Trich tu Dan Cu - Nguyễn Lân (Lội Ngược) (1)
Từ hơn
chục năm nay, thế giới bước vào một kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên của dân chủ trên mức
độ toàn cầu. Tại các nước Phi châu, dân
chủ đang trở thành một khái niệm phổ cập
với sự hình thành giai tầng thượng lưu có
kiến thức dân chủ, các chế độ độc
tài lần lượt sụp đổ. Tại Á châu,
nhu cầu của xã hội, khủng hoảng kinh tế
buộc các chính quyền đương thời phải
cải tổ hay chuyển đổi sang chế độ
dân chủ. Tại Ðông Âu, sự sụp đổ của
khối xã hội chủ nghiã Liên Xô và Ðông Âu dẫn tới
sự dân chủ hóa các chế độ này. Tại các
nước Trung, Nam Mỹ, dân chủ ở trên đà
phát triển và dần dần trở thành tập quán
chính trị. Mặc dù đây còn là các nền dân chủ
non trẻ nhưng nhìn chung, dân chủ đang trở thành
nhu cầu bức thiết và tất yếu của cả
nhân loại.
Trong bối cảnh
chính trị Việt Nam hiện nay, dân chủ và thực
hiện dân chủ là một đề tài tế nhị
thậm chí có thể gây nên nhiều "vấn đề".
Dù muốn, dù không Việt Nam cũng vẫn phải
đi theo đà tiến hóa của nhân loại:
·
Dân chủ là một
giá trị nhân bản mà nhân loại đã mất rất
nhiều thời gian và công sức để hình thành và
phát triển khái niệm này. Cho tới nay, hầu như
mọi người đều công nhận giá trị lý
thuyết của nó; đối với dân gian thì dân chủ
là không ai muốn kẻ khác ngồi lên đầu mình cả,
điều này có nghĩa là mọi người đều
bình đẳng (có quyền sống và mưu cầu hạnh
phúc ngang nhau), mặc dù sự cào bằng xã hội (cộng
chung sản lượng xã hội và chia đều cho tất
cả) là điều có thể mơ mộng nhưng không
thể thực hiện vì chí hướng và khả năng
mỗi người khác nhau. Ngày nay, dân chủ không còn
chỉ là đặc tính của những xã hội phương
Tây với quá trình thực hiện dân chủ lâu đời,
mà đã trở thành yêu cầu bức thiết của
phần còn lại của thế giới (các nước
đang phát triển, đã hay còn theo xã hội chủ
nghĩa; Việt Nam thì ở trong cảnh một cổ
hai tròng).
·
Sự thực
hiện dân chủ thường là một quá trình đấu
tranh quyết liệt, thậm chí đầy bạo động
và đẫm máu vì giai tầng cầm quyền thường
tối mắt vì quyền lợi ích kỷ và trước
mắt của họ mà thẳng tay trấn áp. Lịch sử
hình thành các chế độ dân chủ phương Tây
từ hơn hai trăm năm nay đã chứng minh điều
này. Do đó, việc tìm kiếm một khả năng thực
hiện dân chủ trong ổn định lúc nào cũng là
điều cần thiết.
·
Việt Nam chưa
khi nào có cơ chế (cơ cấu và các qui chế
điều hành) chính trị dân chủ. Trước
đây là chế độ phong kiến và tiếp nối
là thực dân, sau cách mạng Tháng Tám 1945 là thời kỳ
chiến tranh kéo dài đến 1975; sau chiến tranh, Việt
Nam trở thành một quốc gia thống nhất và
độc lập, nhưng vì những lý do lịch sử,
sự đi theo phe xã hội chủ nghĩa trong công cuộc
xây dựng đất nước là điều tự
nhiên, chẳng ai buồn đặt lại. Sự sụp
đổ của khối Liên Xô, chính sách mở cửa
kinh tế và đóng cửa chính trị từ 1988 là những
yếu tố mới không thể không xem xét khi bàn tới
thể chế tương lai của Việt Nam.
·
Sự sụp
đổ của khối Liên Xô là sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội (2), mô hình Xô-Viết, cả
về lý thuyết lẫn thực hiện. Sở dĩ có
thể khẳng định như vậy vì khối Ðông
Âu sụp đổ là do những lý do nội tại,
không có ai đem quân đánh họ cả, những tuyên
truyền, phá thối của Tây phương chẳng qua
chỉ là vặt vãnh, không thể nào làm sập
được cả một hệ thống như vậy
được.
Về lý thuyết, những người cộng sản
đã dầy công xây dựng một lý thuyết với
mục đích thực hiện dân chủ (nhân dân) và
công bằng (cào bằng) xã hội, bằng phương
tiện chuyên chính vô sản; tự nó, cứu cánh (dân
chủ, công bằng) và phương tiện đã là mâu
thuẫn đối kháng; hơn nữa mục tiêu trước
mắt của chủ nghĩa này là dùng chuyên chính vô sản
để tiêu diệt tư bản, còn xây dựng chủ
nghĩa xã hội ra sao thì còn nằm trong trí tưởng
tượng của mỗi người (đã có rất
nhiều lý thuyết từ Marx, Lenine, Staline tới Mao Trạch
Ðông, nhưng tất cả đều là lý thuyết
xuông). Ðể giải quyết khủng hoảng lý thuyết,
các đảng cộng sản Tây Âu từ bỏ chuyên
chính vô sản, còn ở Ðông Âu thì đưa ra chủ
nghĩa xã hội nhân bản (một cách phủ nhận
chuyên chính vô sản trong hoàn cảnh của các nước
này). Bức tường Bá-Linh sụp đổ là hậu
quả tất yếu của bế tắc lý thuyết
mà những người cộng sản đã thấy từ
trước đó rất lâu.
Về thực tế, chế độ đảng trị
và toàn trị dẫn tới một cơ chế xã hội
xơ cứng với guồng máy nhà nước khổng
lồ, nó bóp chết mọi sáng kiến cá nhân, với
"tập thể" là cái bung xung, điều tốt
là của cá nhân, còn điều xấu là trách nhiệm
tập thể, tài sản nhà nước trở thành
"của chùa". Hơn nữa, thay vì tiêu diệt
giai cấp, lại nẩy sinh giai cấp mới là giai cấp
đảng viên (hiển nhiên là đảng viên cỡ lớn).
Cho tới nay chưa có một chế độ chuyên
chính vô sản nào tự ý từ bỏ chuyên chính của
họ để thực hiện nền dân chủ nhân
dân với mục đích sau cùng là xoá bỏ Nhà Nước;
cái mà mọi người đều thấy là các chế
độ này là các chế độ độc tài mang
tính quân phiệt (Staline), phong kiến Âu châu (Ceaucescu) hay
phong kiến Ðông Á (Mao Trạch Ðông, Kim Nhật Thành)
...; về thực chất thì chỉ là các chế độ
độc tài thường thấy mà thôi. Sự thực
hiện dân chủ nhân dân chỉ là lý thuyết, thậm
chí trở thành cái bình phong của chế độ.
Bế tắc lý thuyết, khủng hoảng chế
độ tất nhiên dẫn tới nguy cơ chế
độ tự sụp đổ. Ðây chính là lý do khiến
cho Kroutchev và sau này là Gorbatchev phải thực hiện những
cải cách chế độ. Chính sách "đổi mới"
của Việt Nam thể hiện sự đồng ý với
những nhận định của Liên Xô, đã có một
thời người ta nhắc đi, nhắc lại câu
"đổi mới hay là chết". Ở Trung quốc,
sau những thất bại xây dựng kinh tế (như
chương trình Ðại Nhẩy Vọt), Mao Trạch
Ðông thấy không thể áp dụng lý thuyết xã hội
chủ nghĩa được nên từ năm 1973, Mao bắt
tay với Mỹ, khởi đầu tiến trình từ bỏ
nền kinh tế hoạch định xã hội chủ
nghĩa (có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa xã hội,
ít ra là về mặt kinh tế); ông ta cũng không tiêu
diệt địch thủ của mình, Ðặng Tiểu
Bình (điều hiếm thấy và là một điểm
son khi xét về bản chất của Mao) vì ông ta thừa
biết là chỉ có họ Ðặng mới có thể xây
dựng lại nền kinh tế Trung quốc (3).
Nhìn chung thì hầu như tất cả các đảng
cộng sản đều thấy bế tắc và nguy cơ
tự sụp đổ, đây là vấn đề
thường được bàn cãi trong hậu cung của
họ. Sự tan rã của Liên Xô và Ðông Âu là điều
không thể tránh, dù có Gorbatchev hay không, hơn nữa, chính
nhờ ông ta mà giới hạn được những hậu
quả xấu của sự tan rã này, khi chúng ta so sánh sự
tàn lụi của các đế quốc khác trong lịch
sử (từ đế quốc được hiểu
theo nghĩa có một quốc gia cầm đầu với
các nước chư hầu, tự nó không nhất thiết
có nghĩa là xấu).
Do không tránh được sự tự sụp đổ
nên vấn đề còn lại là phải thay đổi
cơ chế (với câu hỏi đầu tiên là sự
lựa chọn cơ chế mới) và làm sao để
chuyển sang cơ chế mới.
Có hai lựa chọn cơ chế mới:
o
Chấp nhận
chuyển sang chế độ dân chủ với nền
kinh tế thị trường và xã hội công dân tương
tự như ở các nước tây phương như
lựa chọn của một số nước Ðông Âu (Tiệp
Khắc, Ba Lan, ..). Tại Liên Xô thì mục đích ban
đầu của giới cầm quyền có phần gìới
hạn hơn: thực hiện dân chủ hóa từng phần
với mục đích là hiệu năng hóa guồng máy
đảng và nhà nước (nói một cách khác là tìm
cách cứu vãn chế độ).
o
Giữ nguyên chế
độ chính trị, còn về kinh tế thì từ bỏ
chế độ bao cấp với nền kinh tế hoạch
định và chấp nhận nền kinh tế thị trường
(nhưng vẫn phủ nhận quyền tư hữu)
như ở Trung quốc. Trường hợp Việt Nam
thì hơi khác: ban đầu thì đồng ý với quan
điểm của Liên Xô, về sau thì đi theo Trung quốc.
Như tất cả mọi lựa chọn khác, các
giải pháp này đều có những hậu quả của
nó:
o
Sự chuyển
thẳng sang chế độ dân chủ trong khi xã hội
chưa có những chuẩn bị cần thiết có thể
dẫn tới những hậu quả xấu như ở
Nam Tư với Milosovic hay ở Albanie (nước này
đang ở trong tình trạng giải thể quốc
gia). Nguyên nhân của nó là các chế độ độc
đoán tiêu diệt đối lập, thậm chí các
khác biệt, từ trứng nước tạo nên khoảng
trống chính trị; khi chế độ sụp đổ
thì đây là cơ hội cho những kẻ hoạt
đầu chính trị ngoi lên hay ở trong tình trạng
vô chính phủ. Hậu quả xấu này cũng trở
thành thủ thuật tuyên truyền của các chế
độ độc tài để tự biện minh.
o
Sự từ bỏ
chế độ bao cấp nhất thời tránh
được nguy cơ tự sụp đổ, nhưng
những vấn đề của chế độ độc
tài và khát vọng dân chủ vẫn còn nguyên vẹn; hơn
nữa, sự tăng trưởng của kinh tế kéo
theo sự phân hóa xã hội khiến cho khát vọng này
ngày càng tăng (điều này có lẽ trái với nhận
định của nhiều người).
o
Mặc dù những
đặc thù của mỗi giải pháp, sự chuyển
sang chế độ dân chủ cũng nằm trong quá
trình chuyển đổi độc tài - dân chủ; diễn
tiến sự thực hiện này tùy thuộc hoàn cảnh
của mỗi nước và không nhất thiết là lúc
nào cũng xuông xẻ.
Ðể chuyển sang cơ chế mới, tất nhiên
phải có một dự án chính trị như
chương trình "đổi mới" của ông
Gorbatchev hay "bốn hiện đại" của ông
Ðặng Tiểu Bình.
