Những Ðề Nghị Cho Người
Việt Nam Ðầu Thế Kỷ 21
Sách Lược Dung Hợp
Strategie van het Junghopisme
Trich
tu Dan Chu - Ngô Văn
Tuấn
***
Với
tinh thần hoàn toàn khách quan và trung thực khi soạn thảo
những điểm đề nghị này trình bày cùng
quý vị, tôi đã
đúc kết các tài liệu, dữ kiện và các phương
tiện có được của các tổ chức,
đoàn thể và đảng phái người Việt Nam
ở hải ngoại, ở quốc nội, của cộng
sản và của quốc tế để hy vọng
được hoàn chỉnh sách lược này.
Dĩ
nhiên những tài liệu, dữ kiện và phương
tiện tôi chỉ có trong hạn hẹp mà thôi, nên có thể
không đủ làm nền tảng cho sách lược. Có
rất nhiều quan niệm và lập trường khác
nhau của nhiều tổ chức, đoàn thể và
đảng phái, vì vậy xin quý vị hãy đóng góp ý
kiến. Rất hoan nghênh những ý kiến, phê bình nào
có những nhận thức mới. Có như vậy mới
có dịp để sách lược được hoàn
thành và tôi cũng được học hỏi thêm.
Sách
Lược Dung Hợp gồm có Luận thuyết và 3
Giai đoạn I, II, III. Mỗi Giai đoạn có các Phần:
A cho người Việt Nam ở hải ngoại, B cho tổ
chức quốc tế và C cho người Việt Nam tại
quốc nội.
Giai đoạn I, Phần A là Hình Thành. Trong Phần Hình Thành gồm có các Ðiểm chính yếu là:
Ðiểm
1A.I: Hợp Ðoàn.
Ðiểm
2A.I: Chủ Ðộng
Ðiểm
3A.I: Chủ Ðạo
Ðiểm
4A.I: Nguyên Tắc.
Ðiểm
5A.I: Nhân Quyền.
Ðiểm
6A.I: Ðối Thoại.
Giai
đoạn II, Phần A là Phục Hoạt gồm có:
Ðiểm
7A.II: Chiết Trung.
Ðiểm
8A.II: Nối Kết.
Ðiểm
9A.II: Tựu Kế.
Trong
khuôn khổ những bài này, tôi viết có tính cách tổng
quát mà không đi sâu vào chi tiết.
Văn hóa - Xã hội - Cộng
đồng
Người
Việt Nam rời khỏi nước ra đi tỵ nạn
ở hải ngoại, có nghĩa là người Việt
Nam không thể chấp nhận chế độ độc
quyền, độc đảng, tham nhũng và bất
công của Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa
Việt Nam và Ðảng cộng sản Việt Nam. Người
tỵ nạn Việt Nam chỉ có thể trở về nước,
một khi đất nước đã thay đổi.
Ở hải ngoại, người Việt Nam thành lập
cộng đồng tại mỗi nước. Cộng
đồng là toàn thể những người sống thành
một xã hội, nói chung có những điểm giống
nhau (ngôn ngữ, sinh hoạt...), và gắn bó thành một.
Cộng đồng có tính cách là đại diện cho dân
tộc Việt Nam tại đó. Do đó, cộng đồng
rất quan trọng đối với người tỵ
nạn Việt Nam.
Tuy
nhiên tại những nước lớn khác, như Pháp,
Ðức, Mỹ, Gia Nã Ðại, U¨c, v.v... cộng đồng
khó có thể thành lập làm một, mà có nhiều tên
khác ở các địa phương, như Nghị Hội,
Liên Hội, Hội, v.v... Ở Mỹ là nước có rất
nhiều hội đoàn của người Việt Nam.
Ở Gia Nã Ðại, U¨c, Pháp, ... cũng có nhiều tranh
chấp, mặc dù ít hơn ở Mỹ về nhân sự...
