Tuân Tử và Hàn Phi
(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của
Dương Thành Lợi xuất bản vào năm 1996. Phần đăng tải được thâu ngắn và không bao gồm các tài liệu dẫn
chứng.)
Tuân Tử và Sách Lược Lễ Trị
Tuân Tử quan niệm rằng kẻ sĩ phải hành đạo để phát huy tinh thần Khổng giáo, và phương pháp hành đạo tốt nhất là đóng góp tích cực vào quốc sự. Việc chính trị cũng như vạn sự đều phải được đặt căn bản trên nhân nghĩa. 'Sức người không bằng trâu, chạy không lại ngựa, nhưng tại sao trâu ngựa đều được loài người sử dụng? Bởi vì nhân loại biết đoàn kết (hợp quần). Nhân loại lấy gì để đoàn kết? Lấy phận trên dưới. Nếu quy định trên dưới thì làm sao mà có nhân? Lấy nghĩa (để có nhân). Lấy nghĩa để quy định trên dưới thì hòa, hòa thì hợp làm một, hợp làm một thì có nhiều sức, có nhiều sức thì mạnh, mạnh thì thắng được muôn vật. ' Xã hội hợp quần của nhân loại nếu không có tôn ti trật tự thì sinh ra loạn. Quy củ tôn ti trật tự trong xã hội giúp cho nhân loại tránh được thảm trạng tranh đoạt vốn sẽ đưa đến cảnh loạn lạc; và khi có quy củ trên dưới thì quân vương chính là tâm điểm then chốt nắm giữ quyền cai trị đất nước.
Tuân Tử quan niệm rằng trung tâm quyền lực chính trị trong quốc gia nằm trong tay của nhà lãnh đạo; vì thế cho nên lãnh tụ quốc gia phải tu thân theo khuôn mẫu nhân nghĩa để khéo léo đoàn kết (hợp quần) nhân dân. Nhiệm vụ của lãnh tụ rất quan trọng vì 'quân giả là cái nguồn của dân, nguồn trong thì nước trong, nguồn đục thì nước đục. Cho nên người có đất nước, không biết yêu dân, không biết làm lợi cho dân mà chỉ biết cầu phúc cá nhân là không thể được '.
Vai trò quan trọng của lãnh tụ đòi hỏi lãnh tụ phải sống hết lòng nhân nghĩa với dân thì mới được dân yêu quý; và nếu làm được như vậy thì không ai có thể lật đổ lãnh tụ. 'Cai trị thiên hạ thì có gì hay bằng (cách sử dụng) lòng thiện của bậc lãnh đạo? Vì thế trí lực của bậc ấy đủ bình định thiên hạ, tiếng đức của bậc ấy đủ cảm hóa thiên hạ... Cho nên khi bậc (này) nắm quyền lãnh đạo thì trăm họ quý như trời, thân thiện như cha mẹ, có thể liều chết vì bậc ấy mà vẫn vui lòng. ' Nếu lãnh tụ quốc gia thi hành nhân nghĩa thì kẻ sĩ và đại phu không làm việc dâm đãng, quan thần không có hành động khinh nhờn và lười biếng, dân chúng không có những tục lệ quỷ quái, không trộm cướp, không phạm pháp.
Lãnh tụ phải có đạo đức và dùng lễ trị thì mới có thể quản thống quốc sự hữu hiệu; chỉ loại tiểu nhân mới lấy sức mạnh bạo lực để khống chế nhân dân. Sức mạnh phải để đức sai khiến; sức mạnh trăm họ nhờ đức của lãnh tụ mà thành công, sự đoàn kết của trăm họ nhờ đức của lãnh tụ mà thuận hòa, tài sản của trăm họ nhờ đức của lãnh tụ mới tụ hội, thế lực của trăm họ nhờ đức của lãnh tụ mới bình yên, cái thọ của trăm họ nhờ đức của lãnh tụ mới trường tồn. Lãnh tụ quốc gia được ví như là thuyền và nhân dân được ví như là nước. Nước có thể nâng thuyền nhưng cũng có thể đánh đắm thuyền; do đó lãnh tụ quốc gia phải trọng lễ và tôn kính hiền nhân nếu muốn bình yên, phải biết mến hiền nhân và trọng dụng người tài giỏi nếu muốn lập công danh.
Vai trò của lễ vô cùng quan trọng trong quốc gia. Tuân Tử suy luận rằng đối với việc nước, lễ như cán cân và quả cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối với đường thẳng đường cong; do đó người mà không có lễ thì không sinh, việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên. Lễ là cực điểm của việc trị và sự biện biệt, là nguyên do giúp cho quốc gia hùng cường, là đạo của sự uy hành, là căn bản của công danh. Bậc vương, bậc công theo lễ mà đạt được thiên hạ, nhưng nếu không theo lễ thì hỏng quốc gia. Dẫu có áo giáp bền, ngọn giáo nhọn cũng không đủ để thắng trận, thành cao hào sâu cũng không đủ để vững bền, lệnh rất nghiêm minh cũng không đủ để giữ uy. Nhưng nếu dùng lễ thì việc gì cũng xong, không dùng lễ thì việc gì cũng phải bỏ.