·
Chính sách mở
cửa kinh tế và chấp nhận kinh tế thị trường
dẫn tới sự phân hóa xã hội với sự hình
thành một xã hội đa diện, đa dạng và tất
yếu dẫn đến xã hội công dân (hiểu theo
nghĩa trong bài thì xã hội công dân được hình
thành do nhu cầu của xã hội chứ không phải
là được hình thành từ mô hình lý thuyết và
áp đặt lên xã hội bằng ý chí chính trị,
theo kiểu chủ nghĩa xã hội). Về lý thuyết
thì xã hội công dân với cơ chế chính trị
dân chủ nhằm quản lý tình trạng một xã hội
đa cực, có các lực lượng đối kháng,
bằng cách chấp nhận có khác biệt, đối kháng
và định chế hoá các tổ chức xã hội, từ
đó tạo thế đối trọng giữa các tổ
chức này; theo cách nói dân gian thì xã hội công dân là
để tránh sự kiện ai cũng muốn ngồi lên
đầu kẻ khác, theo luật rừng mạnh
được, yếu thua. Có thể khẳng định
nhu cầu dân chủ hóa xã hội nẩy sinh từ nền
kinh tế thị trường.
·
Chính sách đóng
cửa chính trị làm nẩy sinh mâu thuẫn đối
kháng giữa chính quyền và xã hội công dân, mâu thuẫn
này sẽ trở nên trầm trọng với sự tăng
trưởng kinh tế, sự phân hóa xã hội và sự
hình thành, phát triển xã hội công dân.
Lịch sử các nước phương Tây (trừ
Hoa Kỳ) từ hơn hai trăm năm nay, từ sự
hình thành và phát triển tư bản và nền kinh tế
thị trường, cho thấy là sự hình thành xã hội
công dân và dân chủ hoá chế độ là điều
không thể tránh. Vấn đề là làm sao để sự
chuyển đổi này ít gây ra đổ vỡ nhất,
đây chính là biết rút kinh nghiệm của các nước
phương Tây.
Trong hoàn cảnh
Việt Nam, sự chuyển đổi từ chế độ
hiện nay sang chế độ dân chủ là một tiến
trình đòi hỏi nhiều suy nghĩ, cả về lý
thuyết lẫn phương án thực hiện; hơn nữa
thực hiện sự chuyển đổi này trong ổn
định lại càng cần động não hơn. Tất
nhiên, sự tìm kiếm những giải pháp là nhằm
giải quyết thoả đáng quyền lợi của tất
cả, kể cả quyền lợi của đảng cộng
sản Việt Nam.
Công cuộc
dân chủ hóa xã hội Việt Nam là sự thay đổi
toàn diện xã hội, từ cơ chế chính trị tới
quan niệm, quan điểm, chính sách kinh tế, từ
quan hệ giữa công dân và chính quyền tới văn
hóa, tư tưởng; hơn nữa ngay cả trong nếp
nghĩ cũng cần phải xem xét lại. Sau hơn 24
năm có hòa bình, về chính trị, xã hội và con người
(nhất là các nạn nhân chiến tranh của cả hai
phe), hậu quả của hai cuộc chiến tranh vẫn
còn nặng nề, hận thù còn dai dẳng và nằm
trong tiềm thức của nhiều người và làm
sao hóa giải hận thù khi bất công, thành kiến và
tinh thần phe phái vẫn còn đè nặng lên xã hội
ta; đây cũng là một yếu tố bùng nổ xã hội,
chính trị và là một vấn đề phải giải
quyết trong bài toán dân chủ hóa xã hội; hơn nữa,
đất nước là của chung, do đó, mọi người
đều phải có "phần bánh" của mình,
đây là công lý và là nguyên tắc điều hành của
xã hội văn minh.
Mặc dù là
một công cuộc to lớn và có thể dùng từ cách
mạng dân chủ (mà nhiều người thường
tránh né) để nói lên được hết ý nghĩa
và tầm quan trọng của nó, nhưng công cuộc này
không nhất thiết phải là một cuộc cách mạng,
lật đổ đầy máu lửa như thói quen thường
liên tưởng của nhiều người (và của
những kẻ chuyên nghề tuyên truyền). Lịch sử
sự chuyển đổi sang chế độ dân chủ
tại nhiều nước từ trên mười năm
nay đã chứng minh điều này, chính quyền (và giữ
chính quyền) không nhất thiết phải ở trên
đầu mũi súng (4).
Trong công cuộc
dân chủ hóa, có rất nhiều phương diện và
liên hệ giữa các phương diện, cần phải
xem xét và thực hiện. Trước tiên, thực hiện
dân chủ là xây dựng Nhà Nước pháp quyền với
cơ cấu chính trị, xã hội và phương thức
điều hành dân chủ. Sự thực hiện này mang
tính chất tổ chức và hình thức trong khi nội
dung của dân chủ là ở nông thôn, với các trì
kéo của quá khứ phong kiến Ðông Á từ hàng nghìn
năm nay; cần thiết phải lưu tâm tới các
đặc thù ở nông thôn và có một dự án dân chủ
hóa riêng, vì nếu không khả năng có những ông
quan dân chủ trong một chế độ dân chủ
(hình thức) là rất lớn. Sự bình đẳng và
bình đẳng chính trị là một nguyên tắc của
chế độ dân chủ, trong thời kỳ chuyển
tiếp từ chế độ độc đảng
sang dân chủ (thường có nghĩa là đa đảng),
sự dân chủ hóa ở trong đảng và đưa
đảng trở về vị trí của một đảng
bình thường trong sinh hoạt chính trị là điều
tối cần thiết để thực hiện dân chủ
trong ổn định và mở đường cho sự
hình thành xã hội công dân. Nhìn toàn bộ xã hội thì
dân chủ hóa có nghĩa là xây dựng xã hội công
dân, chủ động xây dựng xã hội công dân có
nghĩa là tạo khả năng phát triển dân chủ
trong ổn định; xã hội công dân được
hình thành sẽ tạo thế đối trọng giữa
công dân và quyền lực chính trị, theo cách nói dân
gian là thay đổi tương quan giữa dân (chi dân)
và quan (phụ mẫu).
Dưới
đây, xin trình bầy bốn phương diện cơ
bản này và xin trình bầy dưới dạng bốn
phương án thực hiện trong giai đoạn chuyển
tiếp.
II.1.1.
Phương án.
Phương
án này là tổ chức tổng tuyển cử bầu quốc
hội lập hiến. Ðây là mục tiêu của sự
chuyển đổi cơ chế, là sự cải tạo
toàn bộ cơ cấu chính trị và xã hội: từ
chế độ độc đảng sang đa đảng,
từ bỏ chế độ làm chủ tập thể
..., công nhận quyền tư hữu, tự do cá nhân,
ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng ..., công
nhận quyền thành lập các tổ chức tư nhân
như nghiệp đoàn, báo chí, tôn giáo ...(theo từ ngữ
thời nay là dân lập, điều khác biệt là hiện
nay chỉ là dân lập có định hướng).
Ðây là sự
xử dụng các biện pháp hành chính (tổng tuyển
cử) với mục đích xây dựng khuôn khổ
hình thức của một chế độ pháp quyền
(hay pháp trị), tạo điều kiện thuận lợi
cho sự (đang) hình thành và phát triển xã hội
công dân.
Về chương
trình thực hiện, cần có các bước sau:
·
Tổ chức Hội
Nghị Quốc Dân, với các thành viên gồm đại
diện đảng cộng sản Việt Nam, các cá nhân
tiêu biểu (đại điện các khuynh hướng,
tư tưởng chính trị), chuyên viên (luật, hành
chính, ...) dựa trên nguyên tắc không phân biệt quá khứ
(theo cách mạng, chế độ cũ, tị nạn,
...), tôn giáo, chủng tộc (người Kinh, Thượng,
...), thành phần xã hội (ở trong hay ngoài đảng,
tư sản, thầy tu, ...), ... với đồng thuận
là chấp nhận thực hiện dân chủ bằng phương
tìện hòa bình.
Hội nghị đề ra các nguyên tắc, biện
pháp tổ chức bầu cử nhằm bảo đảm
sự công bằng, trong sạch và tự do trong cuộc bầu
cử. Hội nghị cũng đề ra các nguyên tắc
thành lập các tổ chức chính trị, đưa ra dự
án luật về các tổ chức chính trị trong thời
chuyển tiếp...
Kết quả của hội nghị sẽ được
thương thảo với quốc hội hiện nay nhằm
đạt tới đúc kết cuối cùng. Cần thương
thảo với quốc hội vì hai lý do sau:
o
Dù sao, Hội
Nghị Quốc Dân cũng khó thể nhìn thấy hết
mọi khía cạnh, do đó cần phải tham khảo
ý kiến của nhiều thành phần trong đó quốc
hội là một thành phần chủ yếu.
o
Theo quan niệm
thực hiện dân chủ trong ổn định thì cần
có sự tiếp nối và tìm kiếm sự đồng
thuận tối đa. Do đó có thể coi Hội Nghị
Quốc Dân là tiếp nối của quốc hội hiện
nay, còn quốc hội thì ít ra họ cũng là đại
diện của các địa phương, tìm kiếm sự
đồng thuận của họ chính là góp phần thực
hiện sự đồng thuận tối đa. Hơn nữa,
đây là sự cải tạo cơ chế, còn về
cá nhân thì không phải là điều quan trọng; có thể
đa số trong quốc hội lập hiến
tương lai là các đại biểu quốc hội hiện
nay.
·
Từ Hội
Nghị Quốc Dân, thành lập Ban Tổ Chức Bầu
Cử, trong đó có Uy Ban Giám Sát Bầu Cử (nên có sự
hiện diện của Liên Hiệp Quốc).
·
Song song với Hội
Nghị Quốc Dân, cần nới rộng các quyền tự
do, dân chủ, cởi trói báo chí, thả tù nhân chính trị,
chấp nhận thành lập các đảng phái chính trị,
...
Trên đây
là đại cương về chương trình thực
hiện. Cần phải xem xét về tính khả thi của
phương án này. Sau đây là một số yếu tố
:
·
Trong hoàn cảnh
hiện nay, chính quyền hiện tại có vẻ như
vững vàng, dân chúng chí thú làm ăn, đối lập
hầu như không có, nói chuyện bầu quốc hội
lập hiến là chuyện viễn vông.
·
Theo những dấu
hiệu bề ngoài thì đảng và chính quyền cho
mình là có thể "trụ" được, họ
không chấp nhận đối lập, ngay cả những
khác biệt tư tưởng cũng không thể
được, họ thực hiện chính sách diệt từ
trứng nước và đối thoại là điều
họ chẳng buồn nghe (ngoại trừ đối thoại
có định hướng). Tất nhiên là họ nắm
chìa khóa trong tay, mọi giải pháp đều phải có
sự thỏa thuận của họ.
·
Về mặt tư
tưởng, từ xưa tới nay, xã hội Việt
Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của
Khổng giáo, trong thời kỳ bao cấp, về lý thuyết
thì chúng ta đi theo chủ nghĩa Mác-Lê nhưng thực
chất vẫn là một xã hội Nho giáo (từ nếp
sống tới cách suy nghĩ). Ðây là một vấn
đề căn bản, thuộc về nội tâm trong
khi hai điều nêu trên chỉ là ngoại cảnh. Mặc
dù nhu cầu dân chủ hóa xã hội ngày càng tăng
nhưng nhận thức về dân chủ vẫn chưa
phải là phổ cập và đủ chiều sâu, có lẽ
đây là một lý do giải thích tình trạng mập mờ
hiện nay (không còn bao cấp nhưng cũng không có dân
chủ).
Ðây là xét
tình hình trước mắt, còn về lâu dài thì tổng
tuyển cử vẫn là giai đoạn sau cùng trong quá
trình chuyển đổi cơ chế độc tài sang
dân chủ và là điểm khởi đầu bảo vệ
và phát triển nền dân chủ non trẻ này.
II.1.2. Những
kinh nghiệm.
Cho tới nay,
chưa thấy có một chế độ nào tự ý giải
thể và thực hiện tổng tuyển cử lập
hiến chỉ vì thấy chế độ dân chủ là
tốt đẹp cả (trường hợp Liên Xô khá
đặc biệt, xin trình bầy ở phần sau). Thường
thì sau khi chế độ cũ đã tan rã, một
chính phủ lâm thời lên thay với nhiệm vụ tổ
chức bầu cử, sự lựa chọn cơ chế
mới sẽ tùy thuộc vào kết quả bầu cử.
