Dân Chủ: Quyền Tối Thượng của Người Dân trên Chính Quyền

Trích t Dân Chủ - Nguyễn Học Tập  

1)   Tương quan ''quyền lực - tự do" và "hiệu năng - lợi thú"

Danh từ Dân Chủ ( Demokratía: Demos, dân chúng; krátos, quyền hành ) đã có từ trên dưới 2000 năm nay trong ngôn ngữ Hy Lạp, thời Platon, Aristote và Cộng Hoà Atena.

Nhưng người dân là người công dân trong một Quốc Gia Dân Chủ thực sự, ít nhứt là theo ý nghĩa dân chủ của tây phương, mới xuất hiện chưa tới 300 năm nay, từ năm 1776 với Tuyên Ngôn Ðôïc Lập Hoa Kỳ và 1789 Tuyên Ngôn Nhân Quyền và quyền Công Dân của Cách Mạng Pháp.

Ðể đạt được địa vị của người công dân trong một Quốc Gia Dân Chủ theo ý nghĩa chúng ta vừa đề cập, con người đã phải đứng ra tranh chấp, cách mạng lật đổ đẩm máu, cũng như chiếm lấy dần quyền lực từ tay vua từng mảnh một , đặt điều kiện với vua qua câu nói No taxation without representation ( Nếu nhà vua không cho làng xã thôn ấp cử thêm đại diện vào Quốc Hội ( Hạ Viện : House of Commons), dân chúng không đồng thuận trả thuế thêm cho vua).

Tốn bao nhiêu công sức như vừa kể để biến con người của mình từ thần dân trong vương quốc, nô bộc và thuộc hạ trong các thể chế độc tài toàn trị, thành chủ nhân quyền lực trong Quốc Gia Dân Chủ, người dân không dễ gì cho phép tiến trình lịch sử đổi ngược chiều.

Nói cách khác tiến trình hướng về dân chủ là dòng lịch sử một chiều, bất khả kháng, vì là tiến trình hợp với bản tính của con người, mặc dầu một vài vận hội trắc trở không phải là không có.

Ðể bảo đảm cho những gì tốn hao công sức mới đạt được, người dân trong thể chế dân chủ đặt những lằn mức không thể vượt qua trong việc tổ chức Quốc Gia Dân Chủ của họ vào Hiến Pháp:

 Hiến Pháp là một Văn Bản Bảo Chứng ( Garantisme). Ở Tây Âu , người dân đòi buộc phải có Hiến Pháp , nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một thể chế tổ chức Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách xử dụng quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn..

Và những chứng cứ cho tính cách  bảo chứng của Hiến Pháp được GS G. Sartori đề cập đến trong định nghĩa vừa được trích dẩn, là các điều khoản tuyên bố liên quan đến các quyền bất khả xâm phạm của con người, mà chúng ta có thể tìm thấy trong bất cứ văn bản Hiến Pháp nào:

·         Mỗi người có quyền phát triển con người của mình

·        Mỗi người có quyền phát biểu và truyền bá tư tưởng

·        Tất cả mọi người Ðức đều có quyền hội họp tự do, không võ trang, không tiên báo và không cần phải xin phép

·        Tất cả mọi người Ðức đều có quyền kết hợp nhau thành hiệp hội và tổ chức       

·         Bí mật thư tín , bưu điện và viễn thông là những quyền bất khả xâm phạm

Và Hiến Pháp 1949 CHLBD còn tiếp tục liệt kê các quyền bất khả xâm phạm khác suốt những điều khoản còn lại đến hết điều 19.

Với hình thức tuyên bố  Mỗi người có quyền ...hay là quyền bất khả xâm phạm Hiến Pháp đạt ra những lằn mức không thể vượt qua cho giới hành quyền , nhứt là Chính Quyền, trong phương thức hành xử của họ đối với người dân. 