Lễ là đại phận của điển pháp, kỷ cương của quần loại cho nên kẻ sĩ phải học lễ. Học lễ đòi hỏi kẻ sĩ của Tuân Tử phải hành lễ với mọi người. Ðạo Khổng Mạnh quy định ba (3) gốc rễ của lễ là thờ trời đất, tôn tổ tiên, trọng vua và thầy,Ạ Tuân Tử khuếch trương rộng hơn và khuyên kẻ sĩ đối với quý nhân thì kính, bô lão thì hiếu thảo, người lớn thì thuận, ấu nhi thì rộng rãi, kẻ nghèo khó thì ban phát ân huệ. Quân tử phải dùng lễ để đối đãi người sống cũng như kẻ đã khuất mới trọn đạo làm người. Lễ phải nghiêm về việc trị, sự sinh, sự tử bởi sinh là khởi đầu của nhân loại, tử là điểm cuối cùng của nhân loại.
'Bậc thánh vương ở trên lấy đức mà quy thứ bậc, lượng định tài năng mà cho làm quan, việc gì cũng trọng dụng dân gánh vác, ai làm được việc nào thì cho làm việc ấy. Người nào không thể lấy cái nghĩa để chế cái lợi, không thể kiềm chế ác tính của mình thì đuổi về làm dân. ' Lãnh đạo quốc gia phải biết chia sẻ chính sự với nhân dân tùy theo đạo đức và khả năng của dân. Sự góp mặt của dân vào chính sự càng làm sáng tỏ cái đức và tài dùng người của lãnh tụ quốc gia.
Tuân Tử khuyên lãnh tụ quốc gia nên 'dùng kẻ hiền thì không phải cất nhắc lên theo thứ tự: bỏ người dở thì bỏ ngay lập tức, trừ ác nhân thì không phải đợi dạy bảo rồi mới trừ; theo đạo trung dung thì dân không đợi có chính trị rồi mới hóa, phận chưa định thì phải lập tức quy định trên dưới. Con cháu bậc vương, công, sĩ, đại phu mà không theo lễ nghĩa thì đuổi cho đi làm thường dân; con cháu thường dân mà tích cực học hỏi, có hạnh kiểm ngay chính, theo lễ nghĩa thì ban làm khanh, tướng, sĩ, đại phu. (Nếu làm) như vậy thì kẻ gian ngôn, gian thuyết, gian sự, gian năng đều trốn tránh. Phải đặt quan dạy dỗ thiện hóa kẻ phản trắc. Dùng sự ban thưởng để khuyến khích, lấy hình phạt để trừng trị... Ðại phận về việc chính thính là dùng lễ mà đãi người lấy điều thiện mà đến, dùng hình phạt kẻ lấy điều bất thiện mà đến. Dùng hai điều này phân biệt thì hiền nhân và kẻ bất tiếu không lẫn, việc phải việc trái không loạn. Kẻ hiền và kẻ bất tiếu không lẫn thì người anh kiệt sẽ đến, việc phải việc trái không loạn thì quốc gia được bình trị. '
Tuân Tử không chú trọng về pháp trị. Như đã bàn ở trên, ông chủ trương dùng nhân nghĩa và lễ nhạc làm căn bản cho sách lược quốc trị; và theo ông, phương pháp này có thể giúp cho quốc thái dân an. Tuy vậy, Tuân Tử không xem thường pháp luật vì pháp luật là cái gốc của nhân loại được dùng để ngăn cấm điều bạo ngược, bỏ điều ác, và răn đe những việc chưa xảy ra. Tuân Tử lưu ý giới lãnh đạo nên thận trọng khi sử dụng luật pháp bởi vì 'dùng hình pháp mà đáng tội thì có uy, mà không đáng tội thì người dưới khinh thường; ban thưởng tước lộc mà đáng cho kẻ hiền tài thì quý, mà không đáng thì không quý. Ðời xưa dùng hình pháp không quá tội, ban thưởng tước lộc không vượt tài đức cho nên có khi giết cha mà dùng con làm tôi, giết anh mà dùng em làm tôi. Người thiện kẻ ác phải biết phân biệt, ai nấy đều lấy lòng trung thành mà thông đạt, không bị khuất trệ. Ấy là để khuyên người làm thiện và răn đe kẻ không làm thiện, hình phạt thì giảm bớt mà uy quyền hành pháp tuôn như nước chảy, chính lệnh phân minh thì việc hóa đổi như thần .'
Khi bàn về kinh nghiệm xưa, Tuân Tử đưa ra ý niệm Pháp Hậu Vương (học hỏi chính sự từ các vị vua cận đại [hậu vương], thay vì gương vua xưa [tiên vương]) với chủ trương là 'muốn xem nghìn năm trước thì xem mấy ngày nay; muốn biết ức vạn thì xem một hai .' Khi bàn luận về chính sự, lãnh tụ quốc gia không nên bình luận mông lung, đi quá các sự kiện đương thời, mổ xẻ quá khứ lâu hơn ba đời (Tam đại) bởi vì khó ai nắm vững hết các hoàn cảnh chủ quan và khách quan của thời thượng cổ để hiểu cặn kẽ hành động của tiên vương. Theo Tuân Tử, kinh nghiệm lịch sử cận đại quan trọng hơn kinh nghiệm quá khứ lâu đời (quá ba đời Tam đại).
