Nguyên Tắc Dân Chủ
(3/4)
Mục tiêu dân chủ phải được hướng dẫn bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi nỗ lực dân chủ.  Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực hiện hoặc dễ thất bại khi nhân tố tham chính  (cộng-sản hay không-cộng-sản) mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ Do đó trong quan niệm ‘vấn nạn hiện thực không phải là chấp nhận tư tưởng dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng và hành động phản-dân-chủ’  Diễn đàn Dân Chủ cố gắng giới thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu tư đến tương lai dân tộc có thể suy luận  để so sánh  phủ định quan điểm và  hành động phản-dân-chủ  bởi vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công  cơ chế quốc trị dân chủ quy phục và phụng sự nhân dân trong tương lai trên nền tảng tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp tục phát triển nhờ vào cơ chế dân chủ khai phóng tiềm năng đóng góp của toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo hèn bởi thành phần lãnh đạo độc tài mang hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần tài liệu Các vấn đề dân chủ sau đây  trình bày nhiều đề tài khả dụng như  định chế dân chủ,  vai trò chính đảng,  truyền thông,  luật pháp, kinh tế thị trường, trách nhiệm của chính quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản, quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn.


 

III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính quyền

36. Tại sao hoạt động trong suốt của chính quyền lại quan trọng đối với dân chủ?

Sự trong suốt của các hoạt động của chính quyền là điều không thể thiếu được trong dân chủ, bởi nếu không có những thông tin chính xác về các hoạt động của chính quyền cũng như về ảnh hưởng của các chính sách, thì những người nắm giữ các trách nhiệm trong lãnh cực công sẽ không thể nào đánh giá được về các hoạt động của mình và người dân cũng bị mất những yếu dùng dùng làm cơ sở xét đoán cho việc sử dụng lá phiếu của họ trong các ký bấu cử. Sự tiếp cận các nguồn thông tin loại này, do đó, phải được xem như là một loại quyền của công dân và của các phương tiện truyền thông hoạt động đại diện cho dân chứ không thể bị xem là quyền lợi được chính quyền ban phát. Bởi cử tri là người chọn ra chính quyền nên họ phải có quyền được biết họ đã bỏ tiền ra mua món hàng nào và người ta đã đại diện họ dể làm chuyện gì.

Dù rằng việc tổ chức để người dân có thể tiếp cận với các thông tin loại này bị xem là một sự phung phí ngân quỹ quốc gia nhưng chính việc này lại góp phần làm gia tăng hiệu năng của các hoạt động chính quyền bằng cách đưa ra ánh sáng những vụ lãng phí công quỹ, chống tệ nạn tham nhũng và vạch ra những sai lầm của chính quyền trước khi chúng trở thành bệnh mãn tính. Việc để cho các công dân được tiếp cận với những hồ sơ của chính quyền cũng như của các cơ quan trực thuộc có liên quan đến dân là một thành tố quan trọng của việc bảo vệ các quyền tự do của người dân. Nhưng thế nào là sự trong suốt của hoạt động của chính quyền? Chúng ta có thể xem sự trong suốt này phải bao gồm bốn mặt chính. Thứ nhất, sự trong suốt bao gồm việc chính quyền phải tự mình cung cấp thông tin về những dữ kiện liên quan đến những chính sách, chẳng hạn như những số liệu được dùng làm cơ sở cho việc hình thành chính sách, những ảnh hưởng thực tế, những hậu quả, những phương thức áp dụng v.v...

Thứ nhì, sự trong suốt bao gồm khả năng để tư nhân và báo chí tiếp cận - một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua quốc hội - với những hồ sơ tài liệu của chính quyền. Thứ ba, sự trong suốt bao gồm tính chất công khai của các buổi hội họp, thí dụ những phiên họp của quốc hội, của các ủy ban trong quốc hội, của những công sở hoặc đơn vị hành chánh địa phương. Cuối cùng, sự trong suốt bao gồm việc chính quyền, khi muốn soạn thảo và thi hành những chính sách, phải tham khảo ý kiến của những nhóm quyền lợi liên hệ một cách có hệ thống, bao gồm cả việc phổ biến thông tin và những góp ý nhận được trong những buổi tham khảo này.