Hiện nay, chính quyền cộng sản Việt Nam, một mặt đang cho bộ phận tình báo ra hải ngoại khai thác những sự xung đột giữa các cá nhân dẫn đến sự chia rẽ các đoàn thể, cộng đồng, và chiêu dụ những người tỵ nạn Việt Nam thành lập những hội đoàn mới tại đây. Mặt khác, cộng sản Việt Nam khuyến khích những người về nước, với tính cách hồi hương định cư trong nước, hầu đem của cải tiền bạc về xây dựng đất nước. Từ đây, chắc chắn sẽ có người Việt Nam bị lung lay trước ý nghĩ về nước định cư! Về nước định cư là một việc làm tốt, nhưng mà về như thế nào đây, khi mà Ðảng cộng sản Việt Nam và nhà nước đang còn độc quyền độc đảng thống trị nhân dân Việt Nam! Do đó, việc làm sao cho cộng đồng thật vững mạnh là một việc làm lâu dài của tất cả người Việt Nam ở hải ngoại.
Hiện
tại muốn cho cộng đồng được mạnh
mẽ, vững chắc, trước hết ta phân biệt
giữa cộng đồng và các tổ chức chính trị.
Cộng đồng thuần túy trông coi về văn hóa,
kinh tế, xã hội, văn nghệ, v.v.. Các tổ chức
chính trị có nhiệm vụ chủ yếu là lo về
mặt chính trị của các đảng phái, mặt trận,
phong trào, v.v.. Cộng đồng và các tổ chức
chính trị hoạt động song song và hỗ tương
lẫn nhau. Nhưng không thể lẫn lộn giữa cộng
đồng và các tổ chức chính trị ở tại
mỗi nước. Nếu có sự lẫn lộn làm một
này, là một việc làm sai lệch hoàn toàn ý nghĩa của
cộng đồng.
Cộng
đồng tại nước nào là do người Việt
Nam tại nước đó ra sức lập nên. Người
Việt Nam cũng có những người không thích hoạt
động chính trị. Nếu bắt buộc người
đó phải chấp nhận các tổ chức chính trị
với cộng đồng là một, là khiến cho người
đó phải tự rời khỏi cộng đồng.
Ðó là điều không hợp lý.
Do
đó, cộng đồng phải là một thực thể,
có cái nhìn bao quát, đủ mọi khuynh hướng. Chúng
ta đã nói đến dân chủ tự do, đa nguyên,
thì không có lý nào để một người nào đó
nghĩ khác về ta. Các tổ chức hoạt động
về văn hóa, văn nghệ, xã hội, kinh tế,
chính trị, v.v... dù lớn hay dù nhỏ, hoặc bất
cứ lập trường gì, có cùng quan niệm hay khác
nhau quan điểm, chính kiến, cũng là người
trong cộng đồng. Chúng ta không phân biệt lẫn
nhau về cách đối xử, vì tất cả là người
Việt Nam. Ðây là một điểm vô cùng quan trọng,
vì có không phân biệt cách đối xử lẫn nhau
giữa người Việt Nam tại hải ngoại, chúng
ta mới có thể chủ động được tình
hình ở hải ngoại, và nhất là tình hình tại
Việt Nam sau này.
Người
Việt Nam lập ra một Ban giám sát, để trông coi
những việc gì đúng hoặc sai của cộng
đồng và các tổ chức, để kịp thời
khuyến cáo và ngăn chận những việc sai trái
có thể xảy ra. Có nơi người Việt Nam bỏ
Ban giám sát, mà chỉ bầu cử Ban chấp hành cộng
đồng. Làm như vậy, thì những việc làm của
cộng đồng không ai hay biết, là sai với nguyên
tắc dân chủ đã được đề ra.
Ðây
là thí dụ về cách thành lập cộng đồng tại
Hòa Lan, phỏng theo hình thức Pacificatiedemocratie (dân
chủ hòa dịu) của Hòa Lan
và Conventioneel Stelsel (hệ thống quy ước)
của Pháp (1). Lẽ dĩ nhiên tại mỗi nước,
người Việt Nam khi thành lập cộng đồng
có khác nhau về mô hình, chẳng hạn như Checks
and Balances (kiểm soát và quân bình) của Mỹ,
Tweepartijenstelsel (hệ thống lưỡng đảng)
của Anh, v.v.. (2). Nhưng tựu trung cùng giống nhau
ở một điểm là Dân chủ tự do.
