Nguyên Tắc Dân
Chủ (2/4)
Mục
tiêu dân chủ phải được hướng dẫn
bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi
nỗ lực dân chủ.
Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực
hiện hoặc
dễ
thất
bại
khi nhân tố tham chính
(cộng-sản
hay không-cộng-sản) mang
hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ.
Do
đó trong
quan
niệm
‘vấn
nạn
hiện
thực không phải là chấp nhận tư tưởng
dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng
và hành động phản-dân-chủ’
Diễn đàn Dân Chủ cố gắng
giới
thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên
tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu
tư đến tương lai dân tộc có thể suy
luận để so sánh phủ định
quan
điểm và
hành
động phản-dân-chủ
bởi
vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công
cơ
chế quốc trị dân chủ quy
phục và phụng sự nhân dân trong
tương lai trên nền tảng tư duy
và
kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không
lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp
tục phát triển nhờ vào cơ chế
dân
chủ khai phóng tiềm năng đóng góp
của
toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam
lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo
hèn bởi
thành
phần lãnh đạo độc tài mang
hành trang
tư
duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần
tài liệu Các
vấn đề dân chủ sau
đây trình bày nhiều đề tài khả dụng
như định chế dân chủ, vai trò chính
đảng, truyền thông, luật pháp, kinh
tế thị trường, trách nhiệm của chính
quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển
cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản,
quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy
sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn
Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý
bạn.
II. Những cuộc bầu cử tự do và công
bằng
16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?
Trên phạm
vi quốc gia những cuộc bầu cử có 2 nhiệm
vụ. Một mặt phương cách bầu cử cho
phép chọn lựa người cầm đầu chính
quyền hoặc bộ máy hành chính và từ đó chọn
lựa chính sách mà chính quyền đó dự định
thực hiện. Mặt khác những cuộc bầu cử
còn cho phép chỉ định những dân biểu trong viện
dân cử hoặc quốc hội, là những người
-nhân danh dân chúng- có nhiệm vụ biểu quyết về
luật lệ, quyết định về thuế khóa và
kiểm soát các hoạt động của chính phủ.
Trong tổng thống chế với một tổng thống
đứng đầu chính quyền thì hai nhiệm vụ
vừa nêu được tách bạch, những cuộc bầu
cử tổng thống và quốc hội được
tiến hành riêng rẽ, mặc dù thời gian có thể
trùng nhau. Trong một chế độ dựa vào thủ
tướng hay trong quốc hội chế, người ta
chỉ cần tổ chức một cuộc bầu cử
để hoàn tất cả hai nhiệm vụ trên vì các
cử tri đã giao quyền điều hành chính phủ
cho chính đảng chiếm đa số ghế trong quốc
hội.
Việc bầu cử định kỳ
để chọn người vào các trách vụ chính thức
theo một diễn trình minh bạch và mang tính tranh đua
là một trong những phương tiện kiểm soát hữu
hiệu của dân chúng trong một chế độ dân
chủ đại nghị. Bầu cử là sự minh xác
rằng quyền lực chính trị thuộc về người
dân và quyền lực này được thi hành dưới
sự ủy nhiệm của dân và xác định rằng
những chính khách phải chịu trách nhiệm về hoạt
động của họ trước dân chúng. Về
điểm cuối vừa nêu, việc tước bỏ
chức vụ là cách tốt nhất để bảo
đảm rằng những người được bầu
sẽ phải hoàn thành nhiệm vụđược giao
phó. Chính khả năng này cho phép bảođảm chất
lượng của các chức trách chính trị và tùy
tình thế thực hiện sựđổi mới nhân sự
cũng như các chính sách trên bình diện chính quyền.
17.
Nguyên thủ quốc gia có cần được chọn
qua một cuộc tổng tuyển cử không?
Nguyên thủ
quốc gia được chú ý bởi vai trò vô cùng trang
trọng và nhiều tính biểu tượng của họ.
Vai trò này biểu tượng cho sự thống nhất
của quốc gia vượt lên trên mọi tranh chấp
đảng phái, cho sự liên tục nằm ngoài sự
thay đổi của các chính quyền vắn số và
cho sự hiện diện thường trực của hiến
pháp so với bản chất hữu hạn của các nhiệm
kỳ. Vai trò biểu tượng này sẽ vô cùng quan trọng
khi quốc gia gặp khủng hoảng hoặc có những
tranh chấp liên quanđến hiến pháp. Trong những
trường hợp khó khăn ấy, vị nguyên thủ
quốc gia sẽ phải sử dụngđến uy quyềnđặc
biệt của mình.
Trong tổng thống chế vị tổng thống đắc
cử kiêm nhiệm cả vai trò danh dự của một
nguyên thủ quốc gia lẫn vai trò của một người
cầm đầu chính phủ. Ðó là trường hợp
của Nga, Hoa Kỳ và đa số các quốc gia tại
Nam Mỹ. Trong quốc hội chế, thông thường vị
nguyên thủ quốc gia được bầu qua một
cuộc tổng tuyển cử hoặc bởi quốc hội
và không có quyền lực hành pháp. Ðó là trường hợp
của Ðức, Ái Nhĩ Lan và Ấn Ðộ. Trong chế
độ quân chủ lập hiến như tại Bỉ,
Tây Ban Nha và Anh Quốc, vị nguyên thủ quốc gia
được chỉ định bằng tính kế thừa
và thi hành chức vụ này trọn đời.
Khó mà nói thể chế nào cho phép chỉ
định nguyên thủ quốc gia một cách tốt nhất.
Thật ra mỗi thể chế phảiđược hiểu
trong cái tổng thể của nó. Tổng thống chế
có nhượcđiểm là lôi kéo vị nguyên thủ
quốc gia vào những tranh luận về cáchđiều
hành quốc gia hoặc bắt vị này gánh chịu một
phần trách nhiệm trong những chính sách mất lòng
dân
18.
Còn những người ở chức vụ nào khác cần
được chọn qua một cuộc tổng tuyển
cử?
Vì người
đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm
trước quốc hội về hành động và về
khả năng của các nhân viên chính phủ, và do người
đứng đầu hành pháp được dân bầu
lên, cho nên việc để cho người đứng
đầu hành pháp tự chọn nhân viên của mình sẽ
hợp lý hơn việc tuyển chọn qua một cuộc
bầu cử, với điều kiện việc tuyển
mộ phải lưu tâm đến mọi người có
khả năng thích ứng. Song, trong việc tổ chức
các cơ quan công quyền, thể chế dân chủ đòi
hỏi phải có sự hiểu biết những nhu cầu
thực tế và về bối cảnh phát triển của
địa phương. Ðiều này nói lên sự cần
thiết phải bầu ra những cơ cấu để
giám sát việc điều hành một số các lãnh vực
như sức khỏe, giáo dục, cảnh sát, v.v... trên
bình diện địa phương và để chịu
trách nhiệm điều hành tất cả công việc
địa phương. Việc tản quyền này thể
hiện rõ trong cơ chế liên bang, khi trên bình diện
tiểu bang, các tỉnh và các địa phương
người ta tìm lại được những cấu
trúc lập pháp và hành pháp tương ứng với cấu
trúc của liên bang.