Sự trong suốt của hoạt động chính quyền có loại trừ một số loại thông tin nào đó không? Trong những thể chế dân chủ, những loại thông tin sau đây thường được xem là cần bảo mật một cách chính đáng: quyết định của nội các hay của hội đồng bộ trưởng, ý kiến mang tính cách chính trị của các công chức cao cấp đối với thành viên chính phủ. Ðây là những tin tức mà nếu bị lộ ra thì sẽ ảnh hưởngđến nền an ninh quốc gia, sự toàn vẹn của cơ chế dân chủ, sự an toàn nhân thân của một số cá nhân, những bí mật thương mãi của những hãng xưởng, những hồ sơ nhân viên mà chỉ có người có trách nhiệm mớiđược phép tiếp cận.

37. Làm thế nào để bảo đảm cho hoạt động chính quyền được trong suốt?

Trong thế kỷ trước, khi phạm vi hoạt động chính quyền còn hạn chế, người ta nghĩ rằng chỉ cần quyền tự do báo chí là đủ để bảo đảm sự trong suốt của hoạt động chính quyền. Ngày nay, ý thức rằng sự phức tạp ngày càng tăng và ảnh hưởng ngày càng lớn của chính quyền, một sự bảo vệ chặt chẽ nhất về quyền tự do báo chí - trong đó bao gồm cả việc bảo mật những nguồn cung cấp thông tin cho báo chí - cũng chưa đủ. Chính quyền và những cơ quan hành chánh có khuynh hướng tự nhiên là thích ẩn núp sau bức màn bí mật để bao che cho những sai lầm hoặc lạm quyền, để tránh gặp phiền phức hoặc chỉ đơn giản là khỏi phải thú nhận những lỗi lầm. Ngày này, phương cách hữu hiệu duy nhất để chặn đứng khuynh hướng này là việc thông qua một đạo luật bắt buộc phải bảo đảm sự trong suốt của hoạt động chính quyền, hay nói cách khác là bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

Hoa Kỳ và Thụy Ðiển là hai quốc gia có nhiều đạo luật tiêu biểu cho việc bảo đảm quyền tự do tiếp cận thông tin. Những đạo luật này (đã được mổ xẻ kỹ trong câu 36) quy định chính phủ có bổn phận phải công bố hoạt động của mình, quy định quyền của người dân được tiếp cận với những tài liệu của chính phủ, quy định phải mở cửa cho công chúng tham dự các buổi họp của các cơ chế quyền lực và quy định việc bảo vệ cho những thành viên nào của bộ máy hành pháp muốn đưa tin (tố cáo) về sự thi hành đáng chê trách hoặc gian lậu của khối hành pháp. Ðây là những đạo luật có tính cách củng cố và bổ túc cho những quy định cho phép các dân biểu hoặc thành viên quốc hội được quyền tiến hành các cuộc giám sát hoạt động của khối hành pháp. Ðây là những đạo luật cho phép các tòa án chứ không phải là chính quyền - đây mới chính là khía cạnh quan trọng nhất của các đạo luật thuộc lại này - được phép định nghĩa những ngoại lệ của nguyên tắc trong suốt, tức là những ngoại lệ cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia và đời sống riêng tư.

Chúng ta cũng cần bàn thêm về hai vấn đề sau đây. Vấn đề thứ nhất là tầm quan trọng của ngân quỹ được các chính quyền dùng trong việc giao tế công cộng (*). Ngày này giao tế công cộng không còn giới hạn trong việc trình bày những thông tin dữ liệu liên quan đến hoạt động của chính phủ mà còn bao gồm cả những quyết định về lịch thông báo, việc lựa chọn chiến lược trình bày thông tin sao cho thông tin được đón nhận một cách thuận lợi nhất, việc để rò rỉ những thông tin "đã được chọn lựa" và tất cả mọi thủ thuật trong ngành giao tế công cộng để gây ảnh hưởng đến dư luận xã hội. Vì có những thủ thuật như vậy nên luật pháp phải đặc biệt bảo đảm quyền được hỏi và quyền được kiểm tra những thông tin do chính quyền đưa ra một cách thực sư tự do. Liên quan đến vấn đề này, người ta cần thành lập một dịch vụ thống kê công cộng độc lập với chính quyền để cho quốc hội và dân chúng có thể hỏi thăm một cách thật bình đẳng (so với chính quyền).