Nói cách khác, Hiến Pháp tuyên bố các quyền của ngưòi dân dưới hình thức tiêu cực :  Mỗi người có quyền... hay là các quyền bất khả xâm phạm được hiểu đồng nghĩa với  Chính quyền không được....

Nhưng nền dân chủ các Quốc Gia Dân Chủ Tây Âu không phải chỉ có vậy. Tinh thần dân chủ của họ đã tiến xa hơn những gì chỉ được Hiến Pháp tuyên bố dưới hình thức tiêu cực, như là những bảo chứng tối thiểu cho người dân.

Quan niệm cỗ truyền về mối tương quan giữa giới hành quyền và người dân là quan niệm được biểu thị bằng hai danh từ  quyền hành - tự do, thoát xuất từ giai đoạn lấn dần quyền hạn của dân chúng Anh Quốc đối với vua ( No taxation without representation), của Tuyên Bố Ðộc Lập Hoa Kỳ 1776 và của Cách mạng Pháp Quốc 1789.

Quan niệm trên cho rằng Quốc Gia chỉ đạt được mục đích để bảo đảm cho cuộc chung sống an khang và vững chắc của mọi người bằng cách xử dụng quyền hành , ngay cả khi Chính Quyền xử dụng ngược lại quyền và tự do của cá nhân. Và từ đó , tự do và quyền của người dân chỉ có thể được bảo đảm bằng cách hạn chế việc hành xử quyền bính của Quốc Gia trong giới mức. Ðó là tinh thần bảo chứng của Hiến Pháp hay cách tuyên bố quyền và tự do của người dân dưới hình thức tiêu cực, như vừa nói.

Trong cơ chế tổ chức Quốc Gia Dân Chủ Tây Âu hiện tại ( lập pháp, hành pháp và tư pháp), quyền hành chỉ là một trong những phương thức để đạt được mục đích tổ chức cuộc sống an khang và vững chắc cho mọi người .

Một đôi khi Quốc Gia dùng đến quyền hành của mình để áp đặt trong giới mức hiến định, ngược lại tự do và lợi thú của người dân, nhưng trong cuộc sống thường nhật nhiệm vụ thông thưòng của Quốc Gia là cung cấp cho người dân những phục vụ ( services) hơn là dùng quyền lực để áp đặt.

Ðiều quan trọng của các cơ chế tổ chức Quốc Gia không phải là dùng quyền lực , mà là đạt đến kết quả phục vụ thoả mãn nhu cầu và lợi thú của người dân, bằng những hoạt động được luật pháp giao cho một cách hiệu năng và vô tư ( impartiale).

Nếu trong quan niệm cỗ truyền về dân chủ, mối tương quan giữa tổ chức quốc Gia và người dân là mối tương quan được biểu thị bằng  quyền hành - tự do , người dân nhìn các cơ cấu Quốc Gia ( nhứt là Chính Quyền) như là những mối đe dọa đối với quyền và tự do của mình, thì trong thể chế dân chủ hiện tại của Tây Âu mối tương quan trên được biểu thị bằng   hiệu năng và vô tư : người dân đòi buộc Quốc Gia can thiệp để bảo đảm cho họ một mức sống văn minh, xứng đáng với địa vị con người, đòi buộc Quốc Gia trong các hoạt động của mình không phí phạm tài nguyên và thời giờ, không ưu đãi đảng phái, phe nhóm.

Bởi lẽ bình đẳng là một trong những nguyên tắc nền tảng của thể chế dân chủ.

Mối tương quan hiện tại giữa người dân và Quốc Gia là mối tương quan , trong đó Quốc Gia thực hiện những hoạt động của mình để thoả mãn những đòi hỏi, lợi thú của họ ( phương tiện vân chuyển hỏa xa tiện nghi hơn, nhanh chóng hơn, an toàn hơn; cung cấp trình độ học vấn thoả đáng và thích nghi với môi trường làm việc; cung cấp một nền y tế tân tiến và chú trọng đến các nhu cầu của bệnh nhân; nền hành chánh đơn giản, mau chóng để thoả mãn các nhu cầu thường nhật , khỏi bắt dân chúng phải xếp hàng dài thường thượt để được một giấy phép, giấy chứng nhận; chính sách kinh tế thích hợp để kích thích phát triển, bảo đảm chống lạm phát và thất nghiệp ; ban hành luật pháp mau chóng để đối phó với tình thế ; chế độ thuế khoá đơn giản và công minh...).