Ðứng trước câu hỏi liệu
có cần phải bầu ra các quan tòa hay không, người
ta dễ có khuynh hướng trả lời rằng nếu
các vị đại biểu lập pháp và vị đứng
đầu hành pháp đã được dân bầu, thì
dĩ nhiên cũng phải để dân bầu những
quan tòa. Song le, vì các quan tòa phải thi hành các nhiệm vụ
pháp lý (chứ không phải là chính trị) -những nhiệm
vụ chủ yếu dựa trên các nguyên tắc như sự
gắn bó chặt chẽ (với luật pháp) và sự
vô tư (không phụ thuộc vào sự đánh giá của
quần chúng)- nên tốt hơn hết là không nên để
cho những trách vụ này phải chịu sự phán quyết
của dân chúng hoặc để chúng dễ bị phụ
thuộc vào một phe nhóm nào đó của xã hội.
Trong quyền hạn của mình, chính quốc hội phải
làm sao để những đạo luật (mà các quan
tòa áp dụng) và mức án (mà quan tòa tuyên bố) phản
ánh được dư luận quần chúng chứ
không phải phản ánh tâm trạng của những người
xử án. Tóm lại cách chọn quan tòa là một vấn
đề quan trọng của dân chủ, đặc biệt
khi việc tuyển chọn này làm thiệt hại đến
các nhóm có số lượngđôngđảo trong xã hội
như phụ nữ, dân tộc thiểu số hay các
nhóm thiểu số khác.
19.
Có cần bầu một nghị viện thứ hai không?
Muốn biện
bạch cho việc cần bầu một nghị viện
thứ hai (bầu theo những tiêu chuẩn hoàn toàn khác
với quốc hội) người ta có thể viện dẫn
lý do cần giám sát quốc hội càng kỹ càng tốt
và ủng hộ nó càng nhiều càng hay. Lý luận này
đặc biệt đúng trong một chế độ
liên bang với một thượng viện đại diện
cho quyền lợi của các tiểu bang thành viên chứ
không đại diện cho quyền lợi của quốc
gia trong tổng thể của nó. Trên bình diện lập
pháp, thượng viện đóng vai đối trọng,
rất cần thiết trong một quốc gia mà quyền
cá nhân không được bảo vệ bởi Hiến
pháp.
Nói chung, hai nghị viện sẽ
được bầu theo hai phương thức khác nhau.
Thượng viện được bầu theo thể thức
gián tiếp hay bầu dựa trên một sự phân chia
khu vực bầu cử khác hẳn hay theo một lịch
trình bầu cử khác để có thể thay đổi
một phần các nghị sĩ trong thượng viện
trong mỗi kỳ bầu cử. Trong các quốc gia theo quốc
hội chế việc để cho cả nước trực
tiếp bầu lại tất cả dân biểu trong hạ
viện đã tạo nên bảo đảm cho tính chính
đáng của quốc gia về phương diện
điều hành quốc gia và giao cho hạ viện một
vai trò ưu tiên trong việc soạn thảo luật pháp.
Tốt hơn hết cần giao cho thượng viện
quyềnđình chỉ hoặc quyền phủ quyết.
Trong chếđộ dân chủ không có gì có thể biện
minhđược cho sự thành lập một thượng
viện mà không thông qua bầu cử.
20.
Chu kỳ của các cuộc bầu cử
Ở thế
kỷ 19 những nhà dân chủ cố chấp đã
đòi hỏi phải cho bầu cử quốc hội mỗi
năm một lần để có thể kiểm soát những
dân biểu một cách hữu hiệu. Song, với nhiệm
vụ ngày nay, trong vòng một năm, chính quyền và quốc
hội không thể điều hành hữu hiệu về
kinh tế cũng như không thể đánh giá tác dụng
của các chính sách được họ vạch ra. Thông
thường người ta cho rằng một nhiệm kỳ
4 năm là một thỏa thuận hợp lý giữa một
bên là sự liên tục cần thiết của các chính
quyền và một bên là những nguyên tắc buộc
chính quyền phải tôn trọng nguyện vọng của
người dân và chịu trách nhiệm trước
người dân.
Nhiệm kỳ của các vị dân cử
dù dài dù ngắn thế nào chăng nữa, vấn đề
quan trọng là quyết định kêu gọi toàn quốc
đi bầu không được xuất phát từ chính
phủ. Ðòi hỏi các cuộc bầu cử phải
"tự do và bình đẳng" cũng có nghĩa là
(một hoặc những) chính đảng đang cầm
quyền không được kiểm soát diễn trình bầu
cử và khôngđược dùng nóđể chiếm lợi
thế. Ðiều này cũngđược áp dụng cho lịch
bầu cử cũng như các thức tiến hành bầu
cử
21.
Có cần phải giới hạn quyền bầu cử
không?
Trong đa số
các quốc gia dân chủ việc giới hạn quyền
bầu cử thường chỉ được áp dụng
đối với trẻ em, với những người
bị kết án hình sự, những bệnh nhân tâm thần
và người ngoại quốc. Ðây là một tập hợp
không đồng nhất của những nhóm người
không được quyền bầu cử vì lý do riêng
biệt cho từng trường hợp.
Ðối với
các trẻ em chưa đủ một tuổi nào đó,
việc loại trừ mang ý nghĩa tốt và dựa
trên lý do tâm lý liên quan đến sự phát triển của
các em. Trước một tuổi nào đó, vì đa số
các em chưa có đủ kinh nghiệm và chưa ý thức
được đầy đủ về hậu quả
lâu dài của những chọn lựa của mình, nên chưa
thể miễn cho các em việc cần được bảo
hộ tốt. Tại nhiều nước, khi đạt
đến một tuổi nào đó, các em sẽ nhận
được một số quyền của người
trưởng thành: quyền hôn nhân, quyền sở hữu,
quyền có tư cách pháp nhân trong kiện tụng và quyền
bầu cử. Việc công nhận các quyền này thường
đến với tuổi 18, tương ứng với việc
học xong trung học và việc thi hành nghĩa vụ quân
dịch.
Dù sao việc
định độ tuổi trưởng thành cũng chỉ
là một chọn lựa hoàn toàn tùy tiện. Ngày nay ai cũng
biết rằng các trẻ em thường chín muồi trước
tuổi. Hiện nay các em đã có một số quyền,
thí dụ như quyền đi làm được trả
lương, ngay cả khi chưa đạt đến 18
tuổi. Ðiều đáng buồn là hiện vẫn còn những
em cần phải được bảo vệ trước
những người có trách nhiệm đối với các
em, và do đó người ta phải mở rộng cho các
em quyền có tiếng nói trong những việc liên quan
đến cá nhân các em, nhiều hơn là các em hiện
nay đang có. Dù sao tiến trình trưởng thành cũng
là một tiến trình liên tục, cho nên ngay từ tuổi
nhỏ, người ta cần phải sửa soạn cho các
trẻ em ý thức được trách nhiệm công dân
của mình trong một xã hội dân chủ bằng cách
cho các em tham gia vào những quyết định được
lấy một cách tập thể trong môi trường học
đường hoặc gia đình. Dù sao những suy nghĩ
này cũng chưa đủ thuyết phục để hạ
thấp một cách đáng kể mức tuổi
được đi bầu -như mức 18 tuổi hiện
nay- hoặc xóa bỏ đi việc ấn định
độ tuổi tượng trưng cho sự công nhận
của xã hội về sự trưởng thành cũng
như về những quyền dành cho những thanh niên
đạt đến độ tuổi đó.