Xã hội con người có ba thành phần lãnh đạo: (i) quân vương; (ii) bá chủ; và (iii) hạng làm vong quốc (mất nước). Quân vương thì kêu gọi cả nước làm việc lễ nghĩa, tuyệt đối không làm điều bất nghĩa dẫu có thể nắm giữ được thiên hạ; nhờ nghĩa trị mà trong nước kẻ dưới dựa vào nghĩa để tuyệt đối tin tưởng và trông cậy vào người trên. Bá chủ thì lấy chữ tín làm đầu, không lừa dối dân, không để lợi lộc làm mờ mắt mà bỏ lời hứa, hành sự thì suy xét cẩn thận; nhờ tín trị mà trên dưới một lòng tin nhau.
Hạng làm vong quốc chỉ nghĩ đến cái lợi và kêu gọi cả nước nhắm vào lợi mà làm, xem thường tín nghĩa, thèm thuồng tài sản của người khác khiến người trên kẻ dưới lừa dối lẫn nhau, âm mưu gạt gẫm lẫn nhau cho nên có ngày nước sẽ bị mất vào tay ngoại nhân. Tựu trung, quân vương dùng nghĩa để trị nước, bá chủ dùng tín để trị nước, còn hạng làm vong quốc thì chỉ biết bám lấy lợi lộc, gian mưu. Lãnh tụ anh minh sẽ biết chọn lựa phương hướng quản thống quốc sự một cách hoàn hảo.
Vai trò quan trọng của lãnh tụ quốc gia đòi hỏi nhân dân và trung thần phải tôn kính người lãnh đạo. Dân và thần quan phải làm đẹp (ca tụng) cho lãnh tụ vì đó là làm đẹp cái gốc của thiên hạ, làm yên cho lãnh tụ vì đó là làm yên cái gốc của thiên hạ, tôn quý lãnh tụ vì đó là tôn quý cái gốc của thiên hạ. Nhưng không phải vì vậy mà nhân dân hay quần thần phải mù quáng phục tùng hạng người làm vong quốc ngu dốt, tàn ác, vô nhân nghĩa. Tuân Tử cũng như Mạnh Tử đều chủ trương quý dân cho nên ông bàn là 'Trời sinh ra dân không phải là vì vua. (Nhưng) trời lập vua lên là vì dân .' Và nếu vua không hành sự vì dân, không lo cho dân được ấm no hạnh phúc thì vua hành sự trái với ý trời cho nên có thể bị thay thế. Ðối với Tuân Tử, giết một ông vua tàn bạo của quốc gia cũng tương tự như giết một kẻ độc ác.
Mặc dầu quan niệm rằng con người vốn có ác tính bẩm sinh, Tuân Tử vẫn chủ trương dùng lễ nghĩa - thay vì pháp luật - để giáo hóa họ. Ông suy luận rằng 'hình pháp là cái gốc của thiên hạ, ngăn cấm điều bạo ngược, ghét bỏ điều ác, là để răn những điều chưa xảy ra. ' Ạ Nhưng ông lại tiếp tục nói 'đời xưa dùng hình pháp không quá cái tội, ban thưởng tước lộc không vượt qua cái đức.. Người thiện kẻ ác phân biệt, ai nấy đều lấy cái trung thành mà thông đạt. Ấy là để khuyên kẻ làm thiện và răn đe kẻ làm ác, hình phạt thì giảm bớt mà cái uy quyền thi hành ra như nước chảy, chính lệnh rất phân minh, mà việc cải hóa như thần. '
Như đã bàn trong những phần trên, Tuân Tử không xem trọng sách lược pháp trị mà ngược lại rất trọng lễ; nhưng sự cách biệt giữa lễẠ với pháp luật thì rất khiêm nhường và đôi lúc lại không rõ ràng. Chính sự cách biệt thiếu rõ ràng giữa lễ với pháp luật và quan niệm về ác tính bẩm sinh của Tuân Tử đã mở đường cho đệ tử Hàn Phi đưa ra chủ trương pháp chế nhằm kiềm hãm ác tính của con người. Sách lược quốc trị dùng nhân nghĩa của Khổng giáo bị Tuân Tử biến hóa và Hàn Phi bóp méo thành sách lược pháp chế nhằm bảo vệ chính thể quân chủ chuyên chế.
Thời Ðại Mới với Nhiều Thay Ðổi Cần Ðến Quan Niệm Quốc Trị Mới
Thời Xuân Thu qua đi nhưng thời Chiến Quốc (479-221 tr.T.L.) lại đến vì nội chiến Trung quốc vẫn không chấm dứt. Ngũ Bá (Tề Hoàn Công, Sở Trang Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công, và Tống Tương Công) tiếp tục dùng bạo lực để thôn tính lẫn nhau; dần dần Ngũ Bá hóa thành thất hùng: Tần, Sở, Yên, Tề, Triệu, Hàn và Ngụy. Năm 221 tr.T.L., Tần Vương Chính chinh phục được sáu tiểu quốc gia kia và tấm bình phong Chu triều để thành lập chế độ quân chủ chuyên chế. Vương Chính lên ngôi Hoàng Ðế với danh hiệu Thủy Hoàng, và bắt đầu chuyển hoán xã hội Trung Hoa.