Mặc dù là
một giai đoạn và là một biện pháp tổ chức
cần thiết nhưng tổng tuyển cử, tự nó
không đồng nghĩa với dân chủ. Có dân chủ
hay không còn tùy thuộc hoàn cảnh mỗi nước, cần
phải xem xét sâu hơn về tình trạng xã hội,
chính trị mỗi xứ và không thể vơ đũa
cả nắm để kết luận rằng dân chủ
là tốt hay xấu được. Do đó, có những
nước thực hiện dân chủ một cách xuông xẻ
như Tiệp Khắc, Ba Lan hay Hun-ga-ri, còn như ở
Nga; Rou-ma-ni thì vẫn còn những yếu kém. Có nước
như Indonésie thì mới chỉ bắt đầu tiến
trình thực hiện. Thậm tệ hơn, ở Nam
Tư, Milosovic xử dụng chiêu bài chủng tộc quá
khích để thắng cử.
Sau đây là
một số kinh nghiệm:
·
Tại Tiệp
Khắc, mặc dù lực lượng đối lập
không mạnh, nhưng giá trị tư tưởng có một
sức mạnh rất lớn, từ Dubcek tới Hiến
Chương 77 chứng tỏ nhân dân Tiệp có sự trưởng
thành chính trị. Như mọi người đều thấy,
sự chuyển đổi sang chế độ dân chủ
diễn ra trong ổn định. Họ đã thành công.
Sự tách đôi thành hai nước Tiệp và Slovaquie
trong hòa bình là một bằng chứng khác về sự
quan trọng của sự trưởng thành chính trị.
·
Tại Ba Lan, lực
lượng đối lập tập hợp trong công
đoàn Ðoàn Kết trở thành lực lượng chính
trị lớn mạnh, có khả năng thay thế chính
quyền quân sự đương thời; do đó sự
chuyển đổi sang chế độ mới diễn
ra trong ổn định. Ðìểm son của chế độ
thời đó là không tiêu diệt đối lập, khiến
cho xã hội có lối thoát khi cần thiết (5).
·
Tại Indonésie,
Suharto tiêu diệt đối lập, tạo khoảng trống
chính trị, tưởng đâu là làm như vậy là
có thể bảo vệ ngai vàng của ông ta. Khủng hoảng
kinh tế dẫn tới bùng nổ xã hội và biến
động chính trị khiến cho một chế độ
độc tài lâu đời và quái ác như chế
độ Suharto cũng sập tiệm. Một hậu quả
của chính sách tiêu diệt đối lập là ngày nay
tình hình chính trị chưa được ổn định.
Một khía cạnh khác là khủng hoảng kinh tế
không phải chỉ có những hậu quả xấu !.
Một khía cạnh
quan trọng cần nêu lên là sau khi chuyển đổi
chế độ, giai tầng thượng lưu ở các
xứ này, từ Ðông Âu tới Á, Phi, cũng vẫn chiếm
các địa vị chủ chốt trong xã hội, họ
không mấy bị thiệt hại. Ngày nay, các chủ
thuyết chính trị nặng mùi phe phái, cực đoan,
đòi tiêu diệt (trong thực tế thường có
nghĩa là giết bỏ) đối thủ (thậm chí
cả một giai cấp) đã trở thành lỗi thời.
Nhu cầu của xã hội là cải tổ cơ cấu
và qui chế điều hành chính trị (dân chủ hóa)
chứ không phải là con người, giai cấp.
II.2.1. Phương
án.
Ðây là phương
án thực hiện dân chủ ở nông thôn. Xác định
lại vai trò, chức năng và quyền hạn của
các tổ chức địa phương, từ làng, xã,
huyện, quận, tỉnh; quan hệ với chính quyền
trung ương. Thực hiện các cải cách về cơ
chế. Ban đầu, thực hiện bầu cử các hội
đồng hành chính địa phương trong cả
nước dựa trên nguyên tắc tự do và ứng cử
cá nhân (vì chưa có chế độ đa đảng).
Xét cho cùng thì đây chính là thực hiện khẩu hiệu
"dân thấy, dân bàn và dân làm": nông dân có thừa
sức để thấy người mà họ sẽ bầu
lên, họ có điều kiện để nói lên và thực
hiện những nguyện vọng của họ thông qua bầu
cử và ngưòi mà họ bầu lên chính là từ nhân
dân mà ra, để thực hiện những điều mà
họ mong muốn.
Thực hiện
dân chủ ở cơ sở xã hội là thực hiện
nội dung dân chủ, từ đó những cải tổ
cơ chế chính trị trung ương (phương án
một) sẽ dễ dàng hơn và hầu như trở
thành vấn đề hình thức, tổ chức và pháp
lý (không còn là vấn đề cốt lõi, hay giảm
thiểu tính chất, của công cuộc chuyển đổi
sang chế độ dân chủ).
Sự cải
tổ cơ chế này là để thay đổi quan hệ
công dân và chính quyền, địa phương và trung
ương. Trong thời phong kiến, đây là quan hệ
hàng dọc, hoàn toàn tôn ti trật tự, với quan niệm
chi dân phụ mẫu; người dân có nhiệm vụ
đi lính, đóng thuế và phục tùng triều đình
còn ơn mưa móc thì tùy vào sự bốc đồng của
vua mà thôi. Thời Pháp thuộc (6), với mục đích
cai trị và khai thác có hiệu quả, mặc dù chính
quyền thuộc địa có thay đổi cơ chế
hành chính nhưng họ chẳng dại gì xóa bỏ tinh
thần tôn ti trật tự thể hiện trong cơ chế
phong kiến (họ vẫn giữ chế độ cai tổng,
lý trưởng). Sau giải phóng, chế độ phong
kiến được thay thế bằng chế độ
đảng trị, các ông lý tân thời này lại theo
đường cũ mà thôi (vì thiếu ý thức và cũng
vì chẳng ai buộc họ phải làm khác). Sự cải
tổ sang cơ chế dân chủ nhằm giảm thiểu
quan hệ hàng dọc (mặc dù trong hành chính, tập quyền
là điều khó thể tránh và dù sao cũng vẫn cần
có cái tối thiểu), xây dựng cơ chế đối
trọng, tăng cường sự tham gia trực tiếp
của người dân vào các công việc địa
phương, bước đầu thực hiện tản
quyền. Một điểm cơ bản khác của sự
cải tổ là tách rời (hay giảm thiểu) quan hệ
quyền (quyền lực chính trị) và lợi (ruộng
đất) của giới cầm quyền ở nông thôn
(xử dụng quyền lực chính trị để chiếm
phần hơn, thậm chí cưỡng đoạt ruộng
đất), là điều vẫn có từ nghìn xưa tới
nay.
Trên đây
là vấn đề cải tổ cơ chế, sự cải
tổ này sẽ rỗng tuếch ý nghĩa nếu như
không có chương trình kinh tế nông nghiệp phù hợp.
Trước hết, tư hữu hóa nông nghiệp dựa
trên nguyên tắc bình đẳng (như không phân biệt
đảng viên hay không) và nâng đỡ các hộ
nghèo; đây là chương trình cải cách điền
địa, thực sự thực hiện khẩu hiệu
"người cầy có ruộng"; đồng thời
cũng cần phải trả lại ruộng đất
đã tịch thu trước đây (với chương
trình bù đắp, nếu như khó thể trả lại
toàn bộ đất đai trong ngắn hạn). Về
trung hạn, cần phải có chương trình kinh tế
nông nghiệp phù hợp với đà phát triển chung của
cả nước: sự kỹ nghệ hóa nền kinh tế
quốc gia và nông nghiệp là tất yếu với tất
cả các khả năng và hậu quả của nó; một
trong các hậu quả là sự thặng dư sức sản
xuất nông nghiệp (nói cách khác là nạn thất nghiệp),
do đó, chương trình kinh tế nông nghiệp phải
đề ra hướng giải quyết.
Có ít nhất
là bốn phương diện cơ bản trong việc dân
chủ hóa nông thôn cần phải nêu lên:
·
Về thực
chất, ở Việt Nam, nói tới dân chủ là nói tới
dân chủ ở nông thôn vì hơn 80 phần trăm dân số
là nông dân, dân chủ hóa xã hội Việt Nam là dân chủ
hóa nông thôn. Tự con số đủ nói lên tầm quan
trọng của vấn đề.
·
Về ý nghĩa
thì dân chủ là một cuộc đổi đời: sự
thay đổi quan hệ giữa người (dân) và người
(quan), giữa công dân và chính quyền (với những
qui định minh bạch, công bằng, có qua có lại).
Từ nghìn xưa tới nay, xã hội Việt Nam là một
xã hội phong kiến. Thời trước giải phóng
thì mọi chuyện xấu xa cứ việc đổ lên
đầu đế quốc và phong kiến và mọi người
dễ dãi chấp nhận giải thích này, tưởng
đâu là khi có độc lập thì tất có dân chủ,
đổi đời. Thực tế cuộc sống cho
thấy là các ông bí thư, huyện ủy ... lại thay
thế các ông lý, ông tổng, quan lại thời xưa;
mũ áo có khác nhưng đặc quyền, đặc lợi
thì vẫn như xưa (đây là chuyện "không phải
dzậy mà vẫn dzậy" của xã hội ta).
·
Về tình cảm
thì nông dân ta xưa nay là người chịu thiệt thòi
nhiều nhất, đặc biệt trong hai cuộc chiến
vừa qua, hy sinh của họ thật là to lớn. Hy sinh
thì nhiều nhưng rốt cuộc thì cuộc sống của
họ vẫn không kém phần hẩm hiu. Thiệt thòi là
số phận của nông dân ta !. Do đó, dân chủ
hóa nông thôn là một vấn đề công lý và lương
tâm.
·
Về những
hệ quả của sự cải tổ này: đây là sự
thay đổi cơ bản cơ chế hiện hữu từ
hàng nghìn năm nay, tất nhiên, ngoài những kết quả
(dân chủ) còn có thể có những hậu quả hay những
khía cạnh khác cần phải xem xét lại. Một thí
dụ là về phương diện quốc phòng: với
cơ chế làng, xã hiện hữu, dân tộc ta đã
thành công trong việc bảo vệ đất nước
(làng, xã có vai trò hàng rào phong thủ thứ nhất, khi
có giặc thì trở thành đơn vị chiến đấu);
một khi làng, xã trở thành đơn vị hành chính
đơn thuần (để tách quyền lực chính trị
và lợi lộc kinh tế) thì cần cập nhật
quan niệm quốc phòng (chúng ta chưa có đủ trình
độ kỹ thuật để có thể dùng quan niệm
quốc phòng dựa trên kỹ thuật, do đó cơ chế
quốc phòng và cách tổ chức làng, xã ở nông thôn
hiện nay (7) có thể còn có liên hệ mật thiết);
đây không phải là lo lắng viễn vông vì thất
bại của Hồ Quí Ly là một bài học. Một
thí dụ khác là thực hiện tản quyền: mặc
dù tản quyền là một nhu cầu và là một đặc
tính của xã hội dân chủ (đây là một cách
để tạo thế đối trọng), nhưng thực
hiện như thế nào, ở mức độ nào
để tránh rơi vào tình trạng cát cứ (một
đặc tính thâm căn cố đế của xã hội
Việt Nam), nhất là trong giai đoạn chuyển tiếp.
Trên đây
là những vấn đề lý thuyết, trong thực tế,
thực hiện dân chủ hóa nông thôn tất nhiên gặp
phải sự kháng cự quyết liệt của thành phần
thủ cựu địa phương, mặc dù có chính
quyền trung ương đủ uy lực và có các
chính sách, biện pháp tổ chức thích đáng.
II.2.2. Những
kinh nghiệm.
Có một số
kinh nghiệm, tổng quát và riêng biệt, xin trình bầy
ở đây :
·
Cho tới nay, những
cải tổ ở nông thôn thường là để giải
quyết vấn đề người cầy có ruộng
và thường nằm trong khuôn khổ tranh giành ảnh
hưởng chính trị, nhất là trong thời kỳ
chiến tranh lạnh. Hậu ý chính trị và bánh vẽ
thì có còn hiệu quả thì có lẽ các giới làm
chính trị ít quan tâm !.