Ðối với
những người bị kết án tù, người ta có
thể biện minh cho việc tước quyền bầu
cử của họ rằng khi đã vi phạm nghiêm trọng
pháp luật thì họ sẽ bị mất mọi quyền
tham gia vào việc soạn thảo luật, dù bằng
cách nào chăng nữa. Nhưng ngược lại việc
mất tự do cũng không thể kéo theo việc mất
tất cả các quyền công dân khác và đặc biệt
hơn nữa, phải cho tù nhân được liên lạc
với những vị dân cử để bảo đảm
cho họ quyền được bảo vệ trước
những cách đối xử phi pháp và dã man và để
giám sát điều kiện giam giữ họ. Tương
tự như vậy người ta cần có quan niệm
rộng rãi đối với những người bệnh
tâm thần bởi không thể xếp họ vào một
loại đồng nhất -loại người không còn
có ý thức gì được về quyền lợi bản
thân.
Cuối cùng chúng ta cần bàn về việc
tước quyền bầu cử của những người
ngoại quốc đang thường trú trong một nước.
Trong trường hợp đặc biệt này quyền bầu
cử nằm trong mộ vấn đề rộng lớn
hơn là vấn đề nhập tịch. Nếu chúng
ta thừa nhận rằng việc khai sinh dân chủ hồi
thế kỷ XVIII phát xuất từ việc đặt lại
vấn đề các nguyên tắc quân chủ (việc thụ
hưởng các quyền chính trị phụ thuộc duy
nhất vào yếu tố dòng tộc hoặc sự thừa
kế), thì nếu nhất quán chúng ta không được
xem quốc tịch là tiêu chuẩn duy nhất để
tước quyền bầu cử của những người
ngoại quốc đã sống nhiều năm tại một
nước nào đó. Người ta có thể tranh cãi
nhiều về thời gian cư trú mà một người
ngoại quốc cần có để được xem là
"ổn cư", nhưng người ta phải thẩm
định một cách hợp lý rằng thời gian cư
trú dể cho ngoại kiềuđược phép nhập
tịch một nước nàođó không thể quá 5 năm.
22.
Làm sao thiết lập danh sách cử tri?
Mặc dù người
ta có thể nghĩ rằng việc ghi danh lập danh sách
cử tri là một công tác hoàn toàn kỹ thuật, nhưng
trên thực tế thủ tục ghi danh ảnh hưởng
quan trọng đến việc thực thi quyền đầu
phiếu. Lập danh sách cử tri trước khi có bầu
cử là việc làm cần thiết: danh sách cử tri rất
cần để nhận diện từng người
đi bầu, để tránh việc có thể bỏ phiếu
hai lần hay để ngăn ngừa việc mạo danh
một cử tri khác hoặc có thể bỏ phiếu mặc
dù không có quyền cử tri.
Tuy nhiên nhiều
khi những thủ tục ghi danh đã cản trở người
công dân thực hiện việc ghi danh hoặc thực hiện
quyền cử tri của họ. Trường hợp này
sẽ xảy ra khi việc ghi danh để cho tự nguyện
và bị ảnh hưởng bởi đảng viên cuồng
nhiệt của các chính đảng muốn dành lợi
thế hoặc khi thời hạn khóa sổ ghi danh cách
quá xa ngày bầu cử, cho dù vào thời điểm bầu
cử danh sách cử tri cần phải được
đóng lại. Người dân cũng rất sợ rằng
danh sách cử tri sẽ được sử dụng vào
các mục đích hành chính khác, chẳng hạn như
để kiểm tra tình trạng thuế khóa, nghề
nghiệp, gia đình của họ là những dữ kiện
mà người dân thường phải cung cấp theo những
thủ tục riêng biệt khác.
Một thể thức đáp ứng
đúng theo các nguyên tắc dân chủ đòi hỏi việc
ghi danh cử tri phải có tính bắt buộc, phải
được thi hành bởi một nhân viên chính thức
được trả công và được đào tạo
để làm việc này, việc cập nhật hóa danh
sách cử tri cần thực hiện càng cận ngày bầu
cử càng tốt, và những việc này phảiđược
thực hiện một cách riêng biệt -về cả phương
diện tài chính lẫn cách thức tiến hành-đối
với các bộ hồ sơ hành chính khác.
23.
Có cần cưỡng chế bầu cử không?
Tại những
quốc gia có cưỡng chế bầu cử (thí dụ
Úc) người ta cho việc bắt buộc tham gia chọn
lựa chính quyền và dân biểu là một lợi quyền
giống như một loại nghĩa vụ dân sự.
Vì lợi quyền này là kết quả của sự
tranh đấu của nhiều thế hệ nên ai muốn
bỏ phiếu trắng thì cứ ghi rõ sự từ chối
của mình trong danh sách cử tri thay vì lánh xa các cuộc
bầu cử giống như những cử tri thờ
ơ, vắng mặt hoặc tử vong. Thực ra chúng ta
thấy có một cái gì mâu thuẫn khi nêu đòi hỏi
cưỡng chế trong một cuộc bầu cử
"tự do" hoặc khi bắt người dân phải
thi hành "lợi quyền" của chính họ. Nói
cho cùng phiếu trắng -một cách biểu lộ quan trọng
của dân chúng- là một dấu hiệu cảnh cáo về
sự ách tắc của diễn trình dân chủ.
Nhiều nước dân chủ hiện
chấp nhận hình thức từ chối tham gia bầu
cử. Nhưng nếu đã xem việc bầu cử là
tự nguyện, thì liệu nó có mâu thuẫn gì với
việc nhiều quốc gia bắt phải thi hành ghi danh
cử tri không? Câu trả lời là không, nếu cho phép
người dân khi ghi tên vào danh sách cử tri vẫn còn
có quyền chọn lựa có tham gia đầu phiếu
hay không, vì trên thực tế mỗi quốc gia cũng cần
phải có các danh sách cử tri chính xác và đầy
đủ để dùng cho các mục đích hoàn toàn hợp
pháp về bầu cử, chẳng hạn nhưđểđiều
chỉnh con số cử tri giữa các kỳ bầu cử.
24.
Tại sao phải bỏ phiếu kín?
John Stuart Mill,
một triết gia người Anh theo khuynh hướng tự
do, cho rằng cần phải bỏ phiếu công khai để
các cử tri có thể biện bạch chọn lựa của
họ trước những người khác và để
bắt họ phải đặt quyền lợi chung lên
trên quyền lợi cá nhân.
Quan điểm này tuy rất "quý
phái" nhưng không được các lý thuyết gia
sau ông ủng hộ. Trong khi thi hành, nếu để bầu
cử công khai như vậy, các cử tri sẽ ở
vào tình trạng khó chống đớ lại các áp lực
của các người nắm giữ chức quyền
như chủ nhân, sở hữu chủ, giáo sĩ,
thượng cấp hoặc dễ bị các ứng cử
viên tìm cách mua chuộc lá phiếu của họ. Việc
bỏ phiếu kín ngày nay đã là một trong những
đặc tính quan trọngđược gắn liền
với các chếđộ dân chủ.
25.
Ðiều kiện ứng cử
Trên nguyên tắc
mọi cử tri đều có quyền ứng cử. Việc
một số quốc gia ấn định một độ
tuổi nhất định nào đó -trên mức tuổi
có quyền đi bầu- để được ra
ứng cử là một ấn định thừa thãi vì
ứng cử viên nào chưa có đủ kinh nghiệm
trong việc điều hành quốc gia thì cũng sẽ
khó mà thắng cử được.