Vấn đề thứ hai là sự trong suốt của hoạt động chính quyền vượt quá phạm vi của quyền được tự do tiếp cận thông tin rất nhiều. Phạm vi của sự trong suốt bao gồm cả khả năng đòi hỏi một vị bộ trưởng phải biện hộ cho hành động của mình và phải đưa vấn đề ra tranh luận công khai, bao gồm cả nghĩa vụ (mà tùy trường hợp sẽ được gia giảm về sự bó buộc) của một chính phủ phải đưa việc soạn thảo và thi hành chính sách ra hỏi ý kiến công luận. Về điểm cuối vừa nêu, người ta cần phải có một đạo luật ấn định rõ lịch trình và phương thức tham khảo, ấn định việc phổ biến rộng rãi các thông tin do các phe phái khác nhau cung cấp về vấn đề đang bàn cãi và ấn định việc lượng giá sự ảnh hưởng đến môi trường xung quanh của các dự án. Khái niệm về sự trong suốt ởđây bao gồm khả năng của một chính quyền cả trong việc biết làm tốt việcđể cho người dân tiếp cận với thông tin lẫn trong việc biết lắng nghe.

(*) Giao tế cộng cộng: public relation, relation publique, Oeffentlichkeitsarbeit

38. Thế nào là trách nhiệm của chính quyền?

Trách nhiệm của chính quyền được đạt ra trên ba phương diện.

Thứ nhất là trách nhiệm về mặt pháp lý, nghĩa là mọi cá nhân dảm nhiệm các trách vụ công cộng - dù do dân bầu lên hay không - đều phải chịu trách nhiệm trước tòa án về tính hợp pháp của các hành động của mình. Ðây là điểm cốt lõi của nguyên tắc thượng tôn pháp luật, theo đó, những người soan thảo cũng như những người áp dụng luật pháp và chính sách đều phải hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và luật pháp, dựa trên những quyền hạn mà luật pháp quy định và giới hạn cho họ.

Thứ hai là trách nhiệm về mặt chính trị, nghĩa là chính quyền hay bộ máy hành pháp phải có trách nhiệm trình bày cho quốc hội hoặc nhân dân rằng, các chính sách, lớp lang tổ chức và phương thức thực hiện các chính sách đó được đụa trên những cơ sơ có căn cứ. Việc quy kết trách nhiệm trong loại trách nhiệm pháp lý có thể thực hiện được một cách tương đối đơn giản bằng cách đưa người có chức vụ ra tòa để xử. Trong khi đó, việc quy kết trách nhiệm trong loại trách nhiệm chính trị không đơn giản chút nào vì việc thực hiện chính sách rất phức tạp. Thông thường các cơ quan nhà nước trực thuộc chính quyền mà trong đó các nhân viên không được chọn qua một cuộc bầu cử (như trong bộ máy hành chánh, lực lượng vũ trang, lực lượng cảnh sát, các cơ quan an ninh) sẽ phải chịu trách nhiệm trước vị chủ tịch bộ máy hành pháp (do dân bầu) qua trung gian của các bộ trưởng do chính vị chủ tịch này bổ nhiệm. Về phần của họ, vị chủ tịch bộ máy hành pháp và các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước dân chúng (phán xét qua các kỳ bầu cử) cũng như trước quốc hội (trong vai trò đại diện của dân giữa hai kỳ bầu cử). Các dân biểu quốc hội sau đó cũng phải báo cáo lại cho các cử tri của mình.