·
Sự (tương
đối) dân chủ hóa nông thôn (về kinh tế) có
khi được thực hiện một cách tự nhiên
qua sự phát triển của kinh tế. Tại các nước
như Ðài Loan, Nam Hàn, là các nước đã có nền
kinh tế kỹ nghệ hóa khá hiện đại, không
thấy có hiện tượng nông dân nổi dậy như
trong quá trình kỹ nghệ hóa tại Âu châu trong thời
kỳ tiền tư bản tự phát. Có lẽ do ba yếu
tố:
o
1. Phần lớn,
sự phát triển kinh tế tại các nước này dựa
vào các ngành hậu kỹ nghệ (nặng), đây là
các ngành đòi hỏi các chuyên viên có trình độ và
do đó giới tư bản không thể bóc lột nhân
viên như họ đã từng làm đối với nhân
công cơ bắp (xuất thân từ nông dân) trước
đây, vì để có người làm có khả năng
thì họ phải chi tiền theo đúng luật cung cầu.
o
2. Ngành giáo dục
đào tạo được các chuyên viên có khả năng,
đây là một thành công của họ.
o
3. Người dân
có khả năng tiếp thu các kiến thức và kỹ
thuật mới.
Từ ba yếu tố trên, sự dư thừa lao
động ở nông thôn được thu hút bởi
các ngành kinh tế mới mà ít có căng thẳng xã hội.
Hơn nữa, ruộng đất nay không còn là nguồn
lợi duy nhất của người dân và do đó
không còn là trọng tâm quyền lợi; từ đó sự
dân chủ hóa nông thôn chủ yếu là vấn đề
tổ chức và các biện pháp hành chính.
·
Tại Thái Lan,
trong thời kỳ chiến tranh lạnh, người Mỹ
bỏ khá nhiều công, của và kỹ thuật để
thực hiện cuộc cách mạng xanh. Thành quả của
chương trình này là ngày nay, nông dân có cuộc sống
khá hơn (và nông sản của họ có chất lượng
cao). Y' nghĩa của sự kiện này là dân chủ
(kinh tế) không nhất thiết phải là vấn đề
ý thức chính trị và kỹ thuật có tác dụng của
nó.
II.3.1. Phương
án.
Trước
tiên, thực hiện dân chủ hóa đảng cộng sản
Việt Nam. Sự thực hiện này trở thành cơ sở
để hướng dẫn, chủ động trong công
cuộc dân chủ hóa xã hội.
·
Sự dân chủ hóa mang ý nghĩa của sự trở
về.
Trước đây, trong thời kỳ Cách mạng
Tháng Tám, đảng viên được trang bị bằng
tinh thần "chí công, vô tư", "cần, kiệm,
liêm, chính" và chính bằng tinh thần này mà họ
lãnh đạo được nhân dân ta trong hai cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc vừa qua. Mặc
dù đây là các khái niệm nằm trong quan niệm Khổng
giáo và bề ngoài thì không mấy dính lứu tới quan
niệm dân chủ Tây phương, nhưng đây là
trang bị cần thiết cho công cuộc dân chủ hóa
đảng; vả chăng nếu những người cầm
quyền (đảng viên) đều còn có tinh thần
này thì dân tộc ta cứ việc ăn no, ngủ kỹ
và chả cần nói chuyện dân chủ làm gì !. Mặt
khác, đây chính là xây dựng lại uy tín của đảng,
chuẩn bị cho tương lai lâu dài của đảng
và bằng con đường hoàng đạo. Về cụ
thể, đây là sự gom góp lại "nội lực"
chuẩn bị cho công cuộc đổi mới đảng.
·
Cải tổ cơ chế tổ chức đảng,
giảm thiểu vai trò của ban Tổ chức đảng,
thiết lập thế đối trọng trong đảng.
Trước đây, trong kháng chiến, tổ chức
đảng là một tổ chức bán quân sự, có hiệu
năng để lãnh đạo công cuộc giải
phóng dân tộc. Sau kháng chiến, tổ chức đảng
vẫn không thay đổi, mặc dù nhu cầu thời
cuộc là xây dựng đất nước và đảng
trở thành đảng cầm quyền. Nói tới quyền
hành là nói tới sự hủ hóa của kẻ cầm
quyền và cơ chế đảng không dự đoán
điều này, hơn nữa nó còn thuận tiện cho sự
bao che, chối bỏ trách nhiệm.
Có một số nguyên tắc và biện pháp cải
tổ: từ bỏ nguyên tắc trách nhiệm tập thể,
cải tiến nguyên tắc trách nhiệm cá nhân (đây
là điều đảng có thực hiện được
ít nhiều), công khai hóa các hoạt động của
đảng, thành lập (lại) ban giám sát và ban nghiên cứu
cải tổ tổ chức nội bộ.
Một trong những vấn đề của đảng
và của dân tộc là ban Tổ chức đảng,
đây chính là ban công an quốc gia, nắm quyền sinh
sát trong tay, là cái "lửng lơ" trên đầu mà
mọi người, trong hay ngoài đảng, đều
khiếp hãi. Không cải tổ nó, không giảm thiểu
vai trò của nó thì nói chuyện dân chủ là không tưởng.
Tổ chức đảng là tổ chức một
chiều, từ trên xuống dưới, những ý kiến
được "bảo lưu" trên thực tế
là được bỏ vào thùng rác. Cần thiết chấp
nhận có khác biệt và tôn trọng nó ngay trong nội
bộ đảng, những thảo luận trong đảng
phải thực sự dân chủ, xóa bỏ tệ trạng
chụp mũ, kết án bừa bãi (đây là các thủ
thuật nhằm bảo vệ, bao che các bè phái mà thôi).
Nguyên tắc tập trung dân chủ (8), áp dụng trong nội
bộ đảng, trên thực tế trở thành cái bùa
để trấn áp trong cuộc đấu đá giữa
các phe phái; cần thiết từ bỏ nguyên tắc
này. Xây dựng cơ chế nhằm bảo vệ thiểu
số và để họ có cơ hội trình bầy, bảo
vệ và phát triển ý kiến của họ.
·
Xem xét lại và cải tổ liên hệ giữa
đảng và các tổ chức quần chúng.
Liên hệ này cũng là liên hệ một chiều,
trong thời kháng chiến, để có thể động
viên toàn dân thì điều này có thể chấp nhận
được. Trong thời xây dựng đất nước
thì điều này trở thành phương tiện để
kiểm soát toàn thể nhân dân, một thí dụ là theo
quan điểm của đảng thì quốc hội cũng
chỉ là một tổ chức quần chúng, nhằm thực
hiện các nhiệm vụ của đảng trao cho.
·
Chuẩn bị xây dựng đảng trong khuôn khổ
một Nhà Nước Việt Nam dân chủ và pháp quyền.
Ðây là sự từ bỏ đặc quyền, đặc
lợi của chế độ đảng trị (và
toàn trị), là sự trở về vai trò, vị trí của
một đảng chính trị trong khuôn khổ một chế
độ dân chủ. Ðây là sự lựa chọn tương
lai của đảng: vì quyền lợi vị kỷ trước
mắt mà tiếp tục duy trì chế độ hiện
nay với nguy cơ sụp đổ và sụp đổ
vĩnh viễn hay biết nghĩ tới tương lai lâu
dài của chính họ và quyền lợi của dân tộc.
Ðây có lẽ cũng mang ý nghĩa của sự trở về:
sự tranh cãi giữa Ðệ Nhị hay Ðệ Tam quốc
tế chủ yếu là về chiến lược và phương
thức đấu tranh (đấu tranh trong khuôn khổ
chính thức, bằng phương thức hòa bình hay
giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng),
còn mục đích đấu tranh của các phong trào tả
khuynh (xã hội, cộng sản ...) là những "giá trị
phe tả" thì không mấy khác biệt; ngày nay, đa
số các đảng (tân) cộng sản đều ít
nhiều đi theo con đường này.
Trong chế độ dân chủ, ngân sách nhà nước
giành cho các đảng phái chính trị được
định chế hóa và công khai hóa, dựa trên cơ sở
bình đẳng và thường dựa trên kết quả
của cuộc bầu cử cuối cùng; không có một
đảng nào được quyền hưởng những
quyền lợi đặc biệt cả, đây là
nguyên tắc tổ chức dân chủ; cần phải
trình bầy thẳng thắn ở đây.
Trên phương diện kinh tế, chấp nhận
kinh tế thị trường có nghĩa là phải giảm
chi phí để giảm giá thành sản phẩm, tạo
điều kiện cạnh tranh với hàng ngoại. Chi
tiêu của đảng rất lớn (9), đây là một
sự lãng phí của công và (trực tiếp hay gián tiếp)
làm tăng giá thành sản phẩm (do đảng không
công bố ngân sách, nên không thể khẳng định
là bao nhiêu, nhưng với chế độ độc
đảng thì sự phung phí của công không phải là
điều đáng ngạc nhiên). Hậu quả của sự
kiện này không phải là nhỏ, nhất là trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế ở châu Á và Việt
Nam sắp bỏ hàng rào quan thuế, mở cửa thị
trường, đúng theo thỏa thuận với ASEAN.
Do hoàn cảnh
lịch sử, có những lẫn lộn trong sinh hoạt
đảng, chính quyền và nhân dân; từ đó, việc
đưa đảng trở về vị trí bình thường
của một đảng chính trị có những chồng
chéo tế nhị, cần phải phân định và tìm
ra các hướng giải quyết thỏa đáng. Một
thí dụ là có những đảng viên cả đời
làm công tác đảng khi về hưu thì lãnh hưu bổng
của một cán bộ đảng và được
tương đương hóa với lương hưu của
một công chức nhà nước; trong khi với một
nhà nước dân chủ thì có sự phân biệt rõ rệt
giữa công và tư. Sự lẫn lộn giữa đảng
và nhà nước có lẽ cũng gần giống như
sự lẫn lộn giữa nhà thờ và chính quyền
tại các nước Âu châu trước đây (cho tới
nay cũng vẫn chưa hết hậu quả). Tất
nhiên, sự chuyển đổi sang chế độ dân
chủ là thực hiện những cải cách cơ chế
nhằm phục vụ con người, có nghĩa là cho tất
cả mọi người, đảng viên hay không; do
đó cần tìm những giải pháp, pháp lý (phân biệt
công, tư) và cụ thể (không để cá nhân, đảng
viên, bị thiệt thòi), thỏa đáng. Các khuynh hướng
thủ cựu trong đảng thường dựa vào những
điều này làm thủ thuật hù họa.
II.3.2. Những
kinh nghiệm.
Như trên
đã trình bầy, những bế tắc của chủ
nghĩa xã hội, từ lý thuyết tới chế độ,
đã được thấy từ lâu. Ðã có nhiều
khuynh hướng cải cách, dưới đây chỉ
xin trình bầy ba trường hợp:
·
Tại Tiệp
Khắc, ông Dubcek đưa ra lý thuyết chủ nghĩa
xã hội nhân bản, với sự ủng hộ của
đảng viên và nhân dân, ông đã đưa ra các cải
cách nhằm dân chủ hóa đảng và chế độ.
Ðáng tiếc là trong thời kỳ chiến tranh lạnh,
con én Tiệp tức khắc bị xe tăng Liên xô làm
thịt.
·
Tại Liên Xô,
ông Gorbatchev thực hiện cải tổ chính trị dựa
trên tầng lớp trí thức trong và ngoài đảng và
trước tiên là ông cải tổ cơ chế bên
trong đảng, đồng thời ông nới rộng
các quyền dân sinh, dân chủ ngoài xã hội. Công cuộc
xây dựng xã hội chủ nghĩa từ 70 năm nay, với
những bế tắc và thất bại của nó tất
nhiên dẫn đến khuynh hướng đòi cải tổ,
bế tắc càng nhiều thì đòi hỏi cải tổ
càng tăng và hình thành một lý thuyết cải cách chế
độ có hệ thống và khá hoàn chỉnh. Trước
nguy cơ tự sụp đổ, giới cầm quyền
Liên Xô không thể không thực hiện cải tổ. Sự
tự sụp đổ là tất yếu và thấy trước,
vấn đề của Liên Xô thời đó là làm sao
chủ động thực hiện cải tổ với
hy vọng là sự chuyển đổi sang chế độ
mới, dân chủ hơn, được tiến hành với
ít đổ vỡ nhất. Về phương diện
kinh tế, sự cải tổ kinh tế Liên Xô gặp
hai khó khăn cơ bản: nền kinh tế Liên Xô là nền
kinh tế kỹ nghệ hóa, với nền kỹ nghệ
cơ khí cổ lỗ, thiếu hiệu năng và với
cơ chế phân phối sản phẩm quốc doanh
đã thành nề nếp. Sự chuyển sang nền kinh
tế hiện đại là cả một vấn đề
lớn, một thí dụ điển hình là sự chuyển
đổi nền kinh tế than-điện của Bỉ,
là một nước tư bản lâu đời,
được tiến hành một cách ỳ ạch từ
hơn hai mươi năm nay và ngày nay vẫn còn ỳ
ạch với hậu quả là nạn thất nghiệp
trầm trọng. Sự cải tổ cơ chế phân phối
quốc doanh lâu đời cần tiến hành từng bước
để tránh hỗn loạn, tạo cơ hội cho
mafia (ở nước nào cũng có) hoành hành. Ðây là vấn
đề cải cách, chuyển đổi cơ cấu
kinh tế.