Trong khi đó
việc quy định tiến trình đề cử và
ghi danh ứng cử lại là một vấn đề khác.
Ở đa số các quốc gia, khi đòi hỏi rằng
ứng cử viên phải được sự ủng hộ
của những đại diện cử tri đoàn và/hoặc
phải đóng một số tiền "thế
chân" nào đó (mà họ sẽ mất nếu không
đạt được một số lượng phiếu
tối thiểu nhất định), thủ tục bầu
cử thực ra chỉ nhằm ngăn chặn các ứng
cử viên ngông nghênh. Tuy nhiên cả hai biện pháp nhằm
loại bỏ các ứng cử viên "thích mơ mộng"
này có một yếu điểm là có thể loại cả
một số ứng cử viên đứng đắn, nhất
là khi họ thuộc các nhóm chính trị mới thành lập.
Một số nước khác, chỉ những ứng cử
viên đại diện các chính đảng được
công nhận mới có quyền ứng cử. Tại
đó, cho dù mục đích là làm nản lòng các ứng
cử viên ngông nghênh nhưng phương cách này lại
đưa đến hệ quả kiểm soát các chính
đảng và các ứng cử viên và do đó giới hạn
cả quyền chọn lựa chính đáng của dân
chúng.
Tại Hoa Kỳ, mỗi chính đảng
chỉ định ứng viên của mình qua một vòng
bầu phiếu sơ bộ, trong đó chỉ có những
đảng viên có tên trên danh sách cử tri của đảng
mới được bỏ phiếu. Nếu
phương thức này đã có thể tập trung các cử
tri vào việc đề cử và bầu cử thì nó lại
tăng giá trị một cách thái quá các cuộc bầu
cử (nội bộ đảng) và ưu đãi các
ứng cử viên có nhiều tiền của riêng hoặc
được các thế lực tài chính lớn ủng
hộ. Ðể tránh tình trạng này người ta có thể
chỉ định ứng viên qua một cuộc bầu cử
dành cho mọi cảm tình viên của đảng tại
quận hoặc khu vực đầu phiếu liên hệ.
Dù rất khiêm tốn biện pháp dân chủ hóa việc
chọn lựa các ứng viên này đến nay vẫn
chưa đượcđem ra áp dụng một cách rộng
rãi cho xứngđáng với ý nghĩa của nó.
26.
Tại sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?
Trong các chế
độ dân chủ phương Ðông tỷ lệ phụ
nữ trong quốc hội rất thấp so với tỷ
lệ phụ nữ trong dân số. Ngay cả tại các
nước có truyền thống dân chủ vững chắc
tỷ lệ này vẫn dưới 15%: tại Bắc Âu
là 35%, Pháp đội sổ với 6%, tại đa số
các nước khác khoảng 10%. Tình trạng này bắt
nguồn từ những nguyên nhân lịch sử, truyền
thống và chính trị. Từ xưa phụ nữ bị
xem (do bản chất) là không đủ khả năng hoạt
động chính trị, dẫn đến việc tìm
cách đưa họ ra xa các loại hoạt động
chính trị, để rồi từ đó cho rằng họ
không hợp với chính trị. Ðược củng cố
thêm bởi sự bất bình đẳng trong việc phân
công công việc gia đình (phụ nữ vẫn tiếp
tục phải chăm lo con cái và nhà cửa nhiều hơn
đàn ông) những di hại tư tưởng này đã
cản trở việc phụ nữ hoạt động
chính trị chuyên nghiệp để tự nuôi sống
lấy mình. Hoạt động chính trị đòi hỏi
nhiều thời giờ; giờ giấc của nhân viên
chính phủ hoặc dân biểu quốc hội thường
không thích hợp với giờ giấc gia đình bình thường.
Tóm lại người đàn bà khó đến với các
hoạtđộng chính trị một cách tự nhiên,
cho dù bản chất có thích hợp với sự cạnh
tranh, với những tranh chấpđảng phái và với
sự nổi bật cá nhân.
Tình trạng
này có đáng lo ngại không? Nếu xét về nguyên tắc
bình đẳng chính trị thì thật đáng lo ngại
khi một thành phần xã hội nào đó rõ ràng
được ưu đãi để chiếm giữ các
chức vụ công cộng hoặc dân cử. Người
ta rất có lý khi cho rằng đàn ông không thể lưu
tâm bằng phụ nữ đến các vấn đề
liên quan đến phụ nữ hoặc không ưu tiên
để chi tiêu ngân sách đúng mức cho các vấn
đề này. Cho dù rằng phụ nữ nói chung có thể
không cùng quan điểm và quyền lợi với nhau nhưng
đa số đều rất bực dọc khi thấy một
quốc hội gồm đa số là đàn ông mà lại
làm ra các đạo luật về ngừa thai, phá thai, hiếp
dâm, v.v... Tóm lại, khi người phụ nữ, với
những khả năng và đặc thù riêng, không có chỗ
đứng tương xứng trong đời sống cộng
đồng thì chính xã hội trong toàn thể của nó
đã bị nghèo nàn đi.
Làm thế nào để sửa chữa
tình trạng này? Chúng ta chỉ có thể sửa lại
một sự bất bình đẳng chính trị do lịch
sử để lại bằng cách thực hiện nhiều
biện pháp trong nhiều lãnh vực. Ðể bắt đầu
chúng ta có thể thay đổi quan điểm trong các trường
học và trong hệ thống giáo dục, gia tăng
phương tiện trông giữ trẻ, cải tổ vấn
đề tổ chức về thời gian của các dân
biểu và sắp xếp các thiết bị dành cho họ
sử dụng. Ðặc biệt các chính đảng phải
có bổn phận đưa ra những sáng kiến trong vấn
đề này để khuyến khích phụ nữ tham
gia việc đào tạo họ, dành ưu tiên cho các
ứng cử viên phụ nữ bằng cách quy định
số phần trăm ghế đại biểu hoặc dành
một số chỗ nhấtđịnh cho họ. Những
nước Bắc Âuđã cho áp dụng những biện
pháp này một cách thành công.
27.
Dân biểu được xem là "đại diện"
của cử tri trong chừng mực nào?
Về tư cách
đại diện chính trị có hai cách diễn giải
chính.
Cách thứ nhất
dựa trên nguyên tắc "ủy nhiệm" cho rằng
dân biểu là người được thân chủ
ủy quyền để "thay mặt" cho họ và
"hành động thay cho họ". Về một vài
phương diện nào đó, vị dân biểu thụ
ủy có thể thay mặt toàn thể các thân chủ hoặc
cử tri trong địa hạt bầu cử thí dụ
như để bảo vệ các quyền lợi địa
phương, nói lên quan điểm của cử tri của
địa hạt hoặc can thiệp để giải
quyết các khiếu nại cá nhân. Còn trong các trường
hợp khác, dân biểu thụ ủy chỉ đại
diện cho những cử tri nào đã bỏ phiếu cho
họ để thực hiện chương trình
được đưa ra khi tranh cử (mà không thể
đại diện cho những người đã không bỏ
phiếu cho họ). Ý kiến cho rằng, trong mọi hoàn
cảnh, dân biểu có thể phát biểu và hành động
thay cho toàn thể cử tri trong địa hạt bầu
cử của họ, là điều giả tưởng bởi
nó sẽ trái với những dấn thân cho chương
trình mà các dân biểu đã đưa ra khi tranh cử,
bao gồm hành động nhất quán cho chương trình
này và trách nhiệm để việc thực hiện có
hiệu quả.