Nói cách khác, tương quan giữa Quốc Gia và dân chúng trong thể chế dân chủ Tây Âu hiện tại không còn là mối tương quan đặt trên  quyền lực-tự do, mà trên  hiệu năng-lợi thú : Chính Quyền hoạt động hiệu năng để thoả mãn lợi thú của người dân. Và muốn thỏa mãn thích đáng lợi thú của người dân, hoạt động của hiệu năng của Chính Quyền phải là những hoạt động hiệu năng và không thiên vị.

Nhưng hiệu năng và không thiên vị chỉ có thể kiểm soát được đang lúc Chính Quyền cung cấp phục vụ cho người dân. Hai đặc điểm vừa kể không thể nào thêm vào được một khi một sự vật đã được cung cấp. Một giấy chứng nhận có thể được cấp cho người dân trong vòng năm phút, là một hoạt động hiệu năng của Chính Quyền. Mảnh  giấy trên, người dân có được sau hàng tiếng đồng hồ sắp hàng chờ đợi, sau khi những người có máu mặt đến sau được cấp trước, chứng tỏ nền hành chánh thiếu hiệu năng và vô tư. Khuyết điểm  trên của Chính Quyền chỉ có thể được phát hiện một cách có hiệu quả do chính người dân đương cuộc.

Những gì vừa đề cập đến cho thấy rằng luật pháp giao cho Chính Quyền trách nhiệm không những phải phục vụ người dân trong những gì được pháp luật ấn định, mà còn phục vụ một cách hiệu quả và công bằng.

Do đó ngoài ra những cơ quan được pháp luật xác định trong quá khứ để kiểm soát hành động của Chính Quyền, cơ quan tư pháp chẳn hạn, thể chế dân chủ Tây Âu hiện đại đang và sẽ tiên liệu thêm những phương thức kiểm soát khác , không những đối với những phục vụ được cung cấp, mà còn đối với phẩm chất của việc cung cấp: cung cấp bằng cáchnào, mau chóng hay chậm chạp, cung cấp một cách bình đảng hay thiên vị.

2) Dân Chủ: nền tảng quyền tối thượng của người dân.

Dựa trên nền tảng nào người dân có quyền đòi buộc Chính Quyền phải cung cấp cho họ và cho cộng đồng Quốc Gia các phục vụ một cách hiệu năng và vô tư?

Nền tảng Dân Chủ .

Dân chủ có nghĩa là người dân là chủ nhân tối thượng các quyền lực Quốc Gia.

Ðiều đó trước tiên có nghĩa là bất cứ quyền lực nào của Quốc Gia, nhứt là của Chính Quyền đều phải được  chính danh hoá  bởi ý muốn của đa số cử tri đồng thuận giao cho một cách dân chủ. Hay nói theo ngôn từ của Hiến Pháp 1949 CHLBD:

 Các dân biểu của Hạ Viện ( Bundestag) được tuyển chọn trong các cuộc đầu phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín.

Nhưng dân chủ không có nghĩa là người dân chỉ là chủ nhân của quyền lực Quốc Gia trước và trong các cuộc bầu cử, trao quyền cho nhóm người đại diện quản trị xong là bị tước đoạt hết quyền hành.  Dân chủ còn có nghĩa là người dân vẫn là chủ nhân của uy quyền Quốc Gia, ngay cả trong lúc những người đại diện của mình thay mặt mình xử dụng quyền hành, để kiểm soát tránh mọi lạm dụng , kiểm soát những phương thức và nhân sự thiếu hiệu năng và thiên vị.