Tại Trung quốc và Việt Nam, hai khó khăn này
không lớn. Ðây là nền kinh tế nông nghiệp với
cơ chế phân phối quốc doanh và chợ đen
(hay móc ngoặc). Nhìn một cách đơn giản và tổng
quát hóa thì sự chuyển đổi kinh tế tại các
nước này là sự từ bỏ nền kinh tế hoạch
định xã hội chủ nghĩa, chấp nhận kinh
tế thị trường: giải thể các hợp tác
xã (nông nghiệp) và cơ sở kinh tế quốc doanh,
chính thức hóa nền kinh tế ngầm (chợ đen,
cho phép tư doanh được phát triển). Nói một
cách khác là để cho mọi người tự do làm
giầu.
Do hai cơ cấu kinh tế khác nhau nên tranh cãi
"cải cách chính trị trước, kinh tế
sau" hay "cải cách kinh tế trước, chính trị
sau" là tranh cải vô bổ và có lẽ đây chỉ
là thủ thuật tuyên truyền của kẻ cầm quyền.
·
Tại Việt
Nam, trước bế tắc chính trị, phá sản kinh
tế và dưới ảnh hưởng của Liên Xô,
đảng đưa ra chủ trương đổi mới,
cởi trói báo chí, văn nghệ (nói thẳng, nói thật),
nới rộng dân sinh, dân chủ (dân nói, dân bàn) ... và
từ bỏ kinh tế hoạch định, chấp nhận
kinh tế thị trường. Sau hai năm thực hiện
(1986-1987), tuy ngắn ngủi, nhưng thành quả là đã
tạo được một sinh khí mới, về kinh tế
cũng như chính trị, tạo điều kiện
để thực hiện những cải cách sâu rộng
sau này. Ðáng tiếc là sự sụp đổ của Liên
Xô và Ðông Âu khiến cho thành phần lãnh đạo hoảng
sợ và khuynh hướng co cụm thắng thế.
Thực hiện
dân chủ hóa xã hội, chủ động xây dựng từng
bước xã hội công dân song song với sự phát
triển của kinh tế (thị trường) và xã hội
(dân sự). Nới rộng các quyền dân sinh, dân chủ,
tự do thành lập các tổ chức dân sự (báo
chí, nghiệp đoàn, ...), chấp nhận sự hình
thành xã hội đa thành phần, đa diện, đa
đạng, chuẩn bị cho sự hình thành cơ chế
chính trị dân chủ (đa đảng) sau này. Một
trong những cải cách phải làm là tự do ngôn luận,
vì vai trò trọng yếu của báo chí. Xã hội
được dân chủ hóa có sức ép buộc các
thành phần thủ cựu trong đảng phải thay
đổi.
Về đại
thể, chương trình dân chủ hóa xã hội là sự
tiếp nối chính sách "đổi mới" thời
1986-1987, với những cải cách sâu, rộng hơn và
phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Một thí dụ
là chương trình trả lại nhà, đất đã
được thi hành theo kiểu nửa giơi, nửa
chuột; thường thì những cái không có giá trị
được trả lại, còn "của bở"
được trả lại là điều hiếm thấy
(và thường thì "phí tổn" khá bộn, coi khi
lại mất tiền toi); tất nhiên, chương trình
trả lại nhà, đất mới phải giải quyết
đối kháng quyền lợi giữa người chủ
thực sự và người đang xử dụng trên
nguyên tắc tôn trọng quyền lợi của chủ
nhân (tôn trọng quyền tư hữu), đồng thời
tránh gây sáo trộn xã hội; đây là chương trình
dài hạn, phức tạp và tốn kém cho ngân quỹ quốc
gia.
Các người
lãnh đạo thường coi những cải cách chính
trị (dân chủ hóa) là nguyên nhân sụp đổ của
khối Ðông Âu và những xáo trộn sau này. Ðây là lý
do bề nổi. Lý do sâu xa thì rất giản dị: từ
tâm lý hoảng sợ trước sự sụp đổ
của một chế độ tương
đương và gắn sự sụp đổ này với
quyền lợi trước mắt của họ (mất
chế độ thì mất quyền lợi) dẫn tới
khuynh hướng co cụm và dùng bạo lực (công an)
trấn áp. Ðây là phản ứng bình thường của
một con người, đáng tiếc là những người
có tầm nhìn chính trị xa hơn không (hay ít) có tiếng
nói.
Các người
lãnh đạo thường đặt câu hỏi "có
trụ được không ?". Ðể trả lời
câu hỏi "có trụ được không ?", cần
thiết phải trở về vấn đề quan niệm:
một chế độ chỉ là một cơ chế chính
trị do con người tạo nên để quản lý
xã hội, khi nhu cầu của xã hội đòi hỏi
thì phải có những cải cách để đạt mục
đích mong muốn; tự nó không có chuyện còn hay mất
(trụ được hay không trụ được).
Ðiều này khác với cách nhìn thâm căn cố đế
theo kiểu nhà Lê mất, nhà Nguyễn lên thì quân thần
nhà Lê phải tháo chạy bán mạng.
Dưới bất
kỳ một chế độ nào, quyền lợi của
một cá nhân thì thường trực là chuyện còn
hay mất; những đấu đá và phân định
ngôi thứ, trong hậu cung hay ngoài xã hội, là chuyện
muôn thủa của con người (trong cùng một chế
độ, ông A lên thì hiển nhiên là ông ta đem nhân sự
của mình vào; còn nhân sự cũ thì hoặc ngồi
chầu rìa, hoặc phất cờ mới). Tất nhiên,
cải tổ cơ chế dẫn đến ít, nhiều
thay đổi nhân sự. Vả chăng, việc thực
hiện dân chủ trong ổn định chính là để
giảm thiểu những xáo trộn không cần thiết.
Trong lịch sử,
có những chế độ quá gắn bó với quyền
lợi trước mắt và cương quyết dùng bạo
lực để bảo vệ; trong trường hợp
này thì chỉ còn nước nổi loạn, làm cách mạng
lật đổ (cách mạng 1789, cách mạng vô sản,
... là điều đã xẩy ra). Ðây là điều cần
tránh và cũng là một khả năng.
II.4.2. Những
kinh nghiệm.
Thực hiện
dân chủ trong đảng hay ngoài xã hội có liên hệ
mật thiết với nhau, đây là hai khía cạnh của
vấn đề; do đó xin xem những kinh nghiệm của
phương án ba.
Ngoài ra, thời
kỳ Mặt Trận Bình Dân ở Pháp và Tây Ba Nha cũng
là những kinh nghiệm cần xem xét. Những cải
cách trong thời kỳ này dân chủ hóa xã hội, nâng
cao sức mua của người lao động, góp phần
tạo điều kiện hình thành xã hội tiêu thụ
sau này; xã hội tiêu thụ lại trở thành một
động cơ chính của sự phát triển kinh tế
tại các nước Tây Âu sau chiến tranh. Ðây chính
là thông điệp về ích lợi của dân chủ
trong phát triển kinh tế của phương Tây.
·
Như trên đã
trình bày, những vấn đề của Việt Nam
được nhìn dưới khía cạnh các phương
án thực hiện. Ðây là bốn vấn đề cơ
bản của xã hội, có liên hệ hỗ tương,
không thể tách rời; thực hiện dân chủ là thực
hiện các cải cách song song trong tất cả mọi
địa hạt, những tiến bộ trong một lãnh
vực tạo điều kiện thuận lợi để
phát triển dân chủ trong các lãnh vực khác (tương
tự như trong kiến trúc xây nhà). Dân chủ hóa xã hội
là một tổng thể bao gồm bốn vấn đề
nêu trên. Cần nhấn mạnh ở đây là sự
chuyển đổi sang cơ chế chính trị dân chủ
chỉ là bước cuối cùng của giai đoạn
hình thành nền dân chủ và mở đầu cho giai
đoạn mới, giai đoạn củng cố và phát
triển dân chủ vì dân chủ lúc nào cũng là một
vấn đề thời sự.
Phương án từ trên xuống dưới (cải
tổ cơ chế chính trị) và phương án từ
trong ra ngoài (dân chủ hóa đảng và đưa đảng
trở về vị trí của một đảng chính trị
bình thường) mang nặng tính chất tổ chức,
hình thức; còn phương án từ dưới lên
trên (dân chủ hóa nông thôn) và phương án từ
ngoài vào trong (xây dựng xã hội công dân) là thực chất,
nội dung của công cuộc dân chủ hóa xã hội. Tại
các xã hội phương Tây, người ta đã dầy
công xây dựng cơ chế chính trị dân chủ, cái
mà Mác gọi là dân chủ hình thức; còn thực chất
của dân chủ (chủ yếu) là thành quả của
các áp lực, đấu tranh đẫm máu của quần
chúng (kể cả các phong trào vô sản) và chính vì có
thực chất nên các chế độ tư bản Tây
phương không sụp đổ như Mác tiên đoán.
·
Tại các nước
phương Tây, đã hình thành tư tưởng và các
cơ chế dân chủ từ lâu, đối với các
nước chậm phát triển, sự tìêu hóa, hội
nhập dân chủ gặp các khó khăn thường thấy:
do điều kiện khác nhau nên khó thể áp dụng trực
tiếp các lý thuyết, kinh nghiệm của họ; từ
lý thuyết đến thực tiễn lúc nào cũng có
một khoảng cách rất lớn.
Về mặt phương pháp luận, sự tiếp
thu lý thuyết dân chủ và tìm cách thực hiện là
cách làm "từ lý thuyết đến thực hiện"
với các ưu, khuyết điểm của nó. Ưu
điểm vì ít ra cũng hiểu được ý nghĩa
và nội dung của dân chủ; khuyết điểm vì
lý thuyết lúc nào có giới hạn so với thực tế
cuộc sống, đây là khuyết điểm của chính
phương pháp này. Ðể bổ túc cho cách làm trên, cần
có cách làm "từ thực tế tới thực hiện",
từ đó làm nổi bật lên những điều kiện,
khó khăn đặc thù của xã hội, sự xem xét
tính khả thi của một dự án dân chủ hóa xã hội
có phần chính xác hơn; đây là nội dung mong muốn
của bài.
·
Một điểm
cơ bản khác là bản chất "hỉ, nộ,
ái, ố", "tham, sân, si" của con người.
Ðây không phải là lý thuyết mà là một nhận
định, những điểm này thuộc về bản
chất của con ngưòi. Các nghiên cứu lý thuyết
thường quá chú trọng tới cái chung, cái tổng
thể (như giai tầng, giai cấp xã hội) mà quên
đi cái gốc của vấn đề là con người,
thậm chí có khi coi cái gốc là cái phụ thuộc
(trong lý thuyết duy vật, tương quan phương
thức sản xuất và lực lượng sản xuất
là cái chính, giai cấp - con người - chỉ là hệ
quả).Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, thì bản
chất này của con người là một cản trở
lớn trong công cuộc dân chủ hóa xã hội: từ
dân thường tới đảng viên, ai nấy đều
hăm hở làm ăn, chỉ nghĩ tới quyền lợi
trước mắt mà không có cái nhìn xa hơn; thậm
chí, những người có quyền thì sẵn sàng dùng
uy quyền của họ để chống trả quyết
liệt khi bị đụng chạm. Con người thì
như vậy, trong khi sự phát triển của xã hội
đòi hỏi sự dân chủ hóa; do đó, khả năng
bùng nổ xã hội và chính trị là rất lớn.