Cách diễn
giải thứ hai về sự đại diện chính trị
xuất phát từ quan niệm "tiểu vũ trụ",
xem quốc hội như một toàn thể chứ không
phải là tập thể các đại diện riêng lẻ.
Trong quan niệm này một quốc hội lập pháp mang
tính "đại diện chung" bởi nó phản
ánh bản chất của cử tri một cách toàn diện
về phương diện cấu thành xã hội, phân bố
địa lý hoặc phân bố số phiếu dành cho mỗi
chính đảng. Dĩ nhiên người ta có thể
đặt vấn đề về trọng lượng của
từng tiêu chuẩn này. Tuy mọi tiêu chuẩn đều
quan trọng nhưng trong một cơ chế mà cử tri
phải quyết định chọn lựa giữa những
chính đảng có những chương trình họa
động chính phủ khác nhau thì tiêu chẩn nào liên
quan đến sự cấu thành quốc hội dựa
trên trọng lượng phiếu dành cho các chính đảng
sẽ là tiêu chuẩn ưu tiên. Cơ chế bầu cử
dựa trên nguyên tắc đại diện tỷ lệ
là cơ chế thích ứng với tiêu chuẩn này nhất
(xx phần 28).
Chúng ta có thể xem rằng hai cách diễn
giải dựa trên khái niệm "ủy quyền"
và "tiểu vũ trụ" phản ánh hai nguyên tắc
dân chủ cơ bản đã đề cập trước
đây (xx phần 1). Nguyên tắc về chủ quyền
toàn dân (quyền lực chính trị phát xuất từ
nhân dân và các quyền lực lập pháp và hành pháp phải
đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân)
được thể hiện qua khái niệm cho rằng
dân biểu là người được cử tri ủy
nhiệm để thay mặt họ mà hành động,
cũng như phải chịu trách nhiệm trước cử
tri và có thể bị cử tri bãi chức. Cách diễn
giải thứ hai về quyền đại diện dựa
trên khái niệm "tiểu vũ trụ"
tương ứng với nguyên tắc bình đẳng chính
trị, nghĩa là mỗi lá phiếu đều có trọng
lượng hoặc giá trị như nhau -không phụ thuộc
vào chỗ ở của cử tri hoặc sự ủng hộ
một chính đảng nào đó của họ. Vì nguyên
tắc này phải chịu một sự giám sát kỹ lưỡng
mà quốc hội có thể được xem như một
tiểu vũ trụ đại diện cho toàn thể cử
tri, tôn trọng sự phân bố về mặtđịa
lý của cử tri cũng như sự phân bố về
phiếu dành cho các chính đảng.
28.
Sự khác biệt của các lối bầu cử
Hiện nay các nước trên thế
giới đang cho áp dụng các lối bầu cử rất
khác nhau. Dưới dây, 5 lối chính sẽđược
trình bày một cách khái quátđể làm cơ sở suy
xét cho phần 29.
(i) Lối bầu đơn danh một vòng lấy đa số
(áp dụng trong việc bầu quốc hội Hoa Kỳ,
tạiđa số các quốc gia Nam Mỹ, Anh Quốc và
phần lớn các nước cựu thuộcđịa)
Theo lối bầu cử này quốc gia được
chia thành những khu vực có số cử tri tương
đương với nhau. Mỗi khu vực chỉ
được một ghế dân biểu và mỗi cử
tri chỉ được bầu cho một ứng cử
viên bằng lá phiếu của mình. Ứng cử viên
được nhiều phiếu nhất sẽ thắng,
bất kể có đạt được đa số
tuyệtđối hay không.
(ii) Lối bầu tuyển chọn hoặcưu tiên (áp dụngđể
bầu Hạ viện Úc)
Theo lối bầu cử này các khu vực cử tri cũng
được chia như lối trên. Chỉ có khác là cử
tri sẽ sắp xếp các ứng cử viên theo thứ
tự ưu tiên. Khi tổng kết, nếu số phiếu
dành cho các ứng cử viên có ưu tiên một không
đưa đến kết quả là có một ứng
viên nào đạt được đa số tuyệt
đối thì ứng viên ít phiếu nhất sẽ bị
loại và số phiếu dành cho người này sẽ
được đem chia cho các ứng viên được
xếp thứ nhì trên phiếu xếp ưu tiên. Thủ
tục này sẽ được tiếp tục cho đến
khi tìm ra được một ứng viên đạt
được đa số tuyệt đối. Người
ta cũng có thể đi đến kết quả
tương tự bằng cách tổ chức bầu vòng
hai giữa hai ứng viênđạt nhiều phiếu nhất
trong vòng một (như tại Pháp).
(iii) Lối bầu duy nhất có thể chuyển nhượng
(áp dụng tại Ái Nhĩ Lan, Malta và cho bầu cử
Thượng viện Úc)
Theo lối này, tại mỗi khu vực cử tri có thể
bầu từ ba đến bảy ghế đại diện
theo tỷ lệ tương ứng với dân số. Mỗi
cử tri sẽ có một số lá phiếu bằng số
ghế đại diện và sẽ phải chọn một
thứ tự ưu tiên. Muốn trúng cử mỗi ứng
cử viên phải đạt được một hệ
số (theo tỷ lệ cử tri) nào đó. Những
ứng viên nào không đạt được hệ số
đó qua những phiếu bầu có ưu tiên một,
thì sẽ được tính đến số phiếu cóưu
tiên hai hoặc thấp hơn nữa dành cho họ theo một
công thức tái phân phối phiếuưu tiên.
(iv) Lối bầu danh sách (áp dụng tại Do Thái vàđa
số các quốc gia Ðông Âu)
Theo lối này mỗi chính đảng phải lập danh
sách ứng viên (được xếp theo thứ tự
ưu tiên) cho vùng hoặc cho toàn quốc. Mỗi cử
tri chỉ có một phiếu để bầu cho chính
đảng mình ưa thích. Các ứng viên trên danh sách thứ
tự sẽ trúng cử tùy theo tỷ lệ phiếu
dành cho đảng của mình. Ở một vài quốc
gia, các chính đảng phải đạt được
một số phiếu tối thiểu nào đóđểđược
vào quốc hội.
(v) Lối bầu hỗn hợp (áp dụng tại Ðức,
Hung Gia Lợi và Tây Tây Lan)
Theo lối bầu này một số đại diện
(dưới 50%) sẽ được chọn trực tiếp
qua lối bầu phiếu đơn danh lấy đa số
đã được trình bày trong điểm (i) và (ii)
ở trên. Số đại diện còn lại sẽ
được chọn theo lối danh sách, theo vùng hoặc
toàn quốc, sao cho trong kết quả cuối cùng nói lên
tương ứng giữa số ghế và số phiếu
dành cho đảng của họ (càng gần với tương
ứng này càng tốt). Trong lối này người ta
cũng có thể quy định rằng, muốn hiện
diện trong quốc hội, mỗi chính đảng phải
đạtđược một mức phiếu tối
thiểu nàođó.