Một
cộng đồng lớn mạnh, vững chắc là cộng
đồng đó do dân và vì dân, là do tập thể người
Việt Nam sống trong đất nước đó ra
công vun sới mà thành. Chứ không phải cộng đồng
là do một nhóm hoặc một lực lượng bồi
đắp, mặc dù lực lượng đó là đại
diện cho một tổ chức chính trị (mặt trận,
liên minh, v.v..) tại nước đó làm nên. Một khi
cộng đồng do một lực lượng tiếm
lấy và
giành
quyền lãnh đạo, thì lúc đó cộng đồng
không còn là của quần chúng nữa. Nên dân chúng và
các thành viên của các đoàn thể khác tự động
rời bỏ, hoặc chờ tới khi chấm dứt
nhiệm kỳ thì ngừng tất cả các công tác hoạt
động với cộng đồng. Khi các người
đó đã rời cộng đồng, năm này qua
tháng nọ nằm ở nhà, dần dần tất cả
công việc lớn nhỏ của cộng đồng
như chưa hề nghe tới, có thể là do thời cuộc
biến đổi, tình hình của Việt Nam có sự
đổi thay mới, và họ cố tình quên luôn cộng
đồng.
Khi
gặp những trường hợp như trên, nhiệm
vụ của Ban giám sát là phải thường xuyên nhắc
nhở, kiểm thảo công khai những việc làm trên
của cộng đồng. Trong trường hợp cần
thiết, Ban giám sát có thể triệu tập một
phiên họp khoáng đại để kiểm điểm,
xây dựng, hoặc tổ chức bầu cử lại
Ban chấp hành cộng đồng. Nhưng, nếu
trường hợp Ban giám sát không đủ lực
lượng để có thể giải quyết kịp
lúc và kịp thời thì sao? Thì trong lúc này, nhiệm vụ
của các tổ chức chính trị vô cùng cần thiết
đối với cộng đồng.
Cộng
đồng tại nước nào có nhiệm vụ tại
nước đó. Những sự trao đổi cách thức
làm việc giữa cộng đồng nước này và
nước khác là việc thường xuyên xảy ra. Nhưng,
việc mời gọi để đi biểu tình, kiến
nghị ở mỗi nước, đó là việc làm của
các tổ chức chính trị. Cộng đồng nên
đứng ngoài, làm như vậy là muốn thật sự
trung thực và có cái nhìn khách quan giữa các tổ chức
chính trị với nhau.
Các tổ chức chính trị
Trong cuộc tranh đấu cùng cộng
sản trong hiện tại và tương lai, có hai điều
mà người Việt Nam cần phải lựa chọn:
1.
Nếu thấy rằng đảng và nhà nước
cộng sản Việt Nam đã ổn định, không
có một lực lượng nào có thể làm cho họ
thay đổi đường lối và chính sách, nghĩa
là chấp nhận cộng sản độc quyền và
chuyên chính như cũ, thì tốt nhất là hãy quay sang
làm một việc nào khác có ý
nghĩa hơn.
2.
Nếu thấy rằng đảng và nhà nước
cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ thất
bại trong việc cai trị và quản lý nhà nước,
phải sửa đổi đường lối, chính
sách cho phù hợp với xã hội, trào lưu mới và
chính quyền sẽ về tay nhân dân Việt Nam, thì hãy
nhất quyết yểm trợ công cuộc tranh đấu
của dân chúng tới cùng.
Khi
đã đồng ý và quyết tâm yểm trợ công cuộc
tranh đấu của nhân dân Việt Nam, trước hết
chúng ta phải xác định: các tổ chức chính trị
của người Việt Nam ở hải ngoại dù mạnh
đến đâu đi nữa, thì cũng chỉ là yểm
trợ cho các lực lượng tiến công trong nước
mà thôi. Từ ngữ yểm trợ là ở hải
ngoại, và hoạt động bên trong nước là
tiến công.