·
Tại các nước
phương Tây, từ hơn hai trăm năm nay, sự
phát triển của kinh tế dẫn đến xã hội
đa diện, đa dạng với nhiều giai tầng,
giai cấp; xã hội công dân hình thành và để
điều hành xã hội này thì phải dùng phương
thức tổ chức dân chủ. Nói một cách khác, xã
hội công dân là nội dung, cá tính của các xã hội
phương Tây, còn dân chủ là cơ chế tổ chức
cần thiết để đáp ứng nhu cầu của
xã hội này. Ðây là sự quan sát lịch sử các nước
này. Xã hội Việt Nam không thể không đi theo con
đường này, áp lực của nền kinh tế thị
trường và xã hội công dân buộc phải đi
theo con đường này. Vấn đề là làm sao
để sự chuyển đổi sang chế độ
dân chủ ít gây thiệt hại, đổ vỡ nhất.
Những
điều trình bầy trên đây mang nặng tính chất
gợi ý và đại thể, cần thiết có những
nghiên cứu bề sâu và cụ thể. Những vấn
đề của dân tộc là rất lớn và thậm
chí có khi là những vấn đề từ hàng nghìn năm
nay. Việt Nam hiện nay đang ở trong thời kỳ
tư bản tự phát với tất cả những hậu
quả của nó, bùng nổ xã hội với khả năng
biến động chính trị là điều có thể
thấy trước; dân chủ hóa xã hội là để
giảm, tránh những biến động này. Nhu cầu
dân chủ ngày càng trở nên bức thiết và để
tránh đổ vỡ thì thời gian không đợi chúng
ta. (10)
Bruxelles
*1. Bài này
được viết nhân dịp Hội Thảo Mùa Hè
1999 tại Liège, tác giả dùng tên thật là Nguyễn
Lân. Vì có một số điểm cần sửa đổi
vào lúc chót và cũng vì không tiện nên rốt cuộc
không đăng ký. Dưới đây là bài viết
đã được sửa đổi, các phần sửa
đổi sẽ được chú thích đầy đủ.
Tác giả xin chân thành cảm tạ các góp ý và nhặt
sạn, có lẽ vẫn còn nhiều sạn !.
*2. Sự tự
sụp đổ này là một quá trình lâu dài, bắt
đầu từ sự thạch hoá chế độ (từ
thời Staline) tới sự đất hoá chế độ
(từ sau thời Kroutchev : từ thạch biến thành
đất : sự kiện bắn rơi máy bay Boing của
hãng hàng không dân sự Nam Hàn với những lủng củng,
thiếu nhất quán của giới lãnh đạo quân sự,
mang đầy ý nghĩa; nó chứng minh rằng ngay cả
guồng máy quân sự - là con chủ bài của chế
độ, được đặc biệt ưu đãi,
chăm lo - cũng không còn hoạt động hữu hiệu
nữa) và sau cùng là thời kỳ sụp đổ (khoảng
1989; sự thất bại của cuộc đảo chính
chống Gorbatchev nhằm thiết lập lại chế
độ chuyên chính kiểu Staline chứng tỏ là khi
đất đã rã thì không làm sao cứu vãn được).
Ðây không phải là sự nổ sụm (implosion) vì từ
này mang nặng tính chất bùng nổ, đột biến
khác với quá trình ung thối lâu dài và giống như
người bị kiệt sức, tới lúc thì sụm
thôi.
*3. Khoảng
những năm 70-80, tác giả có đọc bài báo viết
về chuyện có những phái đoàn thuộc thế
giới thứ ba gặp Mao và hỏi về việc áp dụng
chủ nghĩa xã hội tại các nước này thì
được Mao trả lời là không nên áp dụng chủ
nghĩa này. Ðây là theo trí nhớ thôi, nếu độc
giả nào sưu tầm được bài báo này, xin gửi
cho tác giả làm tài liệu chứng minh rằng Mao không
còn tin chủ nghĩa nữa; xin chân thành cảm tạ.
Có một vấn đề về việc xem xét lịch
sử cũng xin nêu lên ở đây : ai cũng biết rằng
Ðặng là người thực hiện đổi mới,
đây là sự thật phổ biến, còn chuyện Mao
cũng có ý định từ bỏ chủ nghĩa là
chuyện cần chứng minh; trong trường hợp
đúng thì nó chứng minh rằng ngay cả một ông tổ
lý thuyết của chủ nghĩa xã hội cũng không
còn tin chủ nghĩa nữa !.
*4. Trong thời
kỳ 1968, có nhiều người thiên tả phương
tây rất chuộng khẩu hiệu "chính quyền
trên đầu mũi súng" (le pouvoir est au bout du fusil) của
Mao.
*5. Có lẽ
lịch sử Ba Lan sẽ ghi công tướng Zaruzelki trong
trong công cuộc bảo vệ Ba Lan không bị khối
Varsovie can thiệp và giữ lối thoát để sự
chuyển đổi chế độ diễn ra trong
ổn định trong trường hợp chế độ
của chính ông sụp đổ.
*6. Trước
đây viết là: "Thời Pháp thuộc, chính quyền
thuộc địa có thay đổi cơ chế hành
chính với mục đích cai trị và khai thác có hiệu
quả và do đó họ chẳng dại gì xóa bỏ
tinh thần tôn ti trật tự thể hiện trong cơ
chế phong kiến".
*7. Trước
đây viết là: "cơ chế quốc phòng và chính
trị".
*8. Nhặn
sạn : trước đây viết là "Nguyên tắc
chuyên chính vô sản", dùng cụm từ "tập
trung dân chủ" thì đúng hơn. Theo thiển ý,
chuyên chính vô sản là nguyên tắc chung, được
áp dụng cho toàn xã hội, còn tập trung dân chủ
là nguyên tắc tổ chức, được áp dụng
trong đảng nhưng dù sao cũng vẫn phải thể
hiện tính chất chuyên chính vô sản và "dân chủ"
chẳng qua chỉ là chuyện nói cho vui; chính vì vậy
mà trong các chế độ này mới nẩy sinh các nhà
độc tài lớn, nhỏ như Staline, Mao, Kim Nhật
Thành ... : trước tiên họ là kẻ cầm đầu
đảng với nguyên tắc tập trung dân chủ và
sau đó, trong hoàn cảnh chế độ xã hội chủ
nghĩa thì họ là kẻ nắm quyền tối thượng
trên toàn xã hội với nguyên tắc chuyên chính vô sản.
*9. Nhặn
sạn : trước đây viết là "Sự kiện
đảng lấy hơn nửa ngân sách quốc gia để
chi tiêu cho riêng mình là một sự lãng phí của công
và (trực tiếp hay gián tiếp) làm tăng giá thành sản
phẩm". Ðể tránh những ngộ nhận, những
đồn đại trong dân gian, đảng nên công bố
ngân sách của mình.
*10. Sau đây
là phần trả lời một số câu hỏi chung. Những
câu hỏi này đều là những vấn đề lớn,
cần phải có những bài nghiên cứu riêng, bao gồm
mọi khía cạnh, từ chính trị, kinh tế, xã hội,
hành chính ... đến cả triết lý, quan niệm sống
hay phong tục, tập quán; từ lý thuyết đến
thực hiện và ngược lại. Ðiều này có nghĩa
là cần ý kiến của các chuyên viên. Nhân đây xin
cảm tạ đã nêu lên nhiều vấn đề vì
quả thật thực hiện dân chủ tại Việt
Nam đặt ra rất nhiều vấn đề và những
điểm tác giả nêu lên trong bài chẳng qua chỉ
phản ảnh một phần thực trạng Việt
Nam mà thôi. Với những giới hạn của mình,
tác giả cố gắng trả lời một số
điểm; tất nhiên đây chỉ là các trả lời
ngắn gọn, còn về sau sẽ được đề
cập tới trong những bài viết khác trên trang Web
này.
·
10.1. Hỏi : Có
lý do nội tại gì làm chế độ hiện nay cần
chấp nhận một trong những đề nghị của
tác giả ? Nếu họ không theo thì chế độ có
sụp đổ không và tại sao ?
Ðáp : Ðể cải tổ hay thay đổi cơ chế
chính trị, tất nhiên là phải ý thức được
sự cần thiết của nó, hiện nay thì người
ta sống theo phản ứng (có nghĩa là chạy theo
quyền lợi vị kỷ trước mắt và trấn
áp những gì mà người ta nghĩ là có thể làm mất
quyền lợi của họ), do đó họ chỉ có
thể có phản ứng phủ nhận những đề
nghị này mà thôi. Mục đích của bài là
đưa ra các đề nghị cho tất cả mọi
người, trong đo có đảng cộng sản Việt
Nam và đảng này có vai trò chủ yếu; cũng cần
lưu ý là 4 phương án trong bài nằm trong một
toàn thể những cải cách phải tiến hành song
song. Nếu cứ tiếp tục tình trạng tư bản
(đỏ) tự phát như hiện nay, thì có thể xem
xét 4 giả thuyết:
1) Trở thành "rồng, cọp" và từ từ
dân chủ hoá chế độ như Ðài Loan, Ðại
Hàn.
- Ðể trở thành "rồng, cọp" thì các nước
này đã có một số điều kiện cơ bản
thuận lợi như sau : a) chính sách giáo dục tốt,
b) khả năng tiếp thu kỹ thuật, quản lý của
người dân c) được sự viện trợ và
nâng đỡ kinh tế, kỹ thuật của Mỹ, d)
thời kỳ chuẩn bị và cất cánh kinh tế thuận
lợi (từ 60-80) : ít cạnh tranh, kỹ nghệ mũi
nhọn chưa phát triển nhiều, e) được sự
đóng góp của kiều dân (trường hợp Ðại
Hàn thì ít hơn), f) không bị cách mạng vô sản
làm cho "sạch sành xanh" và phải hàn gắn, xây
dựng lại từ đầu g) riêng về nông nghiệp
thì thừa hưởng kỹ thuật "cách mạng
xanh" của tây phương h) về ngoại
thương thì được hưởng thuận lợi
của người trong "phe ta" (tư bản) trong
thời kỳ đối đầu chiến tranh lạnh.
- Hiện nay, Việt Nam có hai yếu tố thuận lợi:
sự tăng trưởng kinh tế (kết quả của
thời kỳ đổi mới) và khả năng tiếp
thu kỹ thuật của người dân. Ngược lại,
chính hai yếu tố này cũng "có vấn đề"
làm giới hạn khả năng phát triển của nó:
kết quả của sự cởi trói kinh tế bắt
đầu giảm và hậu quả của khủng hoảng
kinh tế ở châu Á bắt đầu có tác dụng, sự
phá sản của nền giáo dục, hậu quả của
chính sách chính trị là thống soái trong thời kỳ
bao cấp và tinh thần "cha chung không ai khóc"
điển hình của chế độ xã hội chủ
nghĩa (về giáo dục thì còn rất lâu mới có thể
vực dậy được). So sánh với các nước
kể trên va xem xét thực trạng Việt Nam thi điều
này không cho phép chúng ta thấy được viễn
ảnh "rồng, cọp" này.
2) Khó khăn kinh tế dẫn đến bùng nổ xã hội,
kéo theo biến động chính trị : trong trường
hợp này thì lịch sử Việt Nam chỉ là sự
lập lại lịch sử các nước như Thái
Lan (thời các tướng lĩnh), Phi Luật Tân (với
Marcos), Nam Dương ... Về giả thuyết này thì,
trong hoàn cảnh có nhiều điểm giống nhau, có lẽ
nên đặt ngược lại câu hỏi : có khả
năng nào để Việt Nam tránh được hay không
?
3) Tất nhiên, ngoài 2 giả thuyết trên, còn có giả
thuyết "rồng đau, cọp yếu" : tăng
trưởng kinh tế tý chút, không đủ để
cất cánh và chế độ thì vẫn "đổi
mới như cũ", dân chúng, ai không chịu
được nổi đoá lên thì chính quyền đấm
mõm cho tý chút, còn ai chịu đựng được thì
ráng mà chịu. Ðiều này có vẻ khôi hài, nhưng
đây là khả năng lớn nhất và đáng buồn
nhất. Tất nhiên, đây chỉ là giai đoạn
chuyển tiếp của một trong hai giả thuyết
trên. Mong rằng giai đoạn này không quá dài !. Có lẽ
có thể coi chỉ số tăng trưởng kinh tế
là dấu hiệu để đoán khả năng bùng nổ
hay "rồng, cọp" : trong trường hợp
tăng trưởng dưới 3 % (chỉ nên dựa
trên con số của các cơ quan quốc tế) thì có
nhiều khả năng bùng nổ vì sự tăng trưởng
3 % có nghĩa là dậm chân tại chỗ, so sánh với
các nước trong vùng thì điều này có nghĩa là
tụt hậu; trong trường hợp tăng trưởng
từ 5 % trở lên thì ngoài khả năng "rồng,
cọp" vẫn có khả năng bùng nổ và đây
là khẩ năng thứ tư xin trình bầy dưới
đây.