Trước khi thống nhất thiên hạ, Tần Vương Chính có nhu cầu tập trung sức mạnh quốc phòng để tiêu diệt các đối thủ chính trị (thống nhất chính trị) cũng như các tư tưởng đối chọi (thống nhất văn hóa) cho nên cần đến một sách lược quốc trị khác với đường lối nhân trị của Khổng Tử hay vô trị của Lão Tử. Hai nhân vật đã cống hiến tư tưởng quốc trị mới cho họ Tần là Lý Tư và Hàn Phi - cả hai đều là học trò của nhà Khổng học Tuân Tử.
Lý Tư là một chính trị gia đa mưu túc trí và có thực tài do đó được Tần Thủy Hoàng cất nhắc lên làm Thừa Tướng. Vốn đã hấp thụ quan niệm ác tính bẩm sinh của thầy Tuân Tử cho nên Lý Tư chủ trương sử dụng luật pháp khắt khe để khống chế nhân dân. Khi chính sách quốc trị hà khắc của nhà Tần bị lớp trí thức theo Khổng, Lão đương thời phê phán thì Lý Tư khuyên Tần Thủy Hoàng đốt hết cổ thư trừ các sách thuốc, trồng trọt và bói để 'chính, giáo hợp nhất '. Những kẻ bất tuân mệnh lệnh đốt sách lại còn tiếp tục nguyền rủa chế độ nhà Tần thì bị xử tử; khoảng 460 Nho gia đã mất mạng trong vụ này.
Lý Tư theo học đạo của Khổng Tử nhưng lại trở thành một tiểu nhân với nhiều dã tâm và rất ác độc. Chính tay Lý Tư đã bức tử người bạn đồng môn Hàn Phi vì ganh tài. Khi Tần Thủy Hoàng qua đời năm 210 tr.T.L. thì Thừa Tướng Lý Tư kết bè đảng với hoạn quan Triệu Cao giả mạo di chúc hoàng thượng nhằm hại chết Thái Tử Phù Tô và Ðiềm Mộng để sau đó lập Thứ Tử Hồ Lợi lên ngôi. Hồ Lợi xưng danh Nhị Thế khi lên ngai vàng và đã áp dụng hình pháp để tàn sát nhiều vương tử cũng như đại thần. 'Gieo gió thì gặt bão '. Vì hiềm khích với Triệu Cao, Lý Tư bị họ Triệu vu oan; nghe theo lời dèm pha của Triệu Cao, Nhị Thế xử tử vị thừa tướng từng có công đưa ông lên ngôi.
Lý Tư là người trực tiếp tham chánh cho nên ông rất nổi tiếng trong lãnh vực hành pháp vào thời Tần Thủy Hoàng. Còn Hàn Phi có lẽ vì bị bức tử quá sớm cho nên danh tiếng của ông gắn liền với triết lý pháp gia, thay vì chính trị pháp gia. Hàn Phi là người đã hệ thống hóa sách lược áp dụng pháp thuật vào việc trị
quốc.
. . . . . . . . . .
Hàn Phi và Chủ Trương Pháp Chế
Thời đại của Hàn Phi là thời đại Trung Hoa sắp được thống nhất dưới sự quản trị của một chính quyền trung ương (chính quyền Tần Thủy Hoàng sau này). Tiểu vương của các nước Thất Hùng có nhu cầu tập trung sức mạnh quốc gia để đạt được mục tiêu quân sự duy nhất đó là tiêu diệt các tiểu quốc đối nghịch hầu lên ngôi hoàng đế thiên hạ. Do nhu cầu tập trung quyền hành vào tay vua cho nên vấn đề lãnh đạo quốc gia càng trở nên phức tạp hơn và cần đến sách lược quốc trị thực tế, khác với sách lược quốc trị lý tưởng của Khổng, Lão.
Quan niệm pháp chế ra đời trong hoàn cảnh này và đáp ứng được nhu cầu tập trung sức mạnh quốc gia nhằm thỏa mãn các mục tiêu quốc phòng. Chủ trương pháp chế của những triết gia Ðông phương như Hàn Phi thực sự không có tinh thần của học thuyết pháp trị Tây phương (the rule of law). Sách lược pháp chế thực sự chỉ là phương pháp hành chánh mới lạ, khoa học hơn và phản ảnh tư tưởng quốc trị chú trọng vào luật pháp để khống chế nhân dân; vua vẫn ngồi trên luật pháp và áp dụng luật pháp tùy sở thích cá nhân mà không lo ngại về hậu quả.
Trước thời Hàn Phi, Trung Hoa có ba chủ trương quốc trị phổ thông được đề xướng bởi nhiều chính trị gia và triết gia trong đó có Quản Trọng, Thương Ưởng,Ạ Thận Ðáo,Ạ và Doãn Văn. Chủ trương thứ nhất suy luận rằng sức mạnh quân sự là yếu tố quyết định trong lãnh vực chính trị. Chủ trương thứ hai cho là nghệ thuật xử thế và dùng người mới thực sự là yếu tố căn bản trong việc quản thống quốc sự. Và chủ trương thứ ba chú trọng vào việc áp dụng luật pháp để an trị nhân dân và bình định thiên hạ. Hàn Phi quan niệm là cả ba yếu tố nghệ thuật xử thế và dùng người, sức mạnh quân sự, và luật pháp đều cần thiết trong việc quản thống quốc sự. Theo ông, nhân tính của con người hoàn toàn bất thiệnẠ cho nên chính quyền phải áp dụng pháp thuật một cách nghiêm mật và khắt khe để an định quốc
gia.