Nói cách khác người công dân trong một Quốc Gia Dân Chủ vẫn là chủ nhân, có quyền đồng quản trị uy quyền và tài nguyên đất nước chung với những người được  chính danh hoá là đại diện của mình.

Bởi lẽ những thiếu sót cung ứng phục vụ, nhứt là phục vụ không hiệu năng và không công bình sẽ gây cho mỗi người dân nói riêng và cho cộng đồng nói chung những tai hại trầm trọng gấp bội hơn những thiếu sót vật chất thấy được.

Mục đích chính được giao cho Quốc Gia cung ứng phục vụ cho ngưòi dân được Hiến Pháp 1947 Y¨ cho thấy vượt ra ngoài lãnh vực cung ứng vật chất :

 Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật, trong khi giảm thiểu thực sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở không cho phép họ được phát triển toàn vẹn con người của mình và tham gia thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở .

Như vậy, cung ứng tài sản và phục vụ là một trong những phương thức mà Chính Quyền đóng góp để  ...dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội... ( cung cấp giáo dục để  dẹp bỏ đi những chướng ngại vật  tạo ra sự bất bình đẳng giữa người dân với nhau do việc thiếu phương tiện học vấn, cung cấp các phương tiện giao thông công cộng để bảo đảm cho mọi người có thể đi đứng dễ dàng, cung cấp y tế , bảo hiểm bệnh tật, tàn phế, già nua...để bảo đảm sức khoẻ cho mọi công dân, đời sống khan trang cho những ai làm việc trong môi trường nguy hiểm và cuộc sống xứng đáng lúc cuộc đời đã xế chiều...

Nhưng tất cả những hoạt động được quy trách cho Chính Quyền vừa kể, không phải chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu và lợi thú vật chất của người dân và của cộng đồng Quốc Gia, mà nhằm bảo đảm cho họ có điều kiện để  phát triển toàn vẹn con người của mình, của mỗi công dân.

Hiểu được mục đích cao cả vừa trích dẩn của Hiến Pháp 1947 Y¨, chúng ta sẽ ý thức rằng sự thiếu sót phẩm chất các hoạt động của Chính Phủ, hiệu năng và vô tư, sẽ đưa đến những thiệt hại khó lường được trên bậc thang giá trị của con người  phát triển toàn vẹn con người của mình. Nói cách khác, nhờ có Quốc Gia cung cấp phương tiện và điều kiện, người dân được  phát triển toàn vẹn con người của mình: được trở thành chính mình, như mình mong muốn, được tự do định đoạt lấy đời sống và cách sống của mỗi cá nhân tùy theo sở thích và năng khiếu của mình. Người dân không  phát triển được toàn vẹn con ngưòi của mình, nếu do các hoạt động thiếu hiệu năng và thiên vị của Chính Phủ, Chính Phủ phải lảnh trách nhiệm nặng nề của mình trước luật pháp: cản trở làm cho người dân không triển nở con người của! mình được.

Ðược hưởng một nền giáo dục thoả đáng; được bảo vệ, đề phòng, chửa trị khi đau yếu; được có cuộc sống giao tế xã hội đều hoà ; được cung cấp các phương tiện để di chuyển dễ dàng; được có nhà cửa khang trang làm nơi cư ngụ; được có một cuộc sống đủ nhân cách con người...Tất cả những yếu tố đó giúp cho người dân có điều kiện và môi trường  phát triển toàn vẹn con ngưòi của mình là mục đích tối hậu cho việc Quốc Gia được xây dựng.

Chưa hết, nếu chúng ta mở rộng thêm tầm mắt, chúng ta sẽ thấy rằng trách nhiệm của các cơ cấu Quốc Gia nói chung và của Chính Quyền nói riêng sẽ còn nặng nề hơn nữa, nếu chúng ta ráp nối mục đích phát triển toàn vẹn cá nhân, nhờ đó mỗi cá nhân có thể  tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở  để mưu lợi ích cho chính mình và cho cả cộng đồng Quốc Gia.