29.
Ưu và khuyết điểm của các lối bầu cử
Chỉ có thể
đánh giá đúng được những ưu điểm
của từng lối bầu cử nếu đặt chúng
trong khung cảnh của đặc điểm và sự
phân bố dân số trong quốc gia liên hệ cũng
như trong sự quan tâm về bầu cử của những
chính đảng tại quốc gia đó. Do đó sẽ
rất sai lầm khi cho áp dụng lối bầu tỷ lệ
cho một quốc gia hoàn toàn không có những chính đảng
đã bắt rễ được vào quần chúng, trong
khi mà sự phân bố phiếu của dân chúng cho các lực
lượng tương ứng lại chính là tinh thần
của lối bầu tỷ lệ. Do đó sự đánh
giá sau đây không nhằm mục đích trình bày những
đặc điểm chung của các lối bầu phiếu
khi không xét đến những hậu quả của việc
áp dụng.
Ưu điểm
của lối bầu đa số một vòng là sự
đơn giản. Hơn hẳn các lối khác, lối bầu
này cho phép một chính đảng chiếm được
đa số trong quốc hội và cho phép chính đảng
này cầm quyền một mình. Nó khuếch đại sự
ủng hộ của dân chúng đối với chính
đảng quan trọng nhất. Và lối bầu này cũng
cho phép những tiếng nói yếu thế có thể chuyển
dịch để làm thay đổi đa số và dẫn
đến sự thay đổi chính phủ, mặc dù sự
thay đổi phụ thuộc vào số lượng các
các khu vực cử tri "lung lay lập trường".
Khuyết điểm của lối bầu
này là có thể tạo ra những kết quả hoàn
toàn không tương ứng với số phiếu mà các
chính đảng nhận được trên bình diện
quốc gia hoặc trong mỗi khu vực cử tri. Lấy
thí dụ có 4 chính đảng ra tranh cử trên bình diện
quốc gia và đạt được số phiếu
theo tỷ lệ sau: 40%, 30%, 20% và 10% và giả dụ số
phiếu đạt được tại mỗi khu vực
bầu cử cũng sẽ tương ứng với tỷ
lệ này. Kết quả là một chính đảng sẽ
dành được toàn bộ số ghế quốc hội
trong khi 60% cử tri hoàn toàn không có một đại diện
nào. Chúng ta có thể nghĩ rằng trường hợp
này sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng rõ ràng lối
bầu này sẽ ưu đãi những chính đảng có
số ủng hộ viên ở tập trung về địa
lý và trừng phạt những chính đảng có cử
tri nằm rải đều tại các khu vực bầu
cử. Việc phân bố cử tri ởđây rất
quan trọng. Ngoài ra lối bầu này cũng khuyến khích
lối bầu chiến thuật, với một kết quả
bấp bênh, khi một cử tri bỏ phiếu cho một
ứng viên khác với người mà họưa thích
mà không thể biết chắc rằng những cử tri
khác sẽ bầu ra sao.
Lối bầu cử tuyển chọn (hoặc ưu tiên)
có ưu điểm hơn lối bầu đa số một
vòng ở chỗ bắt buộc ứng cử viên trúng cử
phải đạt được đa số tuyệt
đối của cử tri trong khu vực bầu cử,
điều không nhất thiết phải xảy ra trong lối
bầu cử đa số một vòng. Như thế một
ứng cử viên chỉ có thể đại diện cho
một khu vực bầu cử nếu ứng viên này tối
thiểu đạt được đa số phiếu.
Lối bầu tuyển chọn tuy hơn lối bầu
đa số một vòng ở chỗ đòi hỏi ứng
viên phải nắm vững về sự phân bố lá phiếu,
song nó vẫn gây cản trở cho các đảng về
thứ ba hoặc thứ tư trong cuộc bầu cử,
là nhữngđảng có số cử tri hỗ trợ
tuyđông nhưng lại nằm rải rác.
Lối bầu chuyển nhượng cho phép những
đảng yếu vẫn có thể có đại diện.
Song, tính chất tỷ lệ (số ghế) trong lối
bầu này phụ thuộc vào độ lớn của
khu vực bầu cử và biến thiên thuận với
độ lớn này. Ngoài ra các cảm tình viên của một
đảng vẫn có thể chọn lựa giữa những
ứng viên do đảng này đưa ra. Ngược lại
độ lớn của khu vực bầu cử cũng là
một vấn đề, chẳng hạn sự gắn bó
giữa dân biểu và cử tri trong một khu vực có
quyền có một ghế sẽ giảm đi. Sau hết
cũng nên nói rằng phương thức để phân
phối số phiếu của những ứng cử viênđạtđược
ít phiếu nhất cho những ứng cử viên khác là
một bài toán rất phức tạp.
Lối bầu theo danh sách có thể xem như một thể
thức tạo ra bình đẳng gần như hoàn toàn
giữa các lá phiếu cử tri và nhờ đó mà việc
phân phối các ghế dân biểu cho các chính đảng
tùy theo lượng phiếu mà họ đạt
được có thể thực hiện một cách tốt
nhất. Nhưng thể thức này có một vài yếu
điểm: một mặt những dân biểu sẽ
không còn phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước
một nhóm cử tri định sẵn nào đó, mặt
khác cử tri (và cả những ủng hộ viên) cũng
không thể ảnh hưởng gì lên thứ bậc trên
danh sách ứng viên của các đảng được
nữa. Hậu quả là chính bộ máy đảng -chứ
không phải cử tri- quyết định việc chọn
lựa các ứng viên. Bù lại lối bầu theo danh
sách mở khả năng và tạo thuận lợi cho việc
thiết lập các danh sách ứng cử viên "cân
đối" lưu tâm đến những khuynh hướng
và các nhóm xã hội khác nhau hoạtđộng trongđảng.
Lối bầu hỗn hợp sẽ dẫn đến các
kết quả trong đó tính tỷ lệ sẽ bị
phụ thuộc vào số phần trăm dân biểu
đắc cử trong khu vực bầu cử,
tương tự như lối bầu đơn danh. Lối
này, trong trường hợp một đảng được
ủng hộ mạnh mẽ, cũng có thể dẫn
đến một chính quyền đa số, hoặc
ngược lại trong trường hợp mà số phiếu
được phân chia đồng đều hơn giữa
các đảng, sẽ dẫn đến một chính quyền
liên minh. Mặc dù lối bầu hỗn hợp chỉ
định hai loại dân biểu, trong đó có một
loại dân biểu bị gắn bó với khu vực bầu
cử, nhưng cũng không tránh được các yếu
điểm đã nêu của lối bầu theo danh sách.
Những người ủng hộ cho lối bầu hỗn
hợp cho rằng người ta có thể khắc phục
những yếu điểm này bằng cách đưa những
ứng viên đã thất cử trong vòng bầu
đơn danh vào danh sách ứng viên (chung) và buộc các
dân biểu đãđắc cử qua danh sách phải chịu
trách nhiệmđặc biệt về khu vực bầu cử
của mình.
30.
Hình thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?
Những người
bênh vực lối bầu cử đại diện theo tỷ
lệ cho rằng lối bầu lấy đa số và lối
bầu tuyển chọn không được dân chủ bởi
những cách ấy không đối xử công bằng với
mọi lá phiếu của người dân, xem một số
có trọng lượng hơn số khác. Vì hai lối bầu
sau không tôn trọng sự bình đẳng chính trị,
là nguyên tắc dân chủ căn bản nhất, nên
đã dẵn đến việc thành lập các chính phủ
chỉ đại diện cho một thiểu số cử
tri, nhiều khi là một thiểu số rất nhỏ nữa.
