 Thượng nghị sĩ đại diện 16% dân số nước Mỹ có thể ngăn chận bất cứ một dự luật nào cần thành luật. Chế độ chính trị của Hoa Kỳ xuất phát từ căn bản không tin vào tính tốt của con người nên nhấn mạnh sự kiểm soát lẫn nhau để tránh sự độc tài của đa số. 

Trong khi đó người Pháp tin vào bản chất tốt của con người và cuộc cách mạng Pháp đã đánh đổ mọi hàng rào cản trở để đưa quyền bính đến thẳng cho người dân. Kết quả, trong lịch sử Hoa Kỳ chỉ có một trận nội chiến trong khi Pháp trải qua hai đế chế, hai đế quốc, một chế độ phát xít và năm nền Cộng Hòa. 

Người ta đồng ý rằng văn hóa mỗi dân tộc đòi hỏi một con đường tiến đến Tự Do Hiến Ðịnh khác nhau, nhưng điều không khác nhau là phải có truyền thống mới tạo nên một nền dân chủ tốt. Cho nên con đường hiện tại cần theo là gì đi nữa người lãnh đạo có trách nhiệm cần có chương trình xây dựng truyền thống. Không chuẩn bị tinh thần tôn trọng luật pháp và tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm của con người thì đừng bao giờ nói đến dân chủ. 

Tháng 1 - 1998 


Ghi chú: Bài viết này lấy các ý chính từ bài "The Rise of Illiberal Democracy" của Fareed Zakaria, một trong những chủ bút của tờ Foreign Affairs đăng trong Tập San Foreign Affairs số tháng 11 & 12/97. 

Tài Liệu của Trần Bình Nam