Nói cách khác, Chính Quyền không hữu hiệu và vô tư sẽ gây cản trở cho người dân được triển nở hoàn hảo nhân cách của mình và cản trở phát triển xứ sở đến phú cường thịnh vượng, điều mà Hiến Pháp tuyên bố tôn trọng ngay ở những điều khoản đầu ( Ðiều 2, Hiến Pháp 1947 Y¨).

Như vậy quan niệm dân chủ hiện đại của các quốc Gia Dân Chủ Tây Âu không phải chỉ là quan niệm trong đó tổ chức Quốc Gia bị giới hạn cách hành xử quyền hành của mình để bảo vệ quyền và tự do cá nhân, mà còn là ý thức hệ trong đó người dân được triển nở và Quốc Gia được hưng thịnh nhờ tổ chức Quốc Gia cung cấp tài nguyên và điều kiện.

Người dân có được cuộc sống người cho ra người và đất nước được phát triển thịnh vượng, nhờ cơ cấu tổ chức Quốc Gia. Y¨ thức hệ Chính Quyền hành xử quyền bính để đàn áp người dân là quan niệm đã lổi thời, là lối sống mọi rợ trong ý thức tổ chức Quốc Gia Dân Chủ Tây Âu.

3) Người dân: Vị Thẩm Phán của Phẩm Chất.

Trách nhiệm nặng nề liên quan đến đời sống  triển nở hoàn hảo con người  của cá nhân mỗi người công dân và hệ trọng đến sự phát triển của cả cộng đồng Quốc Gia, tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở  như vậy không thể chỉ được khoáng trắng cho giới cầm quyền, để họ hoạt động cách nào tùy hỷ. Ðó là ý nghĩa của đạo luật 241/90 của Y¨ đã được ban hành.

Ðạo luật 241/90 lần đầu tiên bắt buộc Chính Quyền phải tôn trọng sự hiện diện của người dân trong các hoạt động của mình. Người dân không còn chỉ là một con số, một thần dân của nhà vua mà Chính quyền muốn cung cấp hay không cung cấp tài sản và phục vụ cũng được, hay cung cấp cách nào tùy hỷ. Người dân của các Quốc Gia Dân Chủ Tây Âu có quyền tối thượng đối với Chính Quyền, bởi lẽ người công dân của thể chế dân chủ là chủ nhân của mọi quyền lực Quốc Gia bất cứ lúc nào, đối với bất cứ ai hành xử quyền lực quốc Gia.Và Chính Quyền chỉ là một phần của các quyền lực Quốc Gia. Do đó người dân có quyền:

·        tham dự vào việc quản trị tài nguyên và phục vụ của xứ sở.    

·        được thông báo các quyết định trong việc quản trị ,    

·        được Chính Quyền nghe trình bày ý kiến         

·        được có người đặc trách duy nhứt trong Chính Quyền chịu trách nhiệm để trả lời thỏa đáng

·        quyền không phải bị Chính Quyền coi rẻ, ngược đãi, chờ đợi ngày nầy qua ngày khác

·        quyền được có mối liên quan chắc chắn đối với Chính Quyền ( đâu là bổn phận và quyền hạn được Chính quyền tôn trọng)

·        quyền được coi là thành phần đáng tin cậy đối với những gì mình tuyên bố, trả lời, tự chứng

Qua những điều khoản vừa kể của luật 241/90 và tinh thần của điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Y¨ đã được trích dẩn, chúng ta thấy rằng mối tương quan giữa người dân và Chính Quyền hiện nay là mối tương quan dựa trên khả năng của Chính Quyền hoạt động một cách hữu hiệu và không thiên vị. Chỉ khi nào Chính Quyền có được các đặc tính đó trong hoạt động của mình, người dân mới có điều kiện thực hiện được quyền  phát triển toàn vẹn con người của mình hay có quyền trở thành chính mình như mình muốn. Do đó người dân có quyền thẩm định kết quả đã nhận được và tuyên bố thỏa mãn các lợi thú của mình hay không.