4) Sự tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo hàng
loạt vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị
... và để tiếp tục tăng trưởng thì phải
có khả năng và nhất là phải có tinh thần giải
quyết vấn đề vì ích lợi chung. Ðây là 2
điểm mà đảng cộng sản Việt Nam không
có. Do đó, sự tăng trưởng kinh tế sẽ
ngày càng làm nẩy sinh, tăng lên, trầm trọng hoá
các vấn đề và khả năng khủng hoảng
kinh tế, xã hội, chính trị ... sẽ ngày càng lớn
hơn. Một thí dụ là một trong các nguyên nhân
chính của các cuộc khủng hoảng, kinh tế và cả
chính trị (như trường hợp Nam Dương),
ở đông nam Á hiện nay là sự không giải quyết
các yếu kém trong thời kỳ tăng trưởng
(như chính sách tín dụng, cơ chế ngân hàng).
·
10.2. Hỏi : Có
lý do gì tác giả không kể trong phương án của
mình con đường Ðảng CS việt nam đang lựa
chọn, tức là một giải pháp giữ ổn định
trong khuôn khổ hiện nay, đẩy mạnh phát triển
kinh tế, dân chủ dần dần qua xây dựng hệ
thống pháp lý ? Lý do gì tác giả chứng minh rằng
phương án mình đề nghị hơn hẳn
phương án đảng CS đang theo và không gây ra mất
ổn định ?
Ðáp : Ðể đưa ra những đề nghị
thì phải xem xét tình hình thực tế, còn những người
cầm quyền thì họ muốn nói gì thì nói. Câu hỏi
đặt ra là làm sao giữ ổn định khi hiện
nay là tình trạng tư bản tự phát với các bất
công, bất bình đẳng, phân hoá xã hội, tha hoá con
người và xã hội ngày càng cao; những điểm
này chính là nguyên nhân của bùng nổ, nổi loạn.
Chế độ độc tài đảng trị khiến
cho rất khó để giải toả áp lực này;
chính sách co cụm, trấn áp hiện nay không cho phép có
cái nhìn lạc quan hơn; trước mắt chỉ thấy
những kẻ cầm quyền làm tất cả cho cái hầu
bao của họ mà thôi (để tranh ăn và bảo vệ
miếng ăn bằng mọi giá). Chính sách co cụm, trấn
áp người dân hiện tại không cho phép chúng ta thấy
sự từ từ dân chủ hoá ở đâu cả (mặc
dù những quảng cáo của guồng máy tuyên truyền,
nhưng ngày nay, người dân đã biết quá rành
cái lưỡi gỗ của các chính trị gia rồi).
Làm sao có thể "xây dựng hệ thống pháp
lý" khi chính đảng không tôn trọng pháp lý ?. Tóm
lại cái gọi là "phương án đảng CS
đang theo" chỉ có trên giấy mà thôi. Những
điều trình bầy trong bài nhằm mục đích giảm
thiểu, hoá giải những nguyên nhân có thể dẫn
đến bùng nổ, bạo động và xin xem lại
bài . Về mặt chính trị, không nên quá xử dụng
lý luận toán học để chứng minh "đúng,
sai", ai có thể khẳng định giả thuyết
của mình là đúng trăm phần trăm ?. Hơn nữa,
rất nguy hiểm khi khẳng định điều này;
kinh nghiệm với một ông Marx quá tài ba, tự coi chỉ
có mình là đúng, là quá đủ cho nhân loại rồi.
·
10.3. Hỏi :
Tác giả viết "Tổng tuyển cử, tự nó
không đồng nghĩa với dân chủ. Có dân chủ
hay không còn tùy thuộc hoàn cảnh mỗi nước
... không thể vơ đũa cả nắm để kết
luận rằng dân chủ là tốt hay xấu", nếu
lý luận như thế thì tại sao Việt Nam hiện
nay lại cần dân chủ qua tổng tuyển cử ?
Hay cần dân chủ ? Vậy thế nào là dân chủ ?
Thế nào là nền dân chủ thích hợp cho Việt
Nam ?
Ðáp : Có lẽ bài trình bầy không được rõ.
Về lý thuyết thì tất nhiên là không ai thật tâm
muốn khúm núm trước kẻ khác và dân chủ là một
giá trị phổ cập của nhân loại. Về tổ
chức thì tổng tuyển cử là phương tiện
hầu như duy nhất để chuyển đổi chế
độ một cách hoà bình và bảo đảm tư
cách pháp lý của chế độ tương lai. Về
hiệu quả thì tùy thuộc hoàn cảnh mỗi nước
và không chắc là tổng tuyển cử sẽ chỉ dẫn
đến những điều tốt đẹp mong
đợi; có rất nhiều kinh nghiệm của các nước
: trường hợp tốt như Ba Lan, Tiệp Khắc,
xấu như Nam Tư (và không nên quên là Hitler được
dân Ðức bầu lên), còn nhiều vấn đề
như Roumanie, Nam Dương ("Có dân chủ hay không
còn tùy thuộc hoàn cảnh mỗi nước"). Tóm
lại, tổng tuyển cử là một phương tiện
để thực hiện dân chủ ("tự nó không
đồng nghĩa với dân chủ"). Ngoài ra, kẻ
làm chính trị có dụng ý của họ khi bàn về vấn
đề này : kẻ độc tài thì tìm cách đồng
hoá dân chủ với hỗn loạn, người muốn
có dân chủ thì thường chỉ nêu lên tính chất
lý tưởng, tốt đẹp của dân chủ và
không đề cập tới những khía cạnh khác, cần
phải xem xét sâu hơn ("không thể vơ
đũa cả nắm để kết luận rằng
dân chủ là tốt hay xấu"). Dân chủ là một
giá trị phổ cập của nhân loại và không có
chuyện dân chủ của ta khác dân chủ của tây
(theo lối giá trị phương đông, giá trị phương
tây), cũng không có dân chủ này hơn gấp triệu
lần dân chủ nọ (dân chủ xã hội chủ nghĩa,
tư bản chủ nghĩa). Những khác biệt chỉ
là về mặt tổ chức hay có tính tổ chức
mà thôi (chế độ đại nghị, thổng thống
chế, ...), tất nhiên điều này cũng rất phức
tạp. Về lý thuyết, xây dựng thể chế dân
chủ cho Việt Nam đòi hỏi sự tìm kiếm những
cách tổ chức phù hợp và phải là công trình tổng
hợp đa ngành (như xã hội, chính trị, luật
pháp, hành chính, kinh tế ...) của các chuyên viên; tất
nhiên cũng chẳng nên có tinh thần triệt để
phải kiếm ra cái mới vì như vậy mới phù
hợp. Về thực hiện, trước tiên, nếu
chính quyền này không động đậy, thì tất
nhiên phải có những cuộc vận động thực
hiện dân chủ mà thôi; sau đó là xây dựng chế
độ dân chủ tương lai với tất cả
những vấn đề của chuyện từ lý thuyết
đến thực hiện.
·
10.4. Hỏi :
Tác giả nói về phương án dân chủ ở nông
thôn. Nhưng làm sao thực hiện dân chủ ở nông
thôn ? Tác giả đặt ra tản quyền, nhưng tản
quyền như thế nào ? Ðối trọng như thế
nào ở nông thôn ? Tại sao "dân chủ hoá nông thôn
chủ yếu là vấn đề tổ chức và các
biện pháp hành chính" như tác giả viết ?
Ðáp :
- Bước đầu thực hiện dân chủ ở
nông thôn gồm 4 khâu chính :
1) Tách rời quyền lực chính trị và lợi nhuận
kinh tế (về ruộng đất hay liên quan đến
ruộng đất), trong đó có vấn đề quan hệ
giữa quan (lý trưởng mới : kẻ thay mặt
đảng ở nông thôn) và dân. Có thể có những
biện pháp hành chính như buộc phải công bố
ngân sách địa phương, áp dụng chính sách thuế
thống nhất trên toàn nước (tối thiểu là
xoá bỏ nạn "quĩ", "sổ vàng" ...),
biện pháp tổ chức như để nông dân tham
gia trực tiếp vào các công trình địa
phương, kiểm soát sự lạm dụng quyền lực
chính trị để lấn chiếm ruộng đất.
2) Cải tổ cơ chế : tổ chức bầu cử
tự do dựa trên nguyên tắc ứng cử cá nhân
(không cần phải là đảng viên). Cho nông dân có
quyền lập các hiệp hội nông nghiệp (tất
nhiên là tư nhân).
3) Chính sách kinh tế nông thôn : cải tiến sản xuất
(như thực hiện cách mạng xanh bao gồm kỹ
thuật, quản lý và tín dụng), xem xét lại khâu
phân phối sản phẩm nông nghiệp, đa dạng
hoá kinh tế nông thôn để lợi nhuận kinh tế
không còn chỉ là về ruộng đất (như phát
triển công nghệ chế biến thực phẩm, du lịch),
chú trọng giải quyết nạn thừa người,
chính sách kinh tế nông thôn phải nằm trong toàn bộ
chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Chính sách kinh
tế nông thôn là một khâu trọng yếu trong công cuộc
dân chủ hoá nông thôn.
4) Thực hiện tản quyền ở nông thôn : Ðể
có cái nhìn tổng quát nên tác giả có đề cập
tới vấn đề tản quyền, nhưng trong bài
tác giả trình bầy như một câu hỏi hơn là
câu trả lời, vì những phức tạp và hậu
quả của vấn đề. Mặc dù tản quyền
là một khâu của công cuộc thực hiện dân chủ,
nhưng có lẽ khó thể áp dụng tức khắc tản
quyền ở mức độ cao được; đây
là điều cần nghiên cứu. Nhân đây cũng xin
đề cập thêm về vấn đề tản quyền
: nói chung về tản quyền trên bình diện quốc
gia thì có 4 điểm chính : a) Phân chia quyền lực,
chức năng giữa chính quyền trung ương và
địa phương : có thực hiện tản quyền
hay không ? và có khả năng nẩy sinh nạn cát cứ
hay không ? ; b) Ở mức độ cơ sở : sự
tham gia trực tiếp của dân chúng vào những công việc
chung như trong lãnh vực giáo dục cấp thấp, những
ủy ban phường, khóm phải thực sự do nhân
dân tự quản (chứ không phải là một khâu
trong guồng máy công an); c) Ở mức độ quốc
gia : khuyến khích sự tham gia trực tiếp (thường
là góp ý, khiếu nại) của nhân dân trong đa số
các hoạt động quốc gia : cái cửa ở mỗi
bộ (giáo dục, y tế, kinh tế, ...) phải mở
rộng để đón tiếp và giải quyết những
vấn đề nhân dân đưa ra và không được
trả thù nhân dân ! ; tất nhiên cần có những cải
tiến hành chính phù hợp ; d) Có rất nhiều sắc
dân sống tại Việt Nam, cần xét lại chính
sách đối với các sắc tộc thiểu số
hiện nay và khả năng thành lập các vùng tự trị;
cần thực hiện khẩu hiệu "đất
nước Việt Nam là của tất cả những người
sống tại Việt Nam" (điều này có nghĩa
là của tất cả các sắc tộc, trong đó người
Kinh chiếm đa số nhưng chỉ là một sắc
tộc mà thôi); cũng xin nói về một chuyện có lẽ
là nhỏ nhưng đầy ý nghĩa vì trước khi
nói chuyện tản quyền thì nên xem xét quyền sống
cơ bản của con người: có những người
Việt, trước đây là Việt kiều, nay sống
tại Việt Nam nhưng (về mặt pháp lý cũng
như chính sách, thái độ cư xử) vẫn không
được coi là người Việt !; cũng cần
nhắc lại là chủ nghĩa lý lịch, chính sách
phân biệt đối xử, coi "ngụy quân, ngụy
quyền" và cả thân nhân của họ là một loại
công dân hạng nhì trước đây không phải đã
biến mất, mặc dù có đỡ hơn (một bằng
chứng là giấy chứng minh nhân dân "đặc biệt""
của những người này). Ngoài ra, việc tôn trọng
nguyên tắc phân quyền (tam quyền phân lập) như
tại các nước dân chủ tây phương (khác với
quan niệm đảng lãnh đạo, quốc hội chuẩn
y và chính phủ thừa hành như hiện nay) và tách rời
chính trị, tôn giáo (khác với sự chèn ép tôn giáo)
là điều có lẽ ít ai phủ nhận trong công cuộc
xây dựng thể chế dân chủ.