'Vị vua anh minh áp dụng luật pháp như trời và dùng người như là thánh nhân. Như trời, vua không làm gì quấy, và như thánh nhân, vua không gặp khó khăn nào cả. Sức mạnh của vua khiến (thiên hạ) phục tùng các mệnh lệnh nghiêm khắc, và không có gì dám chống lại... Chỉ có lúc này thì luật pháp của vua mới được áp dụng một cách đồng lòng. '
Vua phải biết áp dụng pháp luật một cách công bình và vô tư như trời. 'Vua không làm gì quấy. ' Song song, vua cũng phải biết hành động như thánh nhân trong việc dùng hiền nhân. Dùng người mà người không biết là mình được dùng như thế nào; đó chính là nghệ thuật dùng người của thánh nhân. Sức mạnh của vua sẽ bảo đảm là không ai dám bất tuân mệnh lệnh nghiêm khắc của vua; những người làm trái mệnh lệnh - ngoại trừ vua - đều bị xử phạt theo hình pháp.
Hàn Phi định nghĩa 'Luật pháp là những hiến lệnh soạn ra dành riêng ở quan phủ, hình phạt ắt phải tùy lòng người: thưởng dành riêng cho ai tôn trọng luật pháp và phạt thì áp dụng đối với kẻ trái lệnh. ' Ông nhấn mạnh vai trò quan trọng của luật pháp trong thiên Hiển Học như
sau:
'Bậc thánh trị nước, không đợi cho mọi người làm điều thiện theo ý mình mà chỉ làm cách nào cho mọi người không làm được điều trái ngược. Ðợi cho mọi người làm điều thiện theo ý mình thì trong phạm vi của mình không có đến số mười người. Dùng cách nào để cho người ta không thể làm điều phi phạm thì toàn quốc có thể như nhau. Kẻ trị nước thì dùng số đông mà bỏ số ít cho nên không chú ý vào đức mà chí chú ý vào luật pháp. Ôi! Nếu phải đợi gỗ thẳng mới làm tên bắn thì trăm đời chưa có tên, nếu phải đợi có gỗ tròn thì mới làm bánh xe thì trăm đời chưa có bánh xe vậy. Mũi tên tự nó thẳng, bánh xe tự nó tròn thì trăm đời chưa có một. Thế mà trên đời vẫn có kẻ cưỡi xe, bắn chim, đó là vì đã áp dụng khoa uốn tròn, phép (ép) thẳng vậy. Nay tuy không đợi uốn, ép mà có tên thẳng, có bánh xe tròn, nhưng người thợ khéo vẫn không làm quý. Tại sao? Vì không phải chỉ có một người biết cưỡi xe và cũng không phải bắn tên ra chỉ có một phát. Không đợi thưởng phạt mà người dân tự làm thiện, bậc minh chủ không lấy làm quý. Tại sao? Vì phép nước thì không thể bỏ mà kẻ bị trị không phải một người vậy. '
Trong mô hình pháp chế của Hàn Phi, vai trò của quốc gia vốn biểu hiện qua vị thế của nhà vua được tôn trọng tuyệt đối. Thiên hạ tôn vua vì cái thế làm vua khi vua có tư cách tương đối - chứ không phải siêu phàm - và biết sử dụng pháp thuật để nắm quyền quốc trị. Cá nhân và gia đình trở thành vô nghĩa khi so sánh với quốc gia; nhân dân phải hy sinh cho quốc gia mà không thể phàn nàn hay phản kháng. Ðạo đức trở thành vô nghĩa và những đức tính nào bất lợi cho nhà vua - lãnh tụ quốc gia - đều bị ngăn cấm bất kể là lễ nghĩa Khổng Mạnh hay tư cách Lão Mặc. Thần dân phải tuyệt đối tôn quân bất kể là nhà vua bạo ngược hay vô tài thiếu đức.
'Lợi cho dân không gì bằng quốc gia được thịnh trị, muốn trị thì phải lập vua, lập vua thì phải tôn pháp luật, tôn pháp luật thì phải trừ gian, trừ gian thì phải dùng nghiêm hình, vậy dùng hình để trừ tội rồi khỏi phải dùng đến hình nữa. '
Theo Hàn Phi thì quốc gia bị xáo loạn một phần vì thiếu hình pháp và một phần vì giới quân tử miệng thì nói lễ nghĩa mà tay thì chỉ lo thủ lợi riêng tư. Loại quân tử bề ngoài này khi cầm quân thì đốc thúc nhân dân chém giết cho tư lợi của họ, và khi thất thủ thì về hưu hủ hỉ với vợ con để chờ thời; họ không biết làm gì có lợi cho nhân dân khiến nhân dân không nhất lòng trung thành với chính quyền. Vì vậy cho nên lãnh tụ chỉ cần đến luật pháp chứ không phải có đạo đức quân tử hay khả năng đặc biệt để quản trị quốc sự. (Khi cần đến những hành động đạo đức thì lãnh tụ với nghệ thuật dùng người có thể chỉ định những cá nhân đạo đức thay vua thi hành việc đạo đức.)