Hiện nay lý do biện minh cho sự hiện hữu của và hoạt động của Chính Quyền không phải là Chính Quyền được tuyển chọn một cách chính danh, hoạt động của Chính Quyền luôn nằm trong lằn mức luật định, mà hậu quả của các hoạt động đó có đáp ứng lại đòi hỏi của người dân theo tiêu chuẩn hiệu năng và không thiên vị hay không.

Người dân trong thể chế dân chủ Tây Âu là chủ nhân quyền lực Quốc Gia được điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Y¨ , cũng như đạo luật 241/90 xác nhận có khả năng phán đoán Chính Quyền. Người dân không những có quyền phán đoán hậu quả của những hoạt động cung cấp tài sản và phục vụ của Chính Phủ đối với lợi thú của mình, mà còn có quyền phán quyết những gì hàm chứa đàng sau những hoạt động đó. Nói cách khác, người dân có quyền phán đoán những cơ cấu tổ chức Chính Phủ, nguyên nhân đưa đến việc cung cấp hiệu năng và vô tư cho mình hay không.

Từ nay người dân có quyền đứng bên ngoài nhìn vào các vinh thự của Chính Quyền, không phải với cái nhìn của một du khách, càng không phải nhìn chỉ để tìm hiểu mà là nhìn để phán đoán.

4)  Hiện tại và tương lai

Với tư cách là chủ nhân của quyền tối thượng Quốc Gia trong thể chế dân chủ, người dân có quyền can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của Hành Pháp trên nguyên tắc. Tuy nhiên mối tương quan giữa Chính Quyền và người dân chưa phải là mối tương quan tương đồng trong thực tế. Trong khi những viên chức tùy thuộc Chính Quyền, do cách hành xử của họ ( sốt sắng hay chểnh mảng, chú ý hay lơ đểnh, vô tư hay thiên vị) có thể có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến lợi thú của người dân, thì người dân chưa có cách gì ảnh hưởng trực tiếp đến địavị, tư lợi của những người trong Chính Quyền .

Trong mối tương quan giữa Chính Quyền và người dân còn thiếu tính cách hổ tương (reciprocité) của mối liên đới giữa người đại diện và cử tri hay doanh thương và người tiêu thụ.

Trong sự liên hệ giữa người đại diện-cử tri, người công dân cử tri với lá phiếu của mình có thể ảnh hưởng đến việc đắc cử hay thất cử của vị đại diện. Cử tri không bỏ phiếu, vị đại  diện thấât cử , bị cho về vườn và có thể kết thúc con đường chức nghiệp chính trị của ông. Do đó việc cử tri được thoả mãn là một yếu tố quan hệ đối với con đường chức nghiệp củavị đại diện chính trị.

Cũng vậy, trong sự liên hệ giữa giới doanh thương và người tiêu thụ. Người tiêu thụ với sự chọn lựa của mình có thể ảnh hưởng quyết định đến khả năng kinh tế của giới doanh thương, cung cấp sản phẩm và phục vụ để đổi lấy tiền bạc. Việc người tiêu thụ được thoả mãn là một yếu tố quyết định, nếu giới doanh thương muốn được tiếp tục hành nghề.

Ðối với Chính Quyền, người dân không có một khí giới nào có ảnh hưởng trực tiếp đến các giới chức. Hơn nữa trong nhiều trưòng hợp, những phục vụ do Chính Quyền cung cấp là những loại phục vụ độc quyền hay gần như độc quyền ( cảnh sát giữ an ninh, tin tức khí tượng, văn phòng cấp giấy chứng nhận dân sự như khai sinh, căn cước, hôn thú, tờ khai gia đình, khai tử ...) . Ở một vài trường hợp khác, người dân có thể lựa chọn những phục vụ tư nhân thay thế cho những gì Chính Phủ cung cấp ( học đường, bệnh viện tư, bưu điện tư ...), nhưng ngay cả trong những trường hợp nầy sự lựa chọn của người dân cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị và lợi lộc của giới chức Chính Phủ, bởi lẽ người dân lựa chọn các phục vụ tư nhân không ảnh hưởng gì đến chổ làm và lương bổng của giới chức.