Yểm
trợ và Tiến công là hai mặt của một cuộc
tranh đấu, dù là chính trị, kinh tế, văn hóa,
hay quân sự ... Tiến công có đạt được
kết quả mong muốn hay không, là do phần Yểm trợ
có chu đáo, tường tận, chia ngọt xẻ bùi
trong lúc Tiến công hay không. Có Yểm trợ đắc
lực, thì Tiến công mới có thể thành công. Còn nếu
Yểm trợ mà chia rẽ không đoàn kết, thì Tiến
công cầm chắc là dậm chân tại chỗ, hoặc
bỏ cuộc. Trong cuộc tranh đấu cùng cộng sản,
các tổ chức chính trị của người Việt
Nam ở hải ngoại có tự hỏi mình là đã
làm tròn trách nhiệm của người yểm trợ
chưa? Có nghiêm khắc nhìn kỹ mình là ai, ở đâu?
Và đồng bào mình ở quốc nội đang và
sẽ
Từng
bấy nhiêu câu hỏi, cũng cho ta một giải đáp:
các tổ chức chính trị của người Việt
Nam tại hải ngoại từ trước tới nay
chưa có một sự đồng thuận nào cả. Một
sự đồng thuận của các tổ chức chính
trị vô cùng cần thiết và quan trọng nhất
trong việc tranh đấu cùng cộng sản độc
quyền trong nước.
Một
sự đồng thuận, như có từng đàn chim kết
hợp lại và ca hót những nhịp điệu chung,
đó là một sự Hợp Ðoàn. Một sự Hợp
Ðoàn của các tổ chức chính trị trong lúc này là
đồng thuận về nhận thức, phương
thức và ý thức công cuộc đấu tranh. Dĩ
nhiên lập trường và tư tưởng chủ
đạo của một đảng phái, mặt trận
hay một tổ chức nào, thì giữ nguyên cho đảng
phái, mặt trận hoặc tổ chức đó, chỉ
có cùng nhìn về một hướng đi của chính
nghĩa dân tộc Việt Nam mà thôi. Một khi mà các
đảng phái, mặt trận, liên minh, lực lượng,
nhóm, v.v.. cùng chấp thuận và công nhận một hình
thức đồng thuận - Hợp Ðoàn - thì việc
đương đầu cùng cộng sản chuyên chính
có cơ hội thuận lợi hơn.
Từ
những năm trước đây đã có xuất hiện
nhiều đại hội, hội nghị gồm những
tổ chức khác nhau về chính kiến, lập trường
... như: Mặt trận Dân Tộc Dân Chủ Việt
Nam, Ủy ban Liên Kết người Việt Tự Do, Hội
nghị Chính Trị, Ngày yểm trợ những người
dân chủ trong nước, v.v... Ðây là những người
nhiệt huyết, có lý tưởng, họ muốn làm một
cái gì đó cho người Việt ngoài nước và
trong nước, và nhất là cho đất nước Việt
Nam.
Nhưng
nhìn kỹ lại, những việc làm của họ còn
quá nhỏ so với nhu cầu đòi hỏi. Nhu cầu
đòi hỏi là phải có Lực cần thiết và
đầy đủ để có thể đương
đầu với lực lượng đối nghịch.
Ðó là, Lực của các cá nhân, đoàn thể, đảng
phái, tổ chức ở hải ngoại (A) và Lực của
nhân dân Việt Nam bên trong nước (B) phải biết
kết hợp, quy tụ lại thành một Lực chung tổng
hợp, rộng lớn, quy mô hơn. Lực đó ta gọi
là Quy Nạp Lực (Hình 1) (3).


Quy Nạp Lực
Muốn
tạo nên Quy Nạp Lực, trước tiên ta phải:
1.
Bình tâm tỉnh trí để suy xét. Không nên xét
đoán bừa bãi, cẩu thả. Tránh mất hòa khí,
gây bất lợi cho cá nhân và đoàn thể.
2.
Những việc chụp mũ, nói xấu, vu khống,
mạ lỵ... những người bạn đồng hành,
ta nên dứt khoát tuyệt đối tránh. Ta không nên vì
việc tổ chức này chuyên thực hành, mà chống
lại tổ chức kia lo về mặt lý thuyết. Thực
ra thực hành và lý thuyết đều quan trọng
như nhau, chỉ do người xử dụng biện pháp
và đường lối có đúng hay không.
3.