'Bỏ luật pháp để dùng tâm trị thì vua Nghiêu cũng không thể trị được một nước. Bỏ thước vuông thước tròn để dùng ý đo bừa bãi thì Hề Trọng cũng không thể làm thành một bánh xe.. Nếu khiến một nhà lãnh đạo bậc trung giữ pháp thuật, hay là một người thợ vụng giữ thước quy củ, xích, thốn thì vạn sự không sai hỏng. Nếu nhà vua có thể bỏ được những gì mà người hiền và khéo cũng không thể làm được, và giữ cái mà kẻ trung bình và vụng về không hề sai hỏng trong vạn sự, thì nhân lực được tận dụng mà công danh cũng lập được vậy.
'Cho nên khi lập ra cạm bẫy không phải dùng để phòng bị loài chuột mà chỉ để cho kẻ yếu kém có cách chế phục được hổ dữ vậy. Lập ra luật pháp cũng không phải để tránh người Tăng sử mà chỉ để cho bậc vua chúa tầm thường có thể ngăn chận bọn đạo chích vậy. '
Việc quốc trị là nỗ lực quản thống quốc sự cũng như minh trị nhân dân. Xã hội của con người chỉ có một số nhà đại hiền thực sự như Khổng Tử, nhưng đại đa số chỉ là thường dân với ác tính bẩm sinh hay giả quân tử. Cái đạo của Khổng Tử thật tuyệt vời nhưng không có bao nhiêu người theo học, và số người thấu đạt được Khổng học lại còn hiếm hơn nữa. Vì thế nhà vua cần áp dụng pháp thuật một cách nghiêm ngặt mới mong bình định được quốc gia và giữ vững ngai vàng.
'Trong khi quản trị quốc sự, thượng nhân không tin cậy là con người tự hành sự tốt, mà nêu rõ là họ không thể làm việc sai quấy. Trong biên thùy quốc gia không có quá mười người hành sự tốt; tuy vậy, nếu biết nêu rõ là con người không thể làm việc sai quấy, thì cả quốc gia sẽ được thái hòa. Lãnh tụ đất nước phải biết nhắm vào đa số và quên đi vài cá nhân (hành sự tốt), và vì vậy không cần đến đạo đức mà chỉ cần đến luật pháp. '
Chủ trương pháp chế của Hàn Phi bao gồm bốn nguyên tắc: (i) Luật pháp phải hợp với thời thế; (ii) Luật pháp phải được ghi chép rõ ràng và công bố minh bạch; (iii) Luật pháp phải được áp dụng một cách công bằng; và (iv) Vấn đề thưởng phạt rất quan trọng cho nên phải được quy định rõ ràng. Con người thực tế của Hàn Phi đã có những quan sát về tình trạng quốc gia Trung Hoa như sau:
'(Trong thời thượng cổ) người thì ít mà vật chất thì nhiều, và vì vậy nhân loại không tranh cãi với nhau. Nhưng bây giờ nhân loại không còn nghĩ một gia đình với năm con là nhiều, và mỗi đứa con lại có năm con, trước khi ông qua đời thì đã có đến 25 cháu. Kết quả là nhiều người mà ít vật chất cung ứng, và một người phải làm nhiều để đổi lấy miếng ăn ít ỏi. Vì vậy nhân loại sinh ra tranh cãi. '
Ðối diện với thực trạng của Trung Hoa vào thời đó, Hàn Phi đoạn tuyệt với chủ trương tái lập chính sách quốc trị thời thượng của Nghiêu, Thuấn. Ông phê phán là Khổng Tử và Mặc Tử chưa từng biết Nghiêu, Thuấn như thế nào mà cứ cho là học thuyết của mình đúng theo đường lối của Nghiêu, Thuấn. 'Không tham nhiệm (chứng cớ) mà quả quyết chắc chắn đúng (với sách lược của Nghiêu, Thuấn) là ngu dốt; không thể quả quyết chắc chắn đúng mà lại cứ theo là giả dối. Cho nên cứ lấy lời người trước mà đoán định Nghiêu, Thuấn thì nếu không ngu dốt cũng là giả dối. ' Theo Hàn Phi, không những chúng ta khó đoán được phương pháp cai trị của cổ nhân mà dẫu có biết được thì phương pháp cai trị đất nước của cổ nhân cũng không còn hợp với thời thế mới. 'Việc tùy thuộc theo thời, và các chuẩn bị tùy thuộc theo việc, ' chứ không phải chỉ biết bám vào một công thức duy nhất. Thời đại mới có những vấn đề mới cần phải được giải quyết bằng phương pháp mới cho nên luật pháp phải phản ảnh các yếu tố quốc gia thực tại. 'Thời đổi mà pháp không đổi thì loạn.. Cho nên thánh nhân trị dân tùy thời mà đổi pháp. '
'Cho nên phép trị dân không cố định, chỉ dùng luật pháp để trị mà thôi. Mà luật pháp biến chuyển theo được với thời đại thì thiên hạ trị. Pháp trị dân được thích nghi với hoàn cảnh xã hội thì nó sẽ có công hiệu.. Thời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì loạn. '
Hàn Phi chủ trương là luật pháp phải được ghi chép rõ ràng và công bố minh bạch. Trước khi có quan niệm pháp chế thì các chính quyền Trung Hoa cổ đại chủ trương giữ kín luật pháp vì suy luận rằng 'dân biết có pháp luật thì không sợ người trên, lại đều có lòng cạnh tranh (cho nên) lấy sự trưng ra sách vở mà cầu may để thành, thì không thể trị được. ' Chính Khổng Tử cũng không chấp nhận việc minh bạch hóa luật pháp; khi hay tin nước Tấn khắc hình thư của Phạm Tuyên trên đỉnh đồng năm 513 tr.T.L., ngài bày tỏ là: 'Nước Tấn suy vong ư! Làm mất chế độ vậy.. Dân biết có hình đỉnh thế thì làm sao tôn trọng giai cấp quý tộc? và giai cấp quý tộc còn giữ được nghề gì cho mình? ' Trái ngược với các tư tưởng cổ hủ, Hàn Phi và những triết gia pháp chế chủ trương rằng luật pháp cần được ghi chép rõ ràng và thông báo cho toàn thể nhân dân được biết.