- Ðối trọng như thế nào ở nông thôn : một
số các biện pháp để hình thành thế đối
trọng : để dân có quyền kiểm soát, theo dõi
công việc của chính quyền địa phương
(như công khai hoá ngân sách địa phương, công bố
kết quả những bước thực hiện, cải
tổ ban giám sát, kiểm tra nhân dân), lập các hiệp
hội nông dân tư nhân, cải tiến tư pháp (để
dân có chỗ trình bầy uẩn ức một cách dễ
dàng và không sợ bị trả thù), khuyến khích sự
thành lập các tờ báo tư nhân chuyên về nông
thôn.
- Trong phần rút kinh nghiệm, có nêu lên trường hợp
Ðài Loan và Nam Hàn : tại các nước này vì quyền
lực chính trị và lợi nhuận kinh tế ở
nông thôn trở nên ít mật thiết (xem phần trên)
nên "từ đó dân chủ hoá nông thôn chủ yếu
là vấn đề tổ chức và các biện pháp
hành chính". Tại Việt Nam tất nhiên là không như
vậy.
·
10.5. Hỏi :
Tác giả nói trả lại nhà đất cho nhân dân, nhưng
nhà đất đã bị tịch thu kể từ năm
1945 đến mới đây, đã bao lần đổi
chủ, xây dựng lại, thay đổi giá trị bao
nhiêu lần, thử hỏi tác giả giải quyết như
thế nào cho bao nhiêu người đang ở đó, con
số có thể lên hàng nhiều triệu người. Và
nếu phải mua lại, nhà nước lấy ngân quỹ
đâu để mua. Nguyên tắc giải quyết vấn
đề và tổ chức để giải quyết sẽ
như thế nào ?.
Ðáp : Tất nhiên đây là một vấn đề
rất khó khăn như đã trình bầy trong bài (xin nhắc
lại : "chương trình trả lại nhà, đất
mới phải giải quyết đối kháng quyền
lợi giữa người chủ thực sự và người
đang xử dụng trên nguyên tắc tôn trọng quyền
lợi của chủ nhân (tôn trọng quyền tư hữu),
đồng thời tránh gây sáo trộn xã hội; đây
là chương trình dài hạn, phức tạp và tốn
kém cho ngân quỹ quốc gia"). Sau đây là một số
ý:
1) Thành lập ủy ban điều tra về việc trả
lại nhà đất, đây là ủy ban đặc trách
và hỗn hợp bao gồm chính phủ (đại diện
nhà nước), quốc hội (trên nguyên tắc thì
đại diện nhân dân) và các cá nhân, chuyên viên. Mục
đích là điều tra, thành lập hồ sơ, nghiên
cứu tính khả thi, đưa ra các đề nghị,
công bố quyển "sách trắng" về việc
này. Có lẽ cần sự cộng tác của các tư vấn
quốc tế về phương pháp để các cuộc
điều tra có tính chính xác hơn.
2) Thành lập ủy ban thực hiện việc trả lại
nhà đất, đây là ủy ban đặc trách của
chính phủ, xem xét và thực hiện việc trả lại
nhà đất dựa trên hồ sơ của ủy ban
điều tra.
3) Sự giải quyết việc trả lại nhà đất
có thể kéo dài hàng chục năm.
4) Nguyên tắc giải quyết : có 2 nguyên tắc : a)
tôn trọng quyền tư hữu : cách này hay cách khác,
phải bồi thường hay trả lại của cải
của họ b) tránh gây sáo trộn xã hội : không có
chuyện đuổi những người đang ở.
5) Phương hướng giải quyết : dựa trên
cơ sở lâu dài, mềm dẻo, kết hợp nhiều
phương tiện. Xin nêu lên một số ý :
- Ðối với những người đang ở : a) nếu
họ có trên 1 nhà "tiếp thu" hay "hoá
giá": họ phải trả lại phần dư vì
nhà là để cho họ ở chứ không phải để
cho họ làm thương mại hay chia chác (tất nhiên,
đây là điều khó làm vì những ngưòi này thường
là kẻ có ô dù); b) trong khuôn khổ của chương
trình phúc lợi xã hội về nhà ở, thì có thể
coi họ là những người được ưu
đãi trước, do đó, họ và người thừa
kế sẽ không được ở trong danh sách của
chương trình này; c) định lại giá trị nhà
so với lúc họ có nhà (một loại hoá giá), nếu
có khác biệt thì người ở được quyền
trả góp dài hạn với lãi xuất nhẹ, tương
đương với chương trình phúc lợi kể
trên, có lẽ cao hơn khoảng 0.25 - 1.00 %, tùy theo là
nhà ở hay là cơ sở thương mại, nhỏ
hay lớn, vì dù sao họ không thuộc diện những
người nghèo cần nâng đỡ (tất nhiên, việc
này gặp rất nhiều khó khăn kỹ thuật); d)
trong trường hợp chuyển nhượng, thì họ
sẽ phải chịu thuế rất cao vì điều này
có nghĩa là họ làm thương mại.
- Ðối với sở hữu chủ : a) phải giải
quyết tất cả vấn đề kể cả từ
thời 1945 tới nay, có thế mới là thực hiện
sự danh chính ngôn thuận, nhân đây xin nêu lên tấm
gương người Do Thái, họ giữ rất kỹ
những tài liệu về thiệt hại của họ
trong thời kỳ thế chiến thứ hai và coi đây
là một cuộc đấu tranh lâu dài của họ,
đây là gương sáng rất đáng để chúng
ta noi theo; b) tốt nhất là trả lại của cải
của sở hữu chủ, về thực tế, điều
này rất khó thực hiện và tỷ lệ thực hiện
được rất thấp; c) để bồi thường
cho họ, vì hiện tại không có khả năng tài
chính nên chỉ có thể là một hay nhiều chương
trình bồi thường dài hạn, trước mắt,
nếu chưa làm được thì phải lưu trữ
hồ sơ để về sau giải quyết; d) nếu
có người tự nguyện không đòi bồi thưòng
thì cần giấy chứng thực của họ; e) có thể
nghĩ tới các hình thức bù lỗ khác, như tạo
thuận tiện cho những người nay trở thành
Việt kiều muốn về nước đầu
tư, nhưng có lẽ đây là điều không nên
làm vì có thể dẫn tới những móc ngoặc hay
làm cho công việc thêm rắc rối (cần nghiên cứu
thêm); f) về ruộng đất, phải có chính sách
riêng vì thuộc diện cơ sở kinh tế, chính sách
này nhằm thực hiện khẩu hiệu "người
cầy có ruộng" (kể cả đảng viên) và
trả lại hay bồi thường sở hữu chủ,
có thể lấy một phần thu nhập trong việc
khoán đất để bồi thường. Cần
lưu ý các sở hữu chủ là rất khó thực hiện
bồi thường trọn vẹn, cả vốn lẫn
lời, và có thể sự thực hiện kéo dài rất
lâu và tùy thuộc vào khả năng chi trả nhất thời
của nhà nước (theo lối có nhiều trả nhiều,
có ít trả ít và "ngâm tôm" phần còn lại,
đợi khi kinh tế khả quan hơn; tất nhiên
không thể là sự chờ đợi thường trực
!).
- Sự bồi thường hay trả lại của cải
được áp dụng cho các cá nhân, cơ sở kinh
tế và cả các đoàn thể dân sự, tôn giáo. Về
cơ sở kinh tế, thì có thể có cùng chính sách áp
dụng cho các cá nhân. Ðối với các tôn giáo,có thể
có những điểm cần phải xem xét lại (như
tại miền nam trước đây, Công giáo được
sự giúp đỡ của chính quyền, do đó có lẽ
họ có nhiều đất đai hơn là họ cần
có; dù sao đây chỉ là nghi vấn nhưng cần nêu
lên để thấy vấn đề toàn diện hơn)
và nằm trong việc xét lại chính sách (chèn ép) tôn
giáo hiện nay và đề ra chính sách tôn giáo toàn bộ
để thực hiện tự do, bình đẳng tôn
giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tâm linh của
công dân. Ðối với các tổ chức chính trị cũ
thì có lẽ cứ để cho lịch sử chấm dứt
vai trò của nó. Vấn đề chính là gia tài của
đảng cộng sản Việt Nam hiện nay và tất
nhiên là không có gì phải bồi thường họ cả
và là vấn đề ngược lại; điểm này
nằm trong chính sách đối với các đảng phái
chính trị tương lai, trong đó có đảng này.
- Trên bình diện quốc gia : a) dự trù phần chi trả
hàng năm trong ngân sách quốc gia; b) phát hành công phiếu
đặc biệt cho công cuộc này; c) coi đây là mối
lưu tâm hàng đầu và chừng nào chưa giải
quyết thì còn là món nợ chưa trả được
cho nhân dân; d) phát hành quyển sách trắng như đã
nêu lên, điều này có giá trị tinh thần, tượng
trưng rất lớn và đối với những
ngưòi bị thiệt thòi từ hàng chục năm nay
thì ít ra họ cũng được "mát ruột".
6) Vì sao trước những khó khăn quá lớn như
vậy nhưng vẫn phải nêu lên và giải quyết
vấn đề ? Trước tiên cần xem xét vấn
đề đạo lý và công lý. Khi thấy chính sách tịch
thu nhà, đất là sai lầm thì tất nhiên phải sửa,
không thể nhân danh bất cứ điều gì để
lờ đi, tinh thần thực dụng (thấy khó có
khả năng trả lại hay bồi thường) không
có chỗ đứng ở đây. Vì sao trước
đây chúng ta coi "không có gì quí hơn độc lập,
tự do" là chân lý và quyết tâm thực hiện
nó, bằng mọi giá (và quả thật dân tộc đã
phải trả giá rất đắt, quá đắt) ?. Vì
sao trước đây (và cả hiện tại ? ) chúng
ta quyết tâm bảo vệ chủ nghĩa xã hội và
những giá trị của nó, cũng bằng mọi giá
?. Cơ bản hơn, vì sao con người không thể sống
như loài thú và phải bảo vệ những giá trị
nhân bản ?. Hỏi tức là trả lời vậy. Giải
quyết vấn đề nhà, đất cũng nằm
trong khuôn khổ của công cuộc xây dựng nhà nước
pháp quyền. Ðể xây dựng nhà nước pháp quyền
thì không chỉ giản dị bỏ câu này vào trong Hiến
pháp là xong, còn những bất công chồng chất từ
mấy chục năm nay vẫn sờ sờ ở đó
và kẻ có trách nhiệm trơ mắt ngồi yên !. Mặc
dù khó khăn to lớn và lâu dài, nhưng đây là nhiệm
vụ của kẻ cầm quyền, họ không thể
chỉ ngồi chơi sơi nước, ăn hại và
thậm chí đái nát (có thể vì vô ý thức không thấy
vấn đề hay cố ý lập lờ kiếm lợi,
có thể vì nhắm mắt áp dụng chủ nghĩa vô
sản hay chỉ vì phản ứng theo bản năng của
kẻ chiến thắng tìm cách chia phần, hôi của,
nhưng hậu quả là vấn đề nhà đất
từ 1945 tới nay lâm vào tình trạng rối rắm, tứ
bề nát bét, không ai biết giải quyết ra sao; những
khó khăn này chính là do lỗi của họ và khó khăn
do lỗi của họ không thể trở thành cái cớ
để họ lờ đi không giải quyết).
·
10.6. Hỏi :
Làm sao vừa có dân chủ vừa có công bằng ?
Ðáp : Thực hiện dân chủ có nghĩa là thực
hiện công bằng, theo nghĩa mỗi người có một
khoảng không gian sống (vật chất và tinh thần)
tối thiểu và khó thể là cào bằng xã hội; lại
càng không thể là "làm theo khả năng, hưởng
theo nhu cầu" được vì như vậy là chuyện
"không ai muốn làm, ai cũng muốn hưởng"
mà thôi.