Nguyên Tắc Dân Chủ
(2/4)
Mục tiêu dân chủ phải được hướng dẫn bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi nỗ lực dân chủ.  Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực hiện hoặc dễ thất bại khi nhân tố tham chính  (cộng-sản hay không-cộng-sản) mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ Do đó trong quan niệm ‘vấn nạn hiện thực không phải là chấp nhận tư tưởng dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng và hành động phản-dân-chủ’  Diễn đàn Dân Chủ cố gắng giới thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu tư đến tương lai dân tộc có thể suy luận  để so sánh  phủ định quan điểm và  hành động phản-dân-chủ  bởi vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công  cơ chế quốc trị dân chủ quy phục và phụng sự nhân dân trong tương lai trên nền tảng tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp tục phát triển nhờ vào cơ chế dân chủ khai phóng tiềm năng đóng góp của toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo hèn bởi thành phần lãnh đạo độc tài mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần tài liệu Các vấn đề dân chủ sau đây  trình bày nhiều đề tài khả dụng như  định chế dân chủ,  vai trò chính đảng,  truyền thông,  luật pháp, kinh tế thị trường, trách nhiệm của chính quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản, quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn.


 

II. Những cuộc bầu cử tự do và công bằng

16. Tại sao những cuộc bầu cử lại quan trọng?

Trên phạm vi quốc gia những cuộc bầu cử có 2 nhiệm vụ. Một mặt phương cách bầu cử cho phép chọn lựa người cầm đầu chính quyền hoặc bộ máy hành chính và từ đó chọn lựa chính sách mà chính quyền đó dự định thực hiện. Mặt khác những cuộc bầu cử còn cho phép chỉ định những dân biểu trong viện dân cử hoặc quốc hội, là những người -nhân danh dân chúng- có nhiệm vụ biểu quyết về luật lệ, quyết định về thuế khóa và kiểm soát các hoạt động của chính phủ. Trong tổng thống chế với một tổng thống đứng đầu chính quyền thì hai nhiệm vụ vừa nêu được tách bạch, những cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội được tiến hành riêng rẽ, mặc dù thời gian có thể trùng nhau. Trong một chế độ dựa vào thủ tướng hay trong quốc hội chế, người ta chỉ cần tổ chức một cuộc bầu cử để hoàn tất cả hai nhiệm vụ trên vì các cử tri đã giao quyền điều hành chính phủ cho chính đảng chiếm đa số ghế trong quốc hội.

Việc bầu cử định kỳ để chọn người vào các trách vụ chính thức theo một diễn trình minh bạch và mang tính tranh đua là một trong những phương tiện kiểm soát hữu hiệu của dân chúng trong một chế độ dân chủ đại nghị. Bầu cử là sự minh xác rằng quyền lực chính trị thuộc về người dân và quyền lực này được thi hành dưới sự ủy nhiệm của dân và xác định rằng những chính khách phải chịu trách nhiệm về hoạt động của họ trước dân chúng. Về điểm cuối vừa nêu, việc tước bỏ chức vụ là cách tốt nhất để bảo đảm rằng những người được bầu sẽ phải hoàn thành nhiệm vụđược giao phó. Chính khả năng này cho phép bảođảm chất lượng của các chức trách chính trị và tùy tình thế thực hiện sựđổi mới nhân sự cũng như các chính sách trên bình diện chính quyền.

17. Nguyên thủ quốc gia có cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử không?

Nguyên thủ quốc gia được chú ý bởi vai trò vô cùng trang trọng và nhiều tính biểu tượng của họ. Vai trò này biểu tượng cho sự thống nhất của quốc gia vượt lên trên mọi tranh chấp đảng phái, cho sự liên tục nằm ngoài sự thay đổi của các chính quyền vắn số và cho sự hiện diện thường trực của hiến pháp so với bản chất hữu hạn của các nhiệm kỳ. Vai trò biểu tượng này sẽ vô cùng quan trọng khi quốc gia gặp khủng hoảng hoặc có những tranh chấp liên quanđến hiến pháp. Trong những trường hợp khó khăn ấy, vị nguyên thủ quốc gia sẽ phải sử dụngđến uy quyềnđặc biệt của mình.

Trong tổng thống chế vị tổng thống đắc cử kiêm nhiệm cả vai trò danh dự của một nguyên thủ quốc gia lẫn vai trò của một người cầm đầu chính phủ. Ðó là trường hợp của Nga, Hoa Kỳ và đa số các quốc gia tại Nam Mỹ. Trong quốc hội chế, thông thường vị nguyên thủ quốc gia được bầu qua một cuộc tổng tuyển cử hoặc bởi quốc hội và không có quyền lực hành pháp. Ðó là trường hợp của Ðức, Ái Nhĩ Lan và Ấn Ðộ. Trong chế độ quân chủ lập hiến như tại Bỉ, Tây Ban Nha và Anh Quốc, vị nguyên thủ quốc gia được chỉ định bằng tính kế thừa và thi hành chức vụ này trọn đời.

Khó mà nói thể chế nào cho phép chỉ định nguyên thủ quốc gia một cách tốt nhất. Thật ra mỗi thể chế phảiđược hiểu trong cái tổng thể của nó. Tổng thống chế có nhượcđiểm là lôi kéo vị nguyên thủ quốc gia vào những tranh luận về cáchđiều hành quốc gia hoặc bắt vị này gánh chịu một phần trách nhiệm trong những chính sách mất lòng dân

18. Còn những người ở chức vụ nào khác cần được chọn qua một cuộc tổng tuyển cử?

Vì người đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm trước quốc hội về hành động và về khả năng của các nhân viên chính phủ, và do người đứng đầu hành pháp được dân bầu lên, cho nên việc để cho người đứng đầu hành pháp tự chọn nhân viên của mình sẽ hợp lý hơn việc tuyển chọn qua một cuộc bầu cử, với điều kiện việc tuyển mộ phải lưu tâm đến mọi người có khả năng thích ứng. Song, trong việc tổ chức các cơ quan công quyền, thể chế dân chủ đòi hỏi phải có sự hiểu biết những nhu cầu thực tế và về bối cảnh phát triển của địa phương. Ðiều này nói lên sự cần thiết phải bầu ra những cơ cấu để giám sát việc điều hành một số các lãnh vực như sức khỏe, giáo dục, cảnh sát, v.v... trên bình diện địa phương và để chịu trách nhiệm điều hành tất cả công việc địa phương. Việc tản quyền này thể hiện rõ trong cơ chế liên bang, khi trên bình diện tiểu bang, các tỉnh và các địa phương người ta tìm lại được những cấu trúc lập pháp và hành pháp tương ứng với cấu trúc của liên bang.