'Pháp luật (nên) được ghi chép rõ trong sách vở, bày ra nơi quan phủ và phổ biến ra trong bá tánh. '
Nhờ sự minh bạch của luật pháp, nhân dân có thể biết được trách nhiệm và quyền lợi của họ một cách chính xác. Một chức quan giảng giải luật pháp cũng được tạo ra trong cơ chế chính quyền với nhiệm vụ phân tích luật pháp đúng đắn cho nhân dân khi họ có điều thắc mắc. Những lời giải thích này được ghi chép lại, đóng dấu và ký tên để nhân dân có cơ sở rõ ràng khi sinh hoạt cũng như phòng hờ sự trốn tránh trách nhiệm của người phân tích pháp lý; nếu họ giải thích luật lệ sai trái thì họ sẽ bị trừng trị.
Khi luật pháp đã được ban hành thì lãnh tụ quốc gia phải thi hành luật pháp một cách nghiêm khắc. Theo Hàn Phi, các chủ trương quốc trị chỉ dùng nhân nghĩa với hy vọng là nhân dân sẽ xử sự nhân nghĩa mà không cần đến pháp luật là những chủ trương lý tưởng thiếu thực tế. Nhân loại vốn có ác tính bẩm sinh cho nên việc dùng nhân nghĩa để quản thống quốc sự sẽ dẫn đến đại loạn. 'Cho nên người có lòng nhân mà ở ngôi cao thì kẻ dưới phóng túng mà phạm điều cấm, rồi lại mong người trên tha thứ; người tàn bạo mà ở ngôi cao thì pháp lệnh sai trái (thì) dân oán mà sinh lòng làm loạn; vì vậy mới nói là kẻ nhân và kẻ bạo tàn đều là hạng người mất nước. '
Nhà vua không thể vì đạo đức hay lời năn nỉ hoặc thân thế của kẻ phạm pháp mà nương tay hay thay đổi luật pháp; nếu vua có những hành động thiên vị như thế thì khó mà có thể khiến nhân dân tin tưởng vào pháp luật hiện hành. Ngoại trừ vua và kẻ nối nghiệp ngai vàng, bất cứ ai phạm luật cũng phải chịu hình pháp kể cả bậc khanh tướng, đại phu. Bị ảnh hưởng của Mặc Tử,Ạ Hàn Phi bình đẳng hóa thành phần quý tộc với giai cấp thường dân trong mô hình pháp chế của ông. Người tuân hành pháp luật thì được trọng thưởng, còn kẻ làm trái luật - trừ vua ra - thì bị cực hình bất kể giai cấp cao thấp. Chính nhờ sự thi hành luật pháp gắt gao mà lãnh tụ có thể kiểm soát (khống chế) được toàn thể nhân dân bất kể là dân số của quốc gia ít hay nhiều. Trong xã hội pháp chế, yếu tố quan trọng có thể giữ vững chính quyền là khả năng thưởng phạt. Khi lãnh tụ quốc gia nắm được quyền thưởng phạt thì có thể 'không làm gì, nhưng không có gì không được làm '. Trách nhiệm lãnh đạo giảm bớt rất nhiều (như chủ trương vô vi 'không làm mà không có việc gì không thành ' của Lão giáo) sau khi chế độ pháp chế được thành
lập.
'Tương tự như mặt trời và mặt trăng chiếu sáng, bốn mùa thay đổi, mây tỏa, và gió thổi, lãnh tụ cũng như vậy không cản trở trí óc với kiến thức, hay với sự ích kỷ. Lãnh tụ nhờ vào luật pháp để quản trị quốc sự tốt đẹp hay (giải quyết) xáo loạn; dùng thưởng phạt để thẩm định phải quấy; và nặng hay nhẹ tùy thuộc vào cán cân. '
Hàn Phi mệnh danh khả năng thưởng phạt là 'hai (2) quai của lãnh tụ '. Hiệu lực của khả năng thưởng phạt đến từ ác tính bẩm sinh của nhân loại: Tính bẩm sinh của nhân loại không tốt đẹp lại chỉ muốn kiếm lợi lộc và tránh tổn hại. (Tư tưởng của Hàn Phi phản ảnh rõ nét quan niệm của thầy Tuân Tử - ác tính bẩm sinh - nhưng lại chú trọng vào luật pháp để chế ngự ác tính thay vì đạo đức để giáo hóa ác tính như Tuân Tử chủ trương.)