Qua những gì vừa trình bày trên, chúng ta thấy rằng nền tảng thể chế dân chủ đã hợp thức hoá việc người dân có quyền tối thượng trên Chính Quyền và trên các tổ chức Quốc Gia. Người công dân trong một Quốc Gia Dân Chủ là chủ nhân quyền tối thượng của Quốc Gia bất cứ lúc nào và đối với bất cứ ai hành xử quyền tối thượng Quốc Gia thay cho mình.

Trên thực tế hay đúng hơn trong lãnh vực chuyên môn, người ta chưa tìm được những phương thức hữu hiệu để biến quyền tối thượng của người dân, các phán quyết của họ đối với giới chức cầm quyền, có ảnh hưởng thiết thực đến địa vị và lợi lộc khiến cho các giới chức phải chú ý tuân hành, như trong mối liên hệ đại diện - cử tri và doanh thương - giới tiêu thụ.

Một số phương thức đã và đang được đặt ra, trong đó có phương pháp giải tư các lãnh vực không cần có sự hiện diện bất khả kháng của Chính Quyền ( giáo dục, y tế, an ninh xã hội, vận chuyển, truyền thông, bưu điện...). Người ta cũng nghĩ ra cách cung cấp cho mỗi học sinh, mỗi người dân một số chi phiếu( coupons) tương đương với số tiền Quốc Gia chi tiêu mỗi năm cho mỗi học sinh về giáo dục hay mỗi công dân về y tế. Nếu phụ huynh học sinh  cho rằng trường công nơi mình cư ngụ không hội đủ phẩm chất giáo dục con em bằng tư thục, phụ huynh có thể cho con em đến học ở trường tư và trả cho trường tư bằng chi phiếu được cung cấp. Học đường nào càng thu hút được nhiều học sinh do phẩm chất giáo dục của  mình cao, càng nhận được nhiều chi phiếu: càng có nhiều tiền để tổ chức và trả lương cao cho giáo chức và nhân viên thuộc hệ.  Lương bổng của giáo chức và nhân viên thuộc hệ của trường tư thục cao sẽ làm cho giới chức Chính Quyền cùng nghề bắt đầu suy nghĩ về lối dạy học lấy có lấy rồi của họ, tương đương với số lương  ký còm cạo giấy của họ. Ðối với y tế và các ngành khác cũng vậy.

Nền tảng dân chủ đặt người dân, chủ nhân có quyền tối thượng trên Chính Quyền. Nhưng trên thực tế, phán quyết của người dân chưa có hiệu quả sâu đậm ảnh hưởng đến cách hành xử phải có của Chính Quyền trong việc phục vụ từng cá nhân và cộng đồng Quốc Gia, vì chưa có phương cách hữu hiệu. 

Chưa có phương cách không có nghĩa là sẽ không bao giờ có. Nền tảng dân chủ đã có, ý thức về dân chủ đã có, sớm muộn gì những phương thức để áp dụng thực hữu thể chế dân chủ cũng sẽ được nghĩ ra. Con đường tiến đến dân chủ là con đường một chiều, rồi đây những phán quyết của người dân sẽ là những mệnh lệnh mà Chính Quyền phải tuân theo, nếu Chính Quyền muốn còn được hiện hữu và tiếp tục hoạt động.

Từ ngàn xưa người La Tinh có câu  Vox Popoli, Vox Dei  hay  Y¨ Dân là Y¨ Trời, nói như tục ngữ chúng ta là vậy.

Nguyễn Học Tập