Muốn làm việc lớn, ta phải hòa mình làm việc
cùng với những chí hữu, chiến hữu, những
anh em thân cận ta. Nếu bỏ qua các việc nhỏ,
thì sau này việc lớn làm sao ta làm được.
4.
Phải thành thật, biết thì nói biết, không
biết thì nói không biết, ta cứ việc học và hỏi.
Ta không sợ ai cười, ai nhạo báng ta. Có như vậy
mới là người dễ dàng tiến lên được.
5.
Phải quyết tâm và cố gắng làm tròn nhiệm
vụ, bổn phận và trách nhiệm của mình, mỗi
khi có công tác và được giao phó. Phải xong công
việc này, mới tới công việc khác.
Trên
đây là những điểm mà ta phải thường
xuyên ôn luyện. Muốn triển khai Quy Nạp Lực,
đầu tiên ta phải thẳng thắn nhìn vào khối
lượng các tổ chức chính trị ở hải
ngoại.
Một
tổ chức chính trị vững vàng, ổn định
là tổ chức đó phải được lòng dân
chúng Việt Nam tại nước đó cổ võ, ủng
hộ và tha thiết với những công việc làm của
tổ chức đó. Có tha thiết cùng tổ chức,
thì mới tìm đủ mọi phương cách để
có thể giúp tổ chức đó tiến lên. Còn nếu
không, thì sẽ không thể tiến lên được.
Do đó, một tổ chức chính trị của những
người tranh đấu vì dân tộc Việt Nam, thì
trước tiên phải vì quyền sống của dân
mà có, vì nhu cầu của dân mà thành, và vì hạnh phúc
của dân mà tạo nên.
Có
nhiều cách kết đoàn các tổ chức chính trị
lại với nhau. Nhưng ở đây chỉ nêu ra hai
cách thức chính yếu, đó là Kết đoàn dọc
và Kết đoàn ngang.
Kết
đoàn dọc là từ trên xuống dưới. Thí dụ
như Ban chấp hành trung ương của Liên minh Dân
Chủ Việt Nam ở Mỹ, các chi nhánh ở các châu
như Mỹ châu, Âu châu, U¨c châu, A¨ châu, và khắp các
nước như Pháp, Hòa Lan, Ðức, Bỉ, Y¨, Ðan Mạch,
Mỹ, Canada, U¨c, v.v... Các thành viên của LMDCVN đã
được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy bồi
đắp về lý thuyết khi còn sống, cho nên lý
thuyết đó như là chất keo gắn liền tư
tưởng của các thành viên lại với nhau. Và
các tổ chức, đảng phái khác cũng vậy. Họ
cũng có lý thuyết, đường hướng và lập
trường riêng. Mỗi khi có một chuyện gì, họ
lập tức huy động lực lượng của tổ
chức để làm cái gì đó. Ðây là ưu điểm
của tổ chức.
Ở
Kết đoàn dọc, các đoàn thể đảng phái,
mặt trận, liên minh, v.v.. thấy thì rất dễ
đoàn kết, nhưng thật ra rất khó, vì tổ chức
nào cũng muốn làm cái gì đó, nên họ trông chừng
lẫn nhau. Nếu có đoàn kết các tổ chức lại,
thì cũng không được trọn vẹn cho công việc
chung. Khi có một chuyện gì xảy ra, có thể do cái
nhìn sai lệch của các tổ chức, hoặc có thể
do tình báo cộng sản hải ngoại lợi dụng
giựt dây, thì đó là dịp để người Việt
Nam ở hải ngoại chụp mũ, biểu tình, chửi
rủa lẫn nhau, v.v.. Do đó, Kết đoàn dọc thất
bại từ nhiều năm qua.
Kết
đoàn ngang là trước hết tại mỗi nước
các đoàn thể kết hợp lại, rồi từ dưới
lên trên theo từng vùng hoặc châu, và tiếp theo là kết
hợp những vùng hoặc châu đó lại thành một
lực lượng chung. Thí dụ như ở Hòa Lan năm
1982-1990 đã xuất hiện Ủy ban Thống Nhất
Hành Ðộng. Ủy ban Thống Nhất Hành Ðộng là tổ
chức chính trị của quảng đại quần chúng,
vì được hầu hết dân chúng mến mộ,
nhiệt tình ủng hộ, tất cả đều
được đối xử cùng nhau hài hòa cho mục
tiêu chính yếu là chống lại Ðảng cộng sản
Việt Nam, và xây dựng tự do, dân chủ và nhân quyền
cho Việt Nam. Ủy ban Thống Nhất Hành Ðộng
đã cùng với Cộng đồng người Việt
tỵ nạn tại Hòa Lan song song và hỗ tương làm
việc, và đã giúp cho cộng đồng rất nhiều
cho sự đoàn kết khối người Việt tại
đây.