Thứ ba là trách nhiệm về mặt tài chính nhằm bảo đảm việc chi dùng tiền thuế vào những mục đích đã được cơ quan lập pháp (quốc hội) phê chuẩn, để việc chi dùng này càng hữu hiệu bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Ðường dây trách nhiệm của loại trách nhiệm tài chính cũng giống như đường dây của loại trách nhiệm chính trị cộng với vai trò của một vị tổng thanh tra các trương mục. Vị tổng thanh tra này tuy phải chịu trách nhiệm trước quốc hội nhưng lại hoạt động hoàn toàn độc lập về mặt chuyên môn khi đi kiểm tra chi tiết các khoản chi tiêu của chính phủ.

. Mỗi đường dây này góp phần thực hiện nguyên tắc dân chủ: người dân được quyền kiểm soát chính phủ. Muốn quy trách nhiệm về chính trị và tái chính, người ta thấy cách tốt nhất là ủy nhiệm việc kiểm soát cho các cơ quan chuyên môn. Những cơ quan này - trong phạm vi hoạt động của họ - rất cần được hưởng sự bảo vệ tương đối nào đó trước áp lực của công chúng hoặc của những người giữ trách vụ chính trị và được kính trọng bởi lương tâm chức nghiệp của họ. Phân tích cho cùng, khiđã có tòa án giữ gìm việc tuân thủ luật pháp và khi có tổng thanh tra kiểm nhận các chi tiêu là phù hợp với sự duyệt xét ngân sách của quốc hội và với hiến pháp thì chỉ còn trách nhiệm chính trị là cầnđáng lưu ý hơn cả.

39. Tại sao sự phân quyền lại quan trọng?

Việc cầm quyền ở các nước dân chủ được chia thành ba ngành, đó là ngành hành pháp (thường được gọi cho tiện là "chính quyền") có trách nhiệm soạn thảo và áp dụng các chính sách, ngành lập pháp (quốc hội hoặc viện dân biểu) có trách nhiệm phê chuẩn các đạo luật và các sắc thuế cũng như kiểm soát hành pháp, và ngành tư pháp (các tòa án) có nhiệm vụ giám sát việc thi hành luật, nghĩa là tìm ra các trường hợp vi phạm, và xét xử thủ phạm của những vi phạm này.

Sự tách quyền lực thành ba ngành riêng biệt là nguyên tắc then chốt để bảo vệ những dạng trách nhiệm pháp lý, chính trị và tài chính vừa được đề cập ở trên. Nếu như tòa án không độc lập với lập pháp và hành pháp thì nó không thể canh chừng việc hành động phù hợp theo pháp luật của những người mang trách vụ công mà không sợ bị trả thù hoặc mong được thưởng. Tương tự như vậy, nếu quốc hội không có quyền phê chuẩn các đạo luật một cách thật độc lập, không có quyền quyết định về thuế khóa hoặc kiểm soát hành pháp thì trách nhiệm chính trị và tài chính của chính quyền đối với cử tri sẽ bị sói mòn.

Mặc dù sự tách biệt giữa ngành lập pháp và hành pháp là một trong những đặc trưng truyền thống của các chính quyền dân chủ nhưng sự tách biệt này cũng biến dạng tùy theo những chế độ chính trị khác nhau. Chính trong các chế độ có tổng thống, khi việc bầu vị chủ tịch hành pháp (tổng thống) được tách khỏi việc bầu các dân biểu và khi mà vị chủ tịch hành pháp không giữ vai trò nào trong lãnh vực lập pháp, người ta thấy hai ngành quyền lực này được tách biệt rõ ràng nhất. Ngược lại, trong một chế độ đựa vào thủ tướng, khi người lãnh đạo của chính đảng chiếm đa số trong quốc hội được gọi ra điều khiển chính quyền, thì có thể nói rằng vị chủ tịch hành pháp này lúc nào cũng đứng ở vị trí đôi trong mọi lãnh vực, vừa là chủ tịch hành pháp và vừa là trưởng khối đa số trong quốc hội.

Mỗi chế dộ vừa nêu đều có ưu và khuyết điểm riêng. Nói chung, tổng thống