Ngược lại, những người chống lối
bầu đại diện theo tỷ lệ lại cho rằng,
vì trên thực tế mỗi chính đảng khó có thể
đạt được đa số tuyệt đối
nên lối bầu tỷ lệ đương nhiên dẫn
đến những liên minh cầm quyền.
Do đó dân chúng sẽ bị các lãnh
tụ của các chính đảng tước mất quyền
chỉ định chính phủ, làm giảm sức mạnh
của dân chúng trong việc kiểm soát chính phủ và
trong việc đòi hỏi chính phủ phải chịu
trách nhiệm về các hành động của mình. Một
chính phủ liên minh có thể ban cho những chính đảng
nhỏ nhiều đặc quyền để câu họ,
nhất là khi những chính đảng này giữ vị
trí then chốt giữa hai khuynh hướng tả và hữu
quá mạnh. Người ta có thể trả lời cho
phía chống đối rằng những chính đảng
tham gia chính phủ liên minh phải thông báo cho cử tri của
họ biết về những quyết định của
liên minh cầm quyền và những lực lượng
ở giữa (hai khuynh hướng tả và hữu) không
thể nào không quan tâmđến sự hoán chuyển khối
lượng phiếu cử tri giữa cácđảng
khuynh tả và khuynh hữu trong các cuộc bỏ phiếu.
Lại một lần nữa, chúng ta khó tách bạch vấn
đề trên lý thuyết mà không lưu ý đến những
đặc thù quốc gia. Lịch sử cận đại
đã cho thấy rõ những sai lầm của lối bầu
cử một vòng lấy đa số được áp dụng
ở Anh Quốc cũng như những thiếu sót của
lối bầu cử theo tỷ lệ đơn thuần
xảy ra ở Ý Ðại Lợi. Một hệ thống bầu
cử -nếu muốn việc áp dụng được
phổ cập- cần phối hợp những ưu
điểm của lối bầu đa số với với
một tỷ lệ đối trọng cân đối,
trong đó liều lượng của mỗi hệ thống
phụ thuộc tình trạng của các chínhđảng và
nhữngđiều kiện tổng quát ghi trong hiến
pháp.
31.
Làm thế nào để bảo đảm sự công bằng
trong diễn tiến bầu cử?
Sự công bằng
trong bầu cử có thể bị xâm phạm nghiêm trọng
bằng ba cách sau đây.
Thứ nhất,
chính đảng hoặc liên minh cầm quyền có thể
dùng ưu thế quyền lực để xâm phạm
công bằng. Ðây là một hiện tượng rất phổ
biến mà chúng ta có thể dùng một số biện
pháp để hạn chế tai hại. Biện pháp quan
trọng nhất là ủy nhiệm cho một ủy ban bầu
cử độc lập -được sự chấp nhận
của tất cả các chính đảng- công việc kiểm
soát toàn bộ diễn trình bầu cử, từ việc
làm thẻ bầu cử, việc lên danh sách cử tri, việc
tổ chức đợt vận động và việc bỏ
phiếu, đến việc kiểm phiếu. Ðặc biệt,
nếu không có sẵn một ủy ban độc lập
để giám sát về truyền thanh truyền hình,
ủy ban bầu cử cũng phải có trách nhiệm
điều hòa sự xuất hiện của các chính
đảng trên các phương tiện truyền thông
đại chúng trong thời gian vận động bầu
cử. Ðiểm quan trọng là luật pháp phải cấm
mọi sự nhập nhằng giữa chức vụ trong
đảng và chức vụ trong chính quyền. Trong trường
hợp này tất cả các bộ trưởng phải từ
bỏ toàn bộ nhiệm vụ và đặc quyền dành
cho chức vụ trong suốt thời gian vận động,
trừ những thứ cần thiết để duy trì
trật tự công cộng.
Ðe dọa thứ
nhì đến sự công bằng trong bầu cử là những
hành vi gian lậu của những đảng viên hoặc
cảm tình viên của các chính đảng qua tham
nhũng, hăm dọa, bôi nhọ nhân cách, phiếu giả,
v.v... Người ta có thể chận đứng các hành
vi này bằng cách giao cho một bộ phận đặc
biệt gồm các nhân viên cảnh sát và những viên chức
có trách nhiệm về công tác bầu cử khác nhiệm
vụ bảo đảm an ninh cho các ứng cử viên
và bảo đảm tính hợp thức của tiến
trình bầu cử. Trên tinh thần đó, phải chú trọng
đặc biệt đến phẩm chất của các
viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử;
Việc chỉ định cũng như đào tạo họ
phải nằm trong thẩm quyền của ủy ban bầu
cử quốc gia. Sự hiện diện của những
quan sát viên quốc tế dày dặn kinh nghiệm cũng
vô cùng ích lợi; Người ta cần phải kêu gọi
họ làm công việc giám sát một cách công tâm để
các công tác bầu cử được tiến hành
đúng cách và họ cần truyền bá những cách thức
bầu cử thích hợp nhất đã được
áp dụng trong các cuộc bầu cử toàn quốc tại
các nước dân chủ.
Sau hết sự công bằng trong bầu
cử có thể bị xâm phạm khi những ứng cử
viên nhờ có nhiều tiền của riêng hoặc khi những
chính đảng nhờ được các thế lực
tài chính lớn yểm trợ mà dành được lợi
thế. Cách giải quyết đơn giản nhất là
giới hạn gắt gao việc chi tiêu bầu cử
-trên bình diện quốc gia hoặc địa
phương- của các ứng cử viên hoặc của
các chính đảng cho chính họ hoặc cho những việc
đem lợi lại cho họ: Ngoài ra mọi ứng cử
viên hoặc chính đảng phải được tự
do lên các phương tiên truyền thôngđại chúng
như nhau, theo thể thứcđược ủy ban bầu
cử thông qua.
Trong số những ảnh hưởng ít nghiêm trọng
hơn đến sự công bằng trong diễn trình bầu
cử người ta phải kể đến những cuộc
thăm dò dư luận tại một số quốc gia.
Một số quốc gia có luật cấm loan báo kết
quả thăm dò dư luận trong tuần lễ trước
ngày bầu cử hoặc trong cả thời gian vận
động. Biện minh cho quyết định này, người
ta cho rằng những cuộc thăm dò dư luận sẽ
tác động đến đến kết quả bầu
cử: hoặc nó sẽ tạo ảnh hưởng nhân rộng
hoặc ngược lại nó khiến cử tri có thái
độ bác bỏ. Ngoài ra người ta còn cho rằng
những cuộc thăm dò dư luận có thể gây
ảnh hưởng đồi bại đến những
cử tri chỉ thích nghe chuyện được thua, mất
mát do kết quả bầu cử gây nên. Song le, phần
đông những chuyên gia đều không tin việc thăm
dò dư luận sẽ ảnh hưởng đến quyết
định của cử tri cũng như họ không tin
vào tác dụng của việc cấm thăm dò vì ngày
nay người ta càng dễ tìm hiểu mọi vấnđề
qua các phương tiện truyền thông quốc tế.