Cách
này được xây dựng trên sự chân thật từ
gốc là vì dân, do dân, và tranh đấu cho sự hạnh
phúc của dân. Kết hợp quần chúng từ dưới
lên trên vững vàng, kiến hiệu, và mọi người
cùng đối xử với nhau hài hòa, tương
nhượng và kính trọng nhau.
Kết đoàn ngang có kiến hiệu trong những công tác gần, nhưng lại quá chậm trong các hoạt động xa, rộng lớn hơn. Muốn đạt đến mục đích nhanh hơn thì phải có Kết đoàn dọc bổ sung. Nếu thiếu mất cái này thì cái kia sẽ hư việc và cũng sẽ thất bại.

Kết Ðoàn Ngang
Các đảng phái, mặt trận,
liên minh, v.v.. cũng phải kính trọng và tương
nhượng lẫn nhau mỗi khi gặp một vấn
đề khó khăn và có tính chất trọng đại.
Lúc đó sẽ thành lập một Cố Vấn Ðoàn
để cùng các tổ chức giải quyết và cởi
mở những gì còn khúc mắc trong lòng chưa
được nói ra. Cố vấn đoàn này phải thật
sự trung thực và vô cùng khách quan khi lắng nghe và giải
quyết những thắc mắc cùng các tổ chức. Cố
vấn đoàn là gạch nối giữa các tổ chức
lại với nhau. Và đây cũng chính là Diên Hồng
Tâm của tổ chức.
Lúc trước, sở dĩ
Ủy ban Thống Nhất Hành Ðộng thành công
được là nhờ có Nhóm Diên Hồng làm cố vấn,
tham mưu trong những công tác, tạo nên uy tín lớn
cho Ủy ban trong việc chống lại chế độ
chuyên chính cộng sản. Do đó, cả hai - Kết
đoàn dọc và Kết đoàn ngang - phải hỗ tương,
giúp đỡ cho nhau, và song song kiến tạo cho
được một thành phần lãnh đạo vững
vàng, nhạy bén và trẻ trung hầu có thể
đương đầu cùng lực lượng cộng
sản sau này.
Muốn đất nước hoàn
toàn là của nhân dân Việt Nam, người Việt Nam
nên nhớ: Khi muốn đương đầu cùng
cộng sản, trước hết phải có Dung Nạp
Lực. Muốn có Dung Nạp Lực, điều tiên quyết
là phải có Hợp Ðoàn. Hợp Ðoàn là chủ yếu
và nòng cốt trong cuộc tranh đấu.
Không có Hợp Ðoàn, ta như mất
đi thế đứng. Có Hợp Ðoàn, thì cơ hội
thủ thắng có nhiều thuận lợi hơn: chiếm
lợi thế nhiều hơn trên bình diện tranh thủ
nhân tâm, làm cho dân chúng Việt Nam ngoài và trong nước
tin tưởng nhiều hơn, cảm tình của quốc
tế đối với ta sẽ có nhiều kiến hiệu
hơn, và niềm tin nhất định thắng sẽ
trở lại với bất cứ người Việt
Nam nào.
Ghi chú (Noten):
1.
Prof. dr. U. Rosenthal, Politieke Stelsels, Inleiding: Een
politicologische blik buiten de grenzen, pag. 14-29, Samson Alphen a/d Rijn
1982.
2.
Prof. dr. H. Daalder, Werkboek Staatkunde, Staat en Democratie, pag.
5-19, Vakgroepen politieke wetenschappen en staatsrechtelijke vakken, Leiden
1986.
3.
Drs. Ngo Van Tuan, De Strategie van het Junghopisme, Leiden 1992.