'Khi cai trị thiên hạ, vua phải hành động theo tính bẩm sinh của nhân loại. Tính bẩm sinh của nhân loại bao gồm cảm giác thích và ghét, vì vậy nên tưởng thưởng và hình phạt có hiệu lực. Khi tưởng thưởng và hình phạt có hiệu lực thì cấm lệnh và pháp lệnh có thể được thiết lập, và phương pháp quốc trị được hoàn thành trọn vẹn. '
Hàn Phi quan niệm rằng nhà vua dùng luật pháp để quản trị nhân dân nhưng muốn cho việc quản thống quốc sự được hữu hiệu thì nhà vua còn phải trông cậy đến sự giúp đỡ của quan tướng. Khi nhà vua biết học hỏi và áp dụng thuật dùng người do Hàn Phi đề nghị thì vua có thể không cần làm mà cũng có thể an bang tế thế (vô vi nhi trị). Thuật khác với pháp luật ở chỗ là thuật không có minh bạch và không được công bố rõ ràng như pháp luật bởi vì chỉ có vua mới sử dụng đến thuật để cai quản quan tướng.
Thuật dùng người của Hàn Phi đòi hỏi lãnh tụ quốc gia phải quy định hay pháp hóa nhiệm vụ của quan tướng rõ ràng và sau đó giao trách nhiệm hành pháp cho nhân vật có khả năng tương xứng. Quan tướng phải có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao phó, và lãnh tụ quốc gia không cần lưu tâm đến phương pháp hành động của họ ngoại trừ việc cho người dò xét hành vi của họ (để đề phòng họ phản bội). Cứu cánh quan trọng hơn phương tiện, và quan tướng phải biết tìm mọi phương tiện để đạt cho được cứu cánh. Khi quan tướng hoàn thành nhiệm vụ thì được trọng thưởng, nhưng nếu thất bại thì phải chịu hình phạt. Với phương pháp dùng người này, nhà vua có thể loại trừ thành phần bất tài; và chỉ những người có khả năng mới dám nhận lãnh trách nhiệm quản trị quốc
sự.
'Khi quần thần thỉnh cầu,vua trao việc tương xứng theo những gì quần thần thỉnh cầu, nhưng bắt buộc quần thần chịu hoàn toàn trách nhiệm hoàn thành công việc một cách tương xứng. Khi sự thành công tương xứng công việc, và công việc tương xứng lời thỉnh cầu của quần thần, quần thần được tưởng thưởng. Nếu sự thành công không tương xứng công việc, hay công việc không tương xứng lời thỉnh cầu của quần thần, quần thần bị trừng phạt. '
Nhà vua phải đề phòng năm điều kỵ bao gồm: (i) quan tướng phản bội; (ii) quan tướng nắm trọn tài lợi; (iii) quan tướng tự ý hạ lệnh bất kể đến uy quyền của nhà vua; (iv) quan tướng liên kết tạo phản; và (v) quan tướng tổ chức lực lượng riêng. Nhà vua không thể để bị rơi vào vòng kiểm soát của quan tướng hay để bị đầu độc bởi những lời xiểm nịnh. Khi cầm quyền quản thống quốc sự, chiêu bài của vua là 'không tin bất cứ ai để mất nước; ' do đó vua phải luôn luôn dò xét kẻ dưới để họ lo lắng sinh nghi và sợ hãi mà không dám có gian ý.
'Cho nên nói là làm vua thì phải bỏ lòng ham thích, lòng căm ghét đi thì kẻ dưới không biết được ý vua (để xiểm nịnh); kẻ dưới không biết được ý vua thì vua không bị che lấp. '
Hàn Phi tin rằng quần thần vốn có ác tính bẩm sinh cho nên ai cũng ham muốn ngai vàng và luôn luôn mong chờ cơ hội để giết vua đoạt ngôi. Ông khuyên nhà vua phải đề phòng quần thần đừng để họ vượt ra khỏi chu vi quyền hạn do vua quy định bởi vì quyền lợi của vua không bao giờ giống như quyền lợi của quần thần.
'Ông vua nào biết rằng cái lợi của vua và tôi thần khác nhau thì làm vương, ông vua nào cho là cái lợi của vua và tôi thần chung nhau thì tất bị cướp ngôi, ông vua nào cho bề tôi cộng sự với mình thì tất bị sát hại. '
Hàn Phi khuyên nhà vua nên bắt chước việc Hàn Chiêu Hầu giết quan lo về vương mão để răn đe bề tôi. Khi Hàn Chiêu Hầu say rượu ngủ quên, quan điển quan (lo vương mão) sợ vua nhiễm lạnh cho nên lấy vương bào đắp cho vua. Khi tỉnh dậy, vua liền khiển trách quan điển y (lo vương bào) vì không chu toàn nhiệm vụ, và ra lệnh giết quan điển quan vì dám vượt qua chức phận lo vương mão của hắn. Hàn Chiêu Hầu phải làm như để răn đe quần thần khiến họ không dám tự ý vượt quá quyền hạn được vua giao.
Hàn Phi tin tưởng rằng với luật pháp nghiêm minh và kỹ thuật dùng người của ông, nhà vua có thể quản trị nhân dân và quản thống quốc sự hữu hiệu, tốt đẹp mà không sợ bị kẻ dưới phản bội. Khi nhà vua biết áp dụng sách lược pháp chế của ông thì nhà vua có thể không cần làm mà cũng an định được quốc dân (vô vi nhi trị).
.......... Dương Thành Lợi:
Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương,tr.101-157