32.
Công quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng
không?
Những người
muốn công quỹ tài trợ cho các chính đảng cho
rằng vì chính đảng đóng một vai trò then chốt
trong sự hoạt động của một chính thể
dân chủ nên cần nâng đỡ tài chính cho các chính
đảng, và ngoài ra, một sự hỗ trợ của
công quỹ sẽ giảm bớt ảnh hưởng của
những nhóm quyền lợi có thế lực đối
với các chính sách. Những chính đảng có thể
nhận được tài trợ theo tỷ lệ phiếu
nhận được trong các cuộc bầu cử cấp
quốc gia. Những nhóm nào đòi tước quyền dân
sự và quyền chính trị của một nhóm công dân
hoặc đã phạm tội gian lậu bầu cử sẽ
không được nhận tài trợ.
Những người
chống việc tài trợ cho rằng những chính đảng
chỉ thực sự đóng tốt vai trò phản ánh dư
luận quần chúng nếu họ độc lập về
mặt tài chính với các cơ quan quyền lực. Sự
độc lập này chỉ có được nếu các
chính đảng được tài trợ bởi những
nguồn tiền đóng góp tự nguyện. Các chính
đảng sẽ phải cố gắng giành lấy sự
tín nhiệm của dân khi chính họ phải chạy tiền
để trang trải chi phí hoạt động. Ngoài ra
nếu muốn hạn chế ảnh hưởng bất
chính của những nhóm quyền lợi, người ta
có thể bắt các chính đảng phải kê khai mọi
món tiền ủng hộ vượt quá một giới hạn
nào đó hoặc bắt các nơi muốn quyên tiền
phải lấy sự chấp thuận của những
thành viên hoặc cổ đông.
Tại các nước có truyền thống
dân chủ vững chãi, các chính đảng thường
được tài trợ bởi những món tiền
đóng góp tự nguyện, cho dù rằng Nhà nước
có thể tài trợ ở mức độ giới hạn
nhất định cho các hoạt động được
quy định thật rõ ràng, thí dụ như cho việc
đào tạo cán bộ đảng hoặc cho phép sử
dụng miễn phí các phương tiện truyền thông
đại chúng trong các cuộc vận động bầu
cử. Sự hỗ trợ tài chính có thể đặc
biệt hữu dụng tại những nước
đang chuyển tiếp để xây dựng chế
độ dân chủ, khi không mấy người dân biết
đến luật lệ tranh cử hoặc phải xây dựng
lại toàn bộ hệ thống chínhđảng tại
những nước đó.
33.
Có nên cho các dân biểu thay đổi đảng tịch
giữa 2 kỳ bầu cử không?
Không nên. Khi
ra trình diện cử tri dưới một nhãn hiệu
chính trị nhất định nào đó, ứng cử
viên phải có bổn phận ủng hộ đảng của
mình trong suốt nhiệm kỳ quốc hội. Nếu
không, phương cách dùng bầu cử để phân biệt
các chương trình và khuynh hướng chính trị sẽ
mất mọi ý nghĩa.
Trong chế độ bầu cử dựa
trên khu vực cử tri, những dân biểu nào muốn
đổi đảng tịch đều phải từ
nhiệm và ra ứng cử trở lại trong một cuộc
bầu cử riêng rẽ. Trong chế độ bầu cử
dựa theo lối bầu danh sách, người dân biểu
muốn đổiđảng tịch chỉ cần từ
nhiệm và nhường ghế dân biểu cho người
kế tiếp trong danh sách củađảng cũ.
34.
Các cử tri có quyền hành gì giữa hai kỳ bầu
cử?
Người
ta sẽ vô cùng sai lầm khi cho rằng các cử tri hoàn
toàn bất lực giữa hai kỳ bầu cử vì họ
chỉ có thể biểu lộ ý kiến chính trị bằng
cách bỏ phiếu khoảng bốn năm một lần
mà thôi. Người quên rằng những đảng cầm
quyền lươn luôn nghe ngóng dư luận vì sợ sẽ
bị cử tri chất vấn trong kỳ bầu cử tới.
Nói cách khác, sự thất cử là nỗi sợ ám
ảnh thường xuyên người cầm quyền. Ðiều
này càng được thấy rõ hơn trong những quốc
gia áp dụng lối bầu đa số, khi sự thất
bại của đảng cầm quyền ở một
địa phương có thể dẫn tới việc
định hướng lại đường lối chính
trị của chính quyền (trung ương), kể cả
việc cải tổ lại nội các.
Ngoài ra, cử trị còn có vô số
các phương tiện để ảnh hưởng lên
chính quyền về một số lãnh vực và giữa
hai ký bầu cử. Họ có thể gia nhập những
nhóm tạo áp lực hoặc hiệp hội, tham gia các
chiến dịch vậnđộng quần chúng, tiếp
xúc với các dân biểu của họ và các nhân viên
chính phủ, tham gia các cuộc biểu dương lực
lượng, v.v... Sau hết, họ có thể dùng các phương
tiện truyền thôngđể thường xuyên phát biểu
ý kiến và tập hợp lực lượng.
35.
Trong chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng
hình thức trưng cầu dân ý?
Tại đa
số các quốc gia dân chủ, những dự án nhằm
sửa đổi hiến pháp hoặc những dự luật
có ảnh hưởng đến hiến pháp đều
phải thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, nhiều
khi còn đòi hỏi phải được thông qua với
đa số tuyệt đối các cử tri. Người
ta lý luận rằng hiến pháp thuộc về toàn dân
chứ không thuộc riêng các nghị viện hoặc các
chính phủ nhất thời. Do đó mọi thay đổi
phải được người dân trực tiếp
thông qua.
Nhưng nếu
mở rộng ra hơn nữa thì việc xin ý kiến
dân chúng về những vấn đề chính trị
chung chung hoặc về những dự luật căn bản
qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn còn là một
vấn đề gây tranh cãi. Phe ủng hộ cho rằng
phương cách trưng cầu dân ý là một phương
tiện chính yếu trong đời sống dân chủ
giúp cho người dân có ý kiến trực tiếp về
những vấn đề hệ trọng, nếu không sẽ
chẳng có ai để ý đến những vấn
đề này hoặc chúng sẽ bị vùi giấu trong
những lời tuyên bố ứng cử chung chung của
một chính đảng.
Còn phe chống
đối lại cho rằng, một khi đã ý thức
được sự liên quan đan cài giữa những
vấn đề được đem ra cho công chúng
phân xử (thí dụ như liên quan giữa các chính sách
về thuế và ngân sách), thì quả là khiên cưỡng
khi đem tách một vấn đề ra khỏi bối cảnh
chung của nó hoặc khi cho rằng các dân biểu không
có quyền quyết định về một số vấn
đề nào đó (trong khi họ lại được
quyết định về mọi vấn đề khác).
Do đó, việc trưng cầu dân ý,
trên thực tế, là một dấu hiệu của sự
bất tín nhiệm chế độ đại diện cửa
tri, và thay vì gia tăng trách nhiệm cho các dân biểu
thì người ta lại còn làm giản nóđi.Ðây là một
vấnđề mà ta không thể trả lời một
cách rõ ràng là khi nào thì nên hoặc không nên. Các quốc
gia dân chủ sẽ phải tự tìm lấy câu trả
lời thích ứng dựa trên tập quán chính trị của
nước họ.