Ðứng trước câu hỏi liệu có cần phải bầu ra các quan tòa hay không, người ta dễ có khuynh hướng trả lời rằng nếu các vị đại biểu lập pháp và vị đứng đầu hành pháp đã được dân bầu, thì dĩ nhiên cũng phải để dân bầu những quan tòa. Song le, vì các quan tòa phải thi hành các nhiệm vụ pháp lý (chứ không phải là chính trị) -những nhiệm vụ chủ yếu dựa trên các nguyên tắc như sự gắn bó chặt chẽ (với luật pháp) và sự vô tư (không phụ thuộc vào sự đánh giá của quần chúng)- nên tốt hơn hết là không nên để cho những trách vụ này phải chịu sự phán quyết của dân chúng hoặc để chúng dễ bị phụ thuộc vào một phe nhóm nào đó của xã hội. Trong quyền hạn của mình, chính quốc hội phải làm sao để những đạo luật (mà các quan tòa áp dụng) và mức án (mà quan tòa tuyên bố) phản ánh được dư luận quần chúng chứ không phải phản ánh tâm trạng của những người xử án. Tóm lại cách chọn quan tòa là một vấn đề quan trọng của dân chủ, đặc biệt khi việc tuyển chọn này làm thiệt hại đến các nhóm có số lượngđôngđảo trong xã hội như phụ nữ, dân tộc thiểu số hay các nhóm thiểu số khác.

19. Có cần bầu một nghị viện thứ hai không?

Muốn biện bạch cho việc cần bầu một nghị viện thứ hai (bầu theo những tiêu chuẩn hoàn toàn khác với quốc hội) người ta có thể viện dẫn lý do cần giám sát quốc hội càng kỹ càng tốt và ủng hộ nó càng nhiều càng hay. Lý luận này đặc biệt đúng trong một chế độ liên bang với một thượng viện đại diện cho quyền lợi của các tiểu bang thành viên chứ không đại diện cho quyền lợi của quốc gia trong tổng thể của nó. Trên bình diện lập pháp, thượng viện đóng vai đối trọng, rất cần thiết trong một quốc gia mà quyền cá nhân không được bảo vệ bởi Hiến pháp.

Nói chung, hai nghị viện sẽ được bầu theo hai phương thức khác nhau. Thượng viện được bầu theo thể thức gián tiếp hay bầu dựa trên một sự phân chia khu vực bầu cử khác hẳn hay theo một lịch trình bầu cử khác để có thể thay đổi một phần các nghị sĩ trong thượng viện trong mỗi kỳ bầu cử. Trong các quốc gia theo quốc hội chế việc để cho cả nước trực tiếp bầu lại tất cả dân biểu trong hạ viện đã tạo nên bảo đảm cho tính chính đáng của quốc gia về phương diện điều hành quốc gia và giao cho hạ viện một vai trò ưu tiên trong việc soạn thảo luật pháp. Tốt hơn hết cần giao cho thượng viện quyềnđình chỉ hoặc quyền phủ quyết. Trong chếđộ dân chủ không có gì có thể biện minhđược cho sự thành lập một thượng viện mà không thông qua bầu cử.

20. Chu kỳ của các cuộc bầu cử

Ở thế kỷ 19 những nhà dân chủ cố chấp đã đòi hỏi phải cho bầu cử quốc hội mỗi năm một lần để có thể kiểm soát những dân biểu một cách hữu hiệu. Song, với nhiệm vụ ngày nay, trong vòng một năm, chính quyền và quốc hội không thể điều hành hữu hiệu về kinh tế cũng như không thể đánh giá tác dụng của các chính sách được họ vạch ra. Thông thường người ta cho rằng một nhiệm kỳ 4 năm là một thỏa thuận hợp lý giữa một bên là sự liên tục cần thiết của các chính quyền và một bên là những nguyên tắc buộc chính quyền phải tôn trọng nguyện vọng của người dân và chịu trách nhiệm trước người dân.

Nhiệm kỳ của các vị dân cử dù dài dù ngắn thế nào chăng nữa, vấn đề quan trọng là quyết định kêu gọi toàn quốc đi bầu không được xuất phát từ chính phủ. Ðòi hỏi các cuộc bầu cử phải "tự do và bình đẳng" cũng có nghĩa là (một hoặc những) chính đảng đang cầm quyền không được kiểm soát diễn trình bầu cử và khôngđược dùng nóđể chiếm lợi thế. Ðiều này cũngđược áp dụng cho lịch bầu cử cũng như các thức tiến hành bầu cử .

21. Có cần phải giới hạn quyền bầu cử không?

Trong đa số các quốc gia dân chủ việc giới hạn quyền bầu cử thường chỉ được áp dụng đối với trẻ em, với những người bị kết án hình sự, những bệnh nhân tâm thần và người ngoại quốc. Ðây là một tập hợp không đồng nhất của những nhóm người không được quyền bầu cử vì lý do riêng biệt cho từng trường hợp.

Ðối với các trẻ em chưa đủ một tuổi nào đó, việc loại trừ mang ý nghĩa tốt và dựa trên lý do tâm lý liên quan đến sự phát triển của các em. Trước một tuổi nào đó, vì đa số các em chưa có đủ kinh nghiệm và chưa ý thức được đầy đủ về hậu quả lâu dài của những chọn lựa của mình, nên chưa thể miễn cho các em việc cần được bảo hộ tốt. Tại nhiều nước, khi đạt đến một tuổi nào đó, các em sẽ nhận được một số quyền của người trưởng thành: quyền hôn nhân, quyền sở hữu, quyền có tư cách pháp nhân trong kiện tụng và quyền bầu cử. Việc công nhận các quyền này thường đến với tuổi 18, tương ứng với việc học xong trung học và việc thi hành nghĩa vụ quân dịch.

Dù sao việc định độ tuổi trưởng thành cũng chỉ là một chọn lựa hoàn toàn tùy tiện. Ngày nay ai cũng biết rằng các trẻ em thường chín muồi trước tuổi. Hiện nay các em đã có một số quyền, thí dụ như quyền đi làm được trả lương, ngay cả khi chưa đạt đến 18 tuổi. Ðiều đáng buồn là hiện vẫn còn những em cần phải được bảo vệ trước những người có trách nhiệm đối với các em, và do đó người ta phải mở rộng cho các em quyền có tiếng nói trong những việc liên quan đến cá nhân các em, nhiều hơn là các em hiện nay đang có. Dù sao tiến trình trưởng thành cũng là một tiến trình liên tục, cho nên ngay từ tuổi nhỏ, người ta cần phải sửa soạn cho các trẻ em ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong một xã hội dân chủ bằng cách cho các em tham gia vào những quyết định được lấy một cách tập thể trong môi trường học đường hoặc gia đình. Dù sao những suy nghĩ này cũng chưa đủ thuyết phục để hạ thấp một cách đáng kể mức tuổi được đi bầu -như mức 18 tuổi hiện nay- hoặc xóa bỏ đi việc ấn định độ tuổi tượng trưng cho sự công nhận của xã hội về sự trưởng thành cũng như về những quyền dành cho những thanh niên đạt đến độ tuổi đó.

Ðối với những người bị kết án tù, người ta có thể biện minh cho việc tước quyền bầu cử của họ rằng khi đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật thì họ sẽ bị mất mọi quyền tham gia vào việc soạn thảo luật, dù bằng cách nào chăng nữa. Nhưng ngược lại việc mất tự do cũng không thể kéo theo việc mất tất cả các quyền công dân khác và đặc biệt hơn nữa, phải cho tù nhân được liên lạc với những vị dân cử để bảo đảm cho họ quyền được bảo vệ trước những cách đối xử phi pháp và dã man và để giám sát điều kiện giam giữ họ. Tương tự như vậy người ta cần có quan niệm rộng rãi đối với những người bệnh tâm thần bởi không thể xếp họ vào một loại đồng nhất -loại người không còn có ý thức gì được về quyền lợi bản thân.

Cuối cùng chúng ta cần bàn về việc tước quyền bầu cử của những người ngoại quốc đang thường trú trong một nước. Trong trường hợp đặc biệt này quyền bầu cử nằm trong mộ vấn đề rộng lớn hơn là vấn đề nhập tịch. Nếu chúng ta thừa nhận rằng việc khai sinh dân chủ hồi thế kỷ XVIII phát xuất từ việc đặt lại vấn đề các nguyên tắc quân chủ (việc thụ hưởng các quyền chính trị phụ thuộc duy nhất vào yếu tố dòng tộc hoặc sự thừa kế), thì nếu nhất quán chúng ta không được xem quốc tịch là tiêu chuẩn duy nhất để tước quyền bầu cử của những người ngoại quốc đã sống nhiều năm tại một nước nào đó. Người ta có thể tranh cãi nhiều về thời gian cư trú mà một người ngoại quốc cần có để được xem là "ổn cư", nhưng người ta phải thẩm định một cách hợp lý rằng thời gian cư trú dể cho ngoại kiềuđược phép nhập tịch một nước nàođó không thể quá 5 năm.

22. Làm sao thiết lập danh sách cử tri?

Mặc dù người ta có thể nghĩ rằng việc ghi danh lập danh sách cử tri là một công tác hoàn toàn kỹ thuật, nhưng trên thực tế thủ tục ghi danh ảnh hưởng quan trọng đến việc thực thi quyền đầu phiếu. Lập danh sách cử tri trước khi có bầu cử là việc làm cần thiết: danh sách cử tri rất cần để nhận diện từng người đi bầu, để tránh việc có thể bỏ phiếu hai lần hay để ngăn ngừa việc mạo danh một cử tri khác hoặc có thể bỏ phiếu mặc dù không có quyền cử tri.

Tuy nhiên nhiều khi những thủ tục ghi danh đã cản trở người công dân thực hiện việc ghi danh hoặc thực hiện quyền cử tri của họ. Trường hợp này sẽ xảy ra khi việc ghi danh để cho tự nguyện và bị ảnh hưởng bởi đảng viên cuồng nhiệt của các chính đảng muốn dành lợi thế hoặc khi thời hạn khóa sổ ghi danh cách quá xa ngày bầu cử, cho dù vào thời điểm bầu cử danh sách cử tri cần phải được đóng lại. Người dân cũng rất sợ rằng danh sách cử tri sẽ được sử dụng vào các mục đích hành chính khác, chẳng hạn như để kiểm tra tình trạng thuế khóa, nghề nghiệp, gia đình của họ là những dữ kiện mà người dân thường phải cung cấp theo những thủ tục riêng biệt khác.

Một thể thức đáp ứng đúng theo các nguyên tắc dân chủ đòi hỏi việc ghi danh cử tri phải có tính bắt buộc, phải được thi hành bởi một nhân viên chính thức được trả công và được đào tạo để làm việc này, việc cập nhật hóa danh sách cử tri cần thực hiện càng cận ngày bầu cử càng tốt, và những việc này phảiđược thực hiện một cách riêng biệt -về cả phương diện tài chính lẫn cách thức tiến hành-đối với các bộ hồ sơ hành chính khác.

23. Có cần cưỡng chế bầu cử không?

Tại những quốc gia có cưỡng chế bầu cử (thí dụ Úc) người ta cho việc bắt buộc tham gia chọn lựa chính quyền và dân biểu là một lợi quyền giống như một loại nghĩa vụ dân sự. Vì lợi quyền này là kết quả của sự tranh đấu của nhiều thế hệ nên ai muốn bỏ phiếu trắng thì cứ ghi rõ sự từ chối của mình trong danh sách cử tri thay vì lánh xa các cuộc bầu cử giống như những cử tri thờ ơ, vắng mặt hoặc tử vong. Thực ra chúng ta thấy có một cái gì mâu thuẫn khi nêu đòi hỏi cưỡng chế trong một cuộc bầu cử "tự do" hoặc khi bắt người dân phải thi hành "lợi quyền" của chính họ. Nói cho cùng phiếu trắng -một cách biểu lộ quan trọng của dân chúng- là một dấu hiệu cảnh cáo về sự ách tắc của diễn trình dân chủ.

Nhiều nước dân chủ hiện chấp nhận hình thức từ chối tham gia bầu cử. Nhưng nếu đã xem việc bầu cử là tự nguyện, thì liệu nó có mâu thuẫn gì với việc nhiều quốc gia bắt phải thi hành ghi danh cử tri không? Câu trả lời là không, nếu cho phép người dân khi ghi tên vào danh sách cử tri vẫn còn có quyền chọn lựa có tham gia đầu phiếu hay không, vì trên thực tế mỗi quốc gia cũng cần phải có các danh sách cử tri chính xác và đầy đủ để dùng cho các mục đích hoàn toàn hợp pháp về bầu cử, chẳng hạn nhưđểđiều chỉnh con số cử tri giữa các kỳ bầu cử.

24. Tại sao phải bỏ phiếu kín?

John Stuart Mill, một triết gia người Anh theo khuynh hướng tự do, cho rằng cần phải bỏ phiếu công khai để các cử tri có thể biện bạch chọn lựa của họ trước những người khác và để bắt họ phải đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá nhân.

Quan điểm này tuy rất "quý phái" nhưng không được các lý thuyết gia sau ông ủng hộ. Trong khi thi hành, nếu để bầu cử công khai như vậy, các cử tri sẽ ở vào tình trạng khó chống đớ lại các áp lực của các người nắm giữ chức quyền như chủ nhân, sở hữu chủ, giáo sĩ, thượng cấp hoặc dễ bị các ứng cử viên tìm cách mua chuộc lá phiếu của họ. Việc bỏ phiếu kín ngày nay đã là một trong những đặc tính quan trọngđược gắn liền với các chếđộ dân chủ.

25. Ðiều kiện ứng cử

Trên nguyên tắc mọi cử tri đều có quyền ứng cử. Việc một số quốc gia ấn định một độ tuổi nhất định nào đó -trên mức tuổi có quyền đi bầu- để được ra ứng cử là một ấn định thừa thãi vì ứng cử viên nào chưa có đủ kinh nghiệm trong việc điều hành quốc gia thì cũng sẽ khó mà thắng cử được.

Trong khi đó việc quy định tiến trình đề cử và ghi danh ứng cử lại là một vấn đề khác. Ở đa số các quốc gia, khi đòi hỏi rằng ứng cử viên phải được sự ủng hộ của những đại diện cử tri đoàn và/hoặc phải đóng một số tiền "thế chân" nào đó (mà họ sẽ mất nếu không đạt được một số lượng phiếu tối thiểu nhất định), thủ tục bầu cử thực ra chỉ nhằm ngăn chặn các ứng cử viên ngông nghênh. Tuy nhiên cả hai biện pháp nhằm loại bỏ các ứng cử viên "thích mơ mộng" này có một yếu điểm là có thể loại cả một số ứng cử viên đứng đắn, nhất là khi họ thuộc các nhóm chính trị mới thành lập. Một số nước khác, chỉ những ứng cử viên đại diện các chính đảng được công nhận mới có quyền ứng cử. Tại đó, cho dù mục đích là làm nản lòng các ứng cử viên ngông nghênh nhưng phương cách này lại đưa đến hệ quả kiểm soát các chính đảng và các ứng cử viên và do đó giới hạn cả quyền chọn lựa chính đáng của dân chúng.

Tại Hoa Kỳ, mỗi chính đảng chỉ định ứng viên của mình qua một vòng bầu phiếu sơ bộ, trong đó chỉ có những đảng viên có tên trên danh sách cử tri của đảng mới được bỏ phiếu. Nếu phương thức này đã có thể tập trung các cử tri vào việc đề cử và bầu cử thì nó lại tăng giá trị một cách thái quá các cuộc bầu cử (nội bộ đảng) và ưu đãi các ứng cử viên có nhiều tiền của riêng hoặc được các thế lực tài chính lớn ủng hộ. Ðể tránh tình trạng này người ta có thể chỉ định ứng viên qua một cuộc bầu cử dành cho mọi cảm tình viên của đảng tại quận hoặc khu vực đầu phiếu liên hệ. Dù rất khiêm tốn biện pháp dân chủ hóa việc chọn lựa các ứng viên này đến nay vẫn chưa đượcđem ra áp dụng một cách rộng rãi cho xứngđáng với ý nghĩa của nó.

26. Tại sao ít có phụ nữ trong các chức vụ dân cử?

Trong các chế độ dân chủ phương Ðông tỷ lệ phụ nữ trong quốc hội rất thấp so với tỷ lệ phụ nữ trong dân số. Ngay cả tại các nước có truyền thống dân chủ vững chắc tỷ lệ này vẫn dưới 15%: tại Bắc Âu là 35%, Pháp đội sổ với 6%, tại đa số các nước khác khoảng 10%. Tình trạng này bắt nguồn từ những nguyên nhân lịch sử, truyền thống và chính trị. Từ xưa phụ nữ bị xem (do bản chất) là không đủ khả năng hoạt động chính trị, dẫn đến việc tìm cách đưa họ ra xa các loại hoạt động chính trị, để rồi từ đó cho rằng họ không hợp với chính trị. Ðược củng cố thêm bởi sự bất bình đẳng trong việc phân công công việc gia đình (phụ nữ vẫn tiếp tục phải chăm lo con cái và nhà cửa nhiều hơn đàn ông) những di hại tư tưởng này đã cản trở việc phụ nữ hoạt động chính trị chuyên nghiệp để tự nuôi sống lấy mình. Hoạt động chính trị đòi hỏi nhiều thời giờ; giờ giấc của nhân viên chính phủ hoặc dân biểu quốc hội thường không thích hợp với giờ giấc gia đình bình thường. Tóm lại người đàn bà khó đến với các hoạtđộng chính trị một cách tự nhiên, cho dù bản chất có thích hợp với sự cạnh tranh, với những tranh chấpđảng phái và với sự nổi bật cá nhân.

Tình trạng này có đáng lo ngại không? Nếu xét về nguyên tắc bình đẳng chính trị thì thật đáng lo ngại khi một thành phần xã hội nào đó rõ ràng được ưu đãi để chiếm giữ các chức vụ công cộng hoặc dân cử. Người ta rất có lý khi cho rằng đàn ông không thể lưu tâm bằng phụ nữ đến các vấn đề liên quan đến phụ nữ hoặc không ưu tiên để chi tiêu ngân sách đúng mức cho các vấn đề này. Cho dù rằng phụ nữ nói chung có thể không cùng quan điểm và quyền lợi với nhau nhưng đa số đều rất bực dọc khi thấy một quốc hội gồm đa số là đàn ông mà lại làm ra các đạo luật về ngừa thai, phá thai, hiếp dâm, v.v... Tóm lại, khi người phụ nữ, với những khả năng và đặc thù riêng, không có chỗ đứng tương xứng trong đời sống cộng đồng thì chính xã hội trong toàn thể của nó đã bị nghèo nàn đi.

Làm thế nào để sửa chữa tình trạng này? Chúng ta chỉ có thể sửa lại một sự bất bình đẳng chính trị do lịch sử để lại bằng cách thực hiện nhiều biện pháp trong nhiều lãnh vực. Ðể bắt đầu chúng ta có thể thay đổi quan điểm trong các trường học và trong hệ thống giáo dục, gia tăng phương tiện trông giữ trẻ, cải tổ vấn đề tổ chức về thời gian của các dân biểu và sắp xếp các thiết bị dành cho họ sử dụng. Ðặc biệt các chính đảng phải có bổn phận đưa ra những sáng kiến trong vấn đề này để khuyến khích phụ nữ tham gia việc đào tạo họ, dành ưu tiên cho các ứng cử viên phụ nữ bằng cách quy định số phần trăm ghế đại biểu hoặc dành một số chỗ nhấtđịnh cho họ. Những nước Bắc Âuđã cho áp dụng những biện pháp này một cách thành công.

27. Dân biểu được xem là "đại diện" của cử tri trong chừng mực nào?

Về tư cách đại diện chính trị có hai cách diễn giải chính.

Cách thứ nhất dựa trên nguyên tắc "ủy nhiệm" cho rằng dân biểu là người được thân chủ ủy quyền để "thay mặt" cho họ và "hành động thay cho họ". Về một vài phương diện nào đó, vị dân biểu thụ ủy có thể thay mặt toàn thể các thân chủ hoặc cử tri trong địa hạt bầu cử thí dụ như để bảo vệ các quyền lợi địa phương, nói lên quan điểm của cử tri của địa hạt hoặc can thiệp để giải quyết các khiếu nại cá nhân. Còn trong các trường hợp khác, dân biểu thụ ủy chỉ đại diện cho những cử tri nào đã bỏ phiếu cho họ để thực hiện chương trình được đưa ra khi tranh cử (mà không thể đại diện cho những người đã không bỏ phiếu cho họ). Ý kiến cho rằng, trong mọi hoàn cảnh, dân biểu có thể phát biểu và hành động thay cho toàn thể cử tri trong địa hạt bầu cử của họ, là điều giả tưởng bởi nó sẽ trái với những dấn thân cho chương trình mà các dân biểu đã đưa ra khi tranh cử, bao gồm hành động nhất quán cho chương trình này và trách nhiệm để việc thực hiện có hiệu quả.

Cách diễn giải thứ hai về sự đại diện chính trị xuất phát từ quan niệm "tiểu vũ trụ", xem quốc hội như một toàn thể chứ không phải là tập thể các đại diện riêng lẻ. Trong quan niệm này một quốc hội lập pháp mang tính "đại diện chung" bởi nó phản ánh bản chất của cử tri một cách toàn diện về phương diện cấu thành xã hội, phân bố địa lý hoặc phân bố số phiếu dành cho mỗi chính đảng. Dĩ nhiên người ta có thể đặt vấn đề về trọng lượng của từng tiêu chuẩn này. Tuy mọi tiêu chuẩn đều quan trọng nhưng trong một cơ chế mà cử tri phải quyết định chọn lựa giữa những chính đảng có những chương trình họa động chính phủ khác nhau thì tiêu chẩn nào liên quan đến sự cấu thành quốc hội dựa trên trọng lượng phiếu dành cho các chính đảng sẽ là tiêu chuẩn ưu tiên. Cơ chế bầu cử dựa trên nguyên tắc đại diện tỷ lệ là cơ chế thích ứng với tiêu chuẩn này nhất (xx phần 28).

Chúng ta có thể xem rằng hai cách diễn giải dựa trên khái niệm "ủy quyền" và "tiểu vũ trụ" phản ánh hai nguyên tắc dân chủ cơ bản đã đề cập trước đây (xx phần 1). Nguyên tắc về chủ quyền toàn dân (quyền lực chính trị phát xuất từ nhân dân và các quyền lực lập pháp và hành pháp phải đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân) được thể hiện qua khái niệm cho rằng dân biểu là người được cử tri ủy nhiệm để thay mặt họ mà hành động, cũng như phải chịu trách nhiệm trước cử tri và có thể bị cử tri bãi chức. Cách diễn giải thứ hai về quyền đại diện dựa trên khái niệm "tiểu vũ trụ" tương ứng với nguyên tắc bình đẳng chính trị, nghĩa là mỗi lá phiếu đều có trọng lượng hoặc giá trị như nhau -không phụ thuộc vào chỗ ở của cử tri hoặc sự ủng hộ một chính đảng nào đó của họ. Vì nguyên tắc này phải chịu một sự giám sát kỹ lưỡng mà quốc hội có thể được xem như một tiểu vũ trụ đại diện cho toàn thể cử tri, tôn trọng sự phân bố về mặtđịa lý của cử tri cũng như sự phân bố về phiếu dành cho các chính đảng.

28. Sự khác biệt của các lối bầu cử

Hiện nay các nước trên thế giới đang cho áp dụng các lối bầu cử rất khác nhau. Dưới dây, 5 lối chính sẽđược trình bày một cách khái quátđể làm cơ sở suy xét cho phần 29.

(i) Lối bầu đơn danh một vòng lấy đa số (áp dụng trong việc bầu quốc hội Hoa Kỳ, tạiđa số các quốc gia Nam Mỹ, Anh Quốc và phần lớn các nước cựu thuộcđịa)
Theo lối bầu cử này quốc gia được chia thành những khu vực có số cử tri tương đương với nhau. Mỗi khu vực chỉ được một ghế dân biểu và mỗi cử tri chỉ được bầu cho một ứng cử viên bằng lá phiếu của mình. Ứng cử viên được nhiều phiếu nhất sẽ thắng, bất kể có đạt được đa số tuyệtđối hay không.

(ii) Lối bầu tuyển chọn hoặcưu tiên (áp dụngđể bầu Hạ viện Úc)
Theo lối bầu cử này các khu vực cử tri cũng được chia như lối trên. Chỉ có khác là cử tri sẽ sắp xếp các ứng cử viên theo thứ tự ưu tiên. Khi tổng kết, nếu số phiếu dành cho các ứng cử viên có ưu tiên một không đưa đến kết quả là có một ứng viên nào đạt được đa số tuyệt đối thì ứng viên ít phiếu nhất sẽ bị loại và số phiếu dành cho người này sẽ được đem chia cho các ứng viên được xếp thứ nhì trên phiếu xếp ưu tiên. Thủ tục này sẽ được tiếp tục cho đến khi tìm ra được một ứng viên đạt được đa số tuyệt đối. Người ta cũng có thể đi đến kết quả tương tự bằng cách tổ chức bầu vòng hai giữa hai ứng viênđạt nhiều phiếu nhất trong vòng một (như tại Pháp).

(iii) Lối bầu duy nhất có thể chuyển nhượng (áp dụng tại Ái Nhĩ Lan, Malta và cho bầu cử Thượng viện Úc)
Theo lối này, tại mỗi khu vực cử tri có thể bầu từ ba đến bảy ghế đại diện theo tỷ lệ tương ứng với dân số. Mỗi cử tri sẽ có một số lá phiếu bằng số ghế đại diện và sẽ phải chọn một thứ tự ưu tiên. Muốn trúng cử mỗi ứng cử viên phải đạt được một hệ số (theo tỷ lệ cử tri) nào đó. Những ứng viên nào không đạt được hệ số đó qua những phiếu bầu có ưu tiên một, thì sẽ được tính đến số phiếu cóưu tiên hai hoặc thấp hơn nữa dành cho họ theo một công thức tái phân phối phiếuưu tiên.

(iv) Lối bầu danh sách (áp dụng tại Do Thái vàđa số các quốc gia Ðông Âu)
Theo lối này mỗi chính đảng phải lập danh sách ứng viên (được xếp theo thứ tự ưu tiên) cho vùng hoặc cho toàn quốc. Mỗi cử tri chỉ có một phiếu để bầu cho chính đảng mình ưa thích. Các ứng viên trên danh sách thứ tự sẽ trúng cử tùy theo tỷ lệ phiếu dành cho đảng của mình. Ở một vài quốc gia, các chính đảng phải đạt được một số phiếu tối thiểu nào đóđểđược vào quốc hội.

(v) Lối bầu hỗn hợp (áp dụng tại Ðức, Hung Gia Lợi và Tây Tây Lan)
Theo lối bầu này một số đại diện (dưới 50%) sẽ được chọn trực tiếp qua lối bầu phiếu đơn danh lấy đa số đã được trình bày trong điểm (i) và (ii) ở trên. Số đại diện còn lại sẽ được chọn theo lối danh sách, theo vùng hoặc toàn quốc, sao cho trong kết quả cuối cùng nói lên tương ứng giữa số ghế và số phiếu dành cho đảng của họ (càng gần với tương ứng này càng tốt). Trong lối này người ta cũng có thể quy định rằng, muốn hiện diện trong quốc hội, mỗi chính đảng phải đạtđược một mức phiếu tối thiểu nàođó.

29. Ưu và khuyết điểm của các lối bầu cử

Chỉ có thể đánh giá đúng được những ưu điểm của từng lối bầu cử nếu đặt chúng trong khung cảnh của đặc điểm và sự phân bố dân số trong quốc gia liên hệ cũng như trong sự quan tâm về bầu cử của những chính đảng tại quốc gia đó. Do đó sẽ rất sai lầm khi cho áp dụng lối bầu tỷ lệ cho một quốc gia hoàn toàn không có những chính đảng đã bắt rễ được vào quần chúng, trong khi mà sự phân bố phiếu của dân chúng cho các lực lượng tương ứng lại chính là tinh thần của lối bầu tỷ lệ. Do đó sự đánh giá sau đây không nhằm mục đích trình bày những đặc điểm chung của các lối bầu phiếu khi không xét đến những hậu quả của việc áp dụng.

Ưu điểm của lối bầu đa số một vòng là sự đơn giản. Hơn hẳn các lối khác, lối bầu này cho phép một chính đảng chiếm được đa số trong quốc hội và cho phép chính đảng này cầm quyền một mình. Nó khuếch đại sự ủng hộ của dân chúng đối với chính đảng quan trọng nhất. Và lối bầu này cũng cho phép những tiếng nói yếu thế có thể chuyển dịch để làm thay đổi đa số và dẫn đến sự thay đổi chính phủ, mặc dù sự thay đổi phụ thuộc vào số lượng các các khu vực cử tri "lung lay lập trường".

Khuyết điểm của lối bầu này là có thể tạo ra những kết quả hoàn toàn không tương ứng với số phiếu mà các chính đảng nhận được trên bình diện quốc gia hoặc trong mỗi khu vực cử tri. Lấy thí dụ có 4 chính đảng ra tranh cử trên bình diện quốc gia và đạt được số phiếu theo tỷ lệ sau: 40%, 30%, 20% và 10% và giả dụ số phiếu đạt được tại mỗi khu vực bầu cử cũng sẽ tương ứng với tỷ lệ này. Kết quả là một chính đảng sẽ dành được toàn bộ số ghế quốc hội trong khi 60% cử tri hoàn toàn không có một đại diện nào. Chúng ta có thể nghĩ rằng trường hợp này sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng rõ ràng lối bầu này sẽ ưu đãi những chính đảng có số ủng hộ viên ở tập trung về địa lý và trừng phạt những chính đảng có cử tri nằm rải đều tại các khu vực bầu cử. Việc phân bố cử tri ởđây rất quan trọng. Ngoài ra lối bầu này cũng khuyến khích lối bầu chiến thuật, với một kết quả bấp bênh, khi một cử tri bỏ phiếu cho một ứng viên khác với người mà họưa thích mà không thể biết chắc rằng những cử tri khác sẽ bầu ra sao.

Lối bầu cử tuyển chọn (hoặc ưu tiên) có ưu điểm hơn lối bầu đa số một vòng ở chỗ bắt buộc ứng cử viên trúng cử phải đạt được đa số tuyệt đối của cử tri trong khu vực bầu cử, điều không nhất thiết phải xảy ra trong lối bầu cử đa số một vòng. Như thế một ứng cử viên chỉ có thể đại diện cho một khu vực bầu cử nếu ứng viên này tối thiểu đạt được đa số phiếu. Lối bầu tuyển chọn tuy hơn lối bầu đa số một vòng ở chỗ đòi hỏi ứng viên phải nắm vững về sự phân bố lá phiếu, song nó vẫn gây cản trở cho các đảng về thứ ba hoặc thứ tư trong cuộc bầu cử, là nhữngđảng có số cử tri hỗ trợ tuyđông nhưng lại nằm rải rác.

Lối bầu chuyển nhượng cho phép những đảng yếu vẫn có thể có đại diện. Song, tính chất tỷ lệ (số ghế) trong lối bầu này phụ thuộc vào độ lớn của khu vực bầu cử và biến thiên thuận với độ lớn này. Ngoài ra các cảm tình viên của một đảng vẫn có thể chọn lựa giữa những ứng viên do đảng này đưa ra. Ngược lại độ lớn của khu vực bầu cử cũng là một vấn đề, chẳng hạn sự gắn bó giữa dân biểu và cử tri trong một khu vực có quyền có một ghế sẽ giảm đi. Sau hết cũng nên nói rằng phương thức để phân phối số phiếu của những ứng cử viênđạtđược ít phiếu nhất cho những ứng cử viên khác là một bài toán rất phức tạp.

Lối bầu theo danh sách có thể xem như một thể thức tạo ra bình đẳng gần như hoàn toàn giữa các lá phiếu cử tri và nhờ đó mà việc phân phối các ghế dân biểu cho các chính đảng tùy theo lượng phiếu mà họ đạt được có thể thực hiện một cách tốt nhất. Nhưng thể thức này có một vài yếu điểm: một mặt những dân biểu sẽ không còn phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước một nhóm cử tri định sẵn nào đó, mặt khác cử tri (và cả những ủng hộ viên) cũng không thể ảnh hưởng gì lên thứ bậc trên danh sách ứng viên của các đảng được nữa. Hậu quả là chính bộ máy đảng -chứ không phải cử tri- quyết định việc chọn lựa các ứng viên. Bù lại lối bầu theo danh sách mở khả năng và tạo thuận lợi cho việc thiết lập các danh sách ứng cử viên "cân đối" lưu tâm đến những khuynh hướng và các nhóm xã hội khác nhau hoạtđộng trongđảng.

Lối bầu hỗn hợp sẽ dẫn đến các kết quả trong đó tính tỷ lệ sẽ bị phụ thuộc vào số phần trăm dân biểu đắc cử trong khu vực bầu cử, tương tự như lối bầu đơn danh. Lối này, trong trường hợp một đảng được ủng hộ mạnh mẽ, cũng có thể dẫn đến một chính quyền đa số, hoặc ngược lại trong trường hợp mà số phiếu được phân chia đồng đều hơn giữa các đảng, sẽ dẫn đến một chính quyền liên minh. Mặc dù lối bầu hỗn hợp chỉ định hai loại dân biểu, trong đó có một loại dân biểu bị gắn bó với khu vực bầu cử, nhưng cũng không tránh được các yếu điểm đã nêu của lối bầu theo danh sách. Những người ủng hộ cho lối bầu hỗn hợp cho rằng người ta có thể khắc phục những yếu điểm này bằng cách đưa những ứng viên đã thất cử trong vòng bầu đơn danh vào danh sách ứng viên (chung) và buộc các dân biểu đãđắc cử qua danh sách phải chịu trách nhiệmđặc biệt về khu vực bầu cử của mình.

30. Hình thức liên minh cầm quyền có dân chủ không?

Những người bênh vực lối bầu cử đại diện theo tỷ lệ cho rằng lối bầu lấy đa số và lối bầu tuyển chọn không được dân chủ bởi những cách ấy không đối xử công bằng với mọi lá phiếu của người dân, xem một số có trọng lượng hơn số khác. Vì hai lối bầu sau không tôn trọng sự bình đẳng chính trị, là nguyên tắc dân chủ căn bản nhất, nên đã dẵn đến việc thành lập các chính phủ chỉ đại diện cho một thiểu số cử tri, nhiều khi là một thiểu số rất nhỏ nữa. Ngược lại, những người chống lối bầu đại diện theo tỷ lệ lại cho rằng, vì trên thực tế mỗi chính đảng khó có thể đạt được đa số tuyệt đối nên lối bầu tỷ lệ đương nhiên dẫn đến những liên minh cầm quyền.

Do đó dân chúng sẽ bị các lãnh tụ của các chính đảng tước mất quyền chỉ định chính phủ, làm giảm sức mạnh của dân chúng trong việc kiểm soát chính phủ và trong việc đòi hỏi chính phủ phải chịu trách nhiệm về các hành động của mình. Một chính phủ liên minh có thể ban cho những chính đảng nhỏ nhiều đặc quyền để câu họ, nhất là khi những chính đảng này giữ vị trí then chốt giữa hai khuynh hướng tả và hữu quá mạnh. Người ta có thể trả lời cho phía chống đối rằng những chính đảng tham gia chính phủ liên minh phải thông báo cho cử tri của họ biết về những quyết định của liên minh cầm quyền và những lực lượng ở giữa (hai khuynh hướng tả và hữu) không thể nào không quan tâmđến sự hoán chuyển khối lượng phiếu cử tri giữa cácđảng khuynh tả và khuynh hữu trong các cuộc bỏ phiếu.

Lại một lần nữa, chúng ta khó tách bạch vấn đề trên lý thuyết mà không lưu ý đến những đặc thù quốc gia. Lịch sử cận đại đã cho thấy rõ những sai lầm của lối bầu cử một vòng lấy đa số được áp dụng ở Anh Quốc cũng như những thiếu sót của lối bầu cử theo tỷ lệ đơn thuần xảy ra ở Ý Ðại Lợi. Một hệ thống bầu cử -nếu muốn việc áp dụng được phổ cập- cần phối hợp những ưu điểm của lối bầu đa số với với một tỷ lệ đối trọng cân đối, trong đó liều lượng của mỗi hệ thống phụ thuộc tình trạng của các chínhđảng và nhữngđiều kiện tổng quát ghi trong hiến pháp.

31. Làm thế nào để bảo đảm sự công bằng trong diễn tiến bầu cử?

Sự công bằng trong bầu cử có thể bị xâm phạm nghiêm trọng bằng ba cách sau đây.

Thứ nhất, chính đảng hoặc liên minh cầm quyền có thể dùng ưu thế quyền lực để xâm phạm công bằng. Ðây là một hiện tượng rất phổ biến mà chúng ta có thể dùng một số biện pháp để hạn chế tai hại. Biện pháp quan trọng nhất là ủy nhiệm cho một ủy ban bầu cử độc lập -được sự chấp nhận của tất cả các chính đảng- công việc kiểm soát toàn bộ diễn trình bầu cử, từ việc làm thẻ bầu cử, việc lên danh sách cử tri, việc tổ chức đợt vận động và việc bỏ phiếu, đến việc kiểm phiếu. Ðặc biệt, nếu không có sẵn một ủy ban độc lập để giám sát về truyền thanh truyền hình, ủy ban bầu cử cũng phải có trách nhiệm điều hòa sự xuất hiện của các chính đảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong thời gian vận động bầu cử. Ðiểm quan trọng là luật pháp phải cấm mọi sự nhập nhằng giữa chức vụ trong đảng và chức vụ trong chính quyền. Trong trường hợp này tất cả các bộ trưởng phải từ bỏ toàn bộ nhiệm vụ và đặc quyền dành cho chức vụ trong suốt thời gian vận động, trừ những thứ cần thiết để duy trì trật tự công cộng.

Ðe dọa thứ nhì đến sự công bằng trong bầu cử là những hành vi gian lậu của những đảng viên hoặc cảm tình viên của các chính đảng qua tham nhũng, hăm dọa, bôi nhọ nhân cách, phiếu giả, v.v... Người ta có thể chận đứng các hành vi này bằng cách giao cho một bộ phận đặc biệt gồm các nhân viên cảnh sát và những viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử khác nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho các ứng cử viên và bảo đảm tính hợp thức của tiến trình bầu cử. Trên tinh thần đó, phải chú trọng đặc biệt đến phẩm chất của các viên chức có trách nhiệm về công tác bầu cử; Việc chỉ định cũng như đào tạo họ phải nằm trong thẩm quyền của ủy ban bầu cử quốc gia. Sự hiện diện của những quan sát viên quốc tế dày dặn kinh nghiệm cũng vô cùng ích lợi; Người ta cần phải kêu gọi họ làm công việc giám sát một cách công tâm để các công tác bầu cử được tiến hành đúng cách và họ cần truyền bá những cách thức bầu cử thích hợp nhất đã được áp dụng trong các cuộc bầu cử toàn quốc tại các nước dân chủ.

Sau hết sự công bằng trong bầu cử có thể bị xâm phạm khi những ứng cử viên nhờ có nhiều tiền của riêng hoặc khi những chính đảng nhờ được các thế lực tài chính lớn yểm trợ mà dành được lợi thế. Cách giải quyết đơn giản nhất là giới hạn gắt gao việc chi tiêu bầu cử -trên bình diện quốc gia hoặc địa phương- của các ứng cử viên hoặc của các chính đảng cho chính họ hoặc cho những việc đem lợi lại cho họ: Ngoài ra mọi ứng cử viên hoặc chính đảng phải được tự do lên các phương tiên truyền thôngđại chúng như nhau, theo thể thứcđược ủy ban bầu cử thông qua.

Trong số những ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn đến sự công bằng trong diễn trình bầu cử người ta phải kể đến những cuộc thăm dò dư luận tại một số quốc gia. Một số quốc gia có luật cấm loan báo kết quả thăm dò dư luận trong tuần lễ trước ngày bầu cử hoặc trong cả thời gian vận động. Biện minh cho quyết định này, người ta cho rằng những cuộc thăm dò dư luận sẽ tác động đến đến kết quả bầu cử: hoặc nó sẽ tạo ảnh hưởng nhân rộng hoặc ngược lại nó khiến cử tri có thái độ bác bỏ. Ngoài ra người ta còn cho rằng những cuộc thăm dò dư luận có thể gây ảnh hưởng đồi bại đến những cử tri chỉ thích nghe chuyện được thua, mất mát do kết quả bầu cử gây nên. Song le, phần đông những chuyên gia đều không tin việc thăm dò dư luận sẽ ảnh hưởng đến quyết định của cử tri cũng như họ không tin vào tác dụng của việc cấm thăm dò vì ngày nay người ta càng dễ tìm hiểu mọi vấnđề qua các phương tiện truyền thông quốc tế.

32. Công quỹ có cần tài trợ cho các chính đảng không?

Những người muốn công quỹ tài trợ cho các chính đảng cho rằng vì chính đảng đóng một vai trò then chốt trong sự hoạt động của một chính thể dân chủ nên cần nâng đỡ tài chính cho các chính đảng, và ngoài ra, một sự hỗ trợ của công quỹ sẽ giảm bớt ảnh hưởng của những nhóm quyền lợi có thế lực đối với các chính sách. Những chính đảng có thể nhận được tài trợ theo tỷ lệ phiếu nhận được trong các cuộc bầu cử cấp quốc gia. Những nhóm nào đòi tước quyền dân sự và quyền chính trị của một nhóm công dân hoặc đã phạm tội gian lậu bầu cử sẽ không được nhận tài trợ.

Những người chống việc tài trợ cho rằng những chính đảng chỉ thực sự đóng tốt vai trò phản ánh dư luận quần chúng nếu họ độc lập về mặt tài chính với các cơ quan quyền lực. Sự độc lập này chỉ có được nếu các chính đảng được tài trợ bởi những nguồn tiền đóng góp tự nguyện. Các chính đảng sẽ phải cố gắng giành lấy sự tín nhiệm của dân khi chính họ phải chạy tiền để trang trải chi phí hoạt động. Ngoài ra nếu muốn hạn chế ảnh hưởng bất chính của những nhóm quyền lợi, người ta có thể bắt các chính đảng phải kê khai mọi món tiền ủng hộ vượt quá một giới hạn nào đó hoặc bắt các nơi muốn quyên tiền phải lấy sự chấp thuận của những thành viên hoặc cổ đông.

Tại các nước có truyền thống dân chủ vững chãi, các chính đảng thường được tài trợ bởi những món tiền đóng góp tự nguyện, cho dù rằng Nhà nước có thể tài trợ ở mức độ giới hạn nhất định cho các hoạt động được quy định thật rõ ràng, thí dụ như cho việc đào tạo cán bộ đảng hoặc cho phép sử dụng miễn phí các phương tiện truyền thông đại chúng trong các cuộc vận động bầu cử. Sự hỗ trợ tài chính có thể đặc biệt hữu dụng tại những nước đang chuyển tiếp để xây dựng chế độ dân chủ, khi không mấy người dân biết đến luật lệ tranh cử hoặc phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống chínhđảng tại những nước đó.

33. Có nên cho các dân biểu thay đổi đảng tịch giữa 2 kỳ bầu cử không?

Không nên. Khi ra trình diện cử tri dưới một nhãn hiệu chính trị nhất định nào đó, ứng cử viên phải có bổn phận ủng hộ đảng của mình trong suốt nhiệm kỳ quốc hội. Nếu không, phương cách dùng bầu cử để phân biệt các chương trình và khuynh hướng chính trị sẽ mất mọi ý nghĩa.

Trong chế độ bầu cử dựa trên khu vực cử tri, những dân biểu nào muốn đổi đảng tịch đều phải từ nhiệm và ra ứng cử trở lại trong một cuộc bầu cử riêng rẽ. Trong chế độ bầu cử dựa theo lối bầu danh sách, người dân biểu muốn đổiđảng tịch chỉ cần từ nhiệm và nhường ghế dân biểu cho người kế tiếp trong danh sách củađảng cũ.

34. Các cử tri có quyền hành gì giữa hai kỳ bầu cử?

Người ta sẽ vô cùng sai lầm khi cho rằng các cử tri hoàn toàn bất lực giữa hai kỳ bầu cử vì họ chỉ có thể biểu lộ ý kiến chính trị bằng cách bỏ phiếu khoảng bốn năm một lần mà thôi. Người quên rằng những đảng cầm quyền lươn luôn nghe ngóng dư luận vì sợ sẽ bị cử tri chất vấn trong kỳ bầu cử tới. Nói cách khác, sự thất cử là nỗi sợ ám ảnh thường xuyên người cầm quyền. Ðiều này càng được thấy rõ hơn trong những quốc gia áp dụng lối bầu đa số, khi sự thất bại của đảng cầm quyền ở một địa phương có thể dẫn tới việc định hướng lại đường lối chính trị của chính quyền (trung ương), kể cả việc cải tổ lại nội các.

Ngoài ra, cử trị còn có vô số các phương tiện để ảnh hưởng lên chính quyền về một số lãnh vực và giữa hai ký bầu cử. Họ có thể gia nhập những nhóm tạo áp lực hoặc hiệp hội, tham gia các chiến dịch vậnđộng quần chúng, tiếp xúc với các dân biểu của họ và các nhân viên chính phủ, tham gia các cuộc biểu dương lực lượng, v.v... Sau hết, họ có thể dùng các phương tiện truyền thôngđể thường xuyên phát biểu ý kiến và tập hợp lực lượng.

35. Trong chế độ dân chủ, khi nào phải sử dụng hình thức trưng cầu dân ý?

Tại đa số các quốc gia dân chủ, những dự án nhằm sửa đổi hiến pháp hoặc những dự luật có ảnh hưởng đến hiến pháp đều phải thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, nhiều khi còn đòi hỏi phải được thông qua với đa số tuyệt đối các cử tri. Người ta lý luận rằng hiến pháp thuộc về toàn dân chứ không thuộc riêng các nghị viện hoặc các chính phủ nhất thời. Do đó mọi thay đổi phải được người dân trực tiếp thông qua.

Nhưng nếu mở rộng ra hơn nữa thì việc xin ý kiến dân chúng về những vấn đề chính trị chung chung hoặc về những dự luật căn bản qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Phe ủng hộ cho rằng phương cách trưng cầu dân ý là một phương tiện chính yếu trong đời sống dân chủ giúp cho người dân có ý kiến trực tiếp về những vấn đề hệ trọng, nếu không sẽ chẳng có ai để ý đến những vấn đề này hoặc chúng sẽ bị vùi giấu trong những lời tuyên bố ứng cử chung chung của một chính đảng.

Còn phe chống đối lại cho rằng, một khi đã ý thức được sự liên quan đan cài giữa những vấn đề được đem ra cho công chúng phân xử (thí dụ như liên quan giữa các chính sách về thuế và ngân sách), thì quả là khiên cưỡng khi đem tách một vấn đề ra khỏi bối cảnh chung của nó hoặc khi cho rằng các dân biểu không có quyền quyết định về một số vấn đề nào đó (trong khi họ lại được quyết định về mọi vấn đề khác).

Do đó, việc trưng cầu dân ý, trên thực tế, là một dấu hiệu của sự bất tín nhiệm chế độ đại diện cửa tri, và thay vì gia tăng trách nhiệm cho các dân biểu thì người ta lại còn làm giản nóđi.Ðây là một vấnđề mà ta không thể trả lời một cách rõ ràng là khi nào thì nên hoặc không nên. Các quốc gia dân chủ sẽ phải tự tìm lấy câu trả lời thích ứng dựa trên tập quán chính trị của nước họ.

(Phần kế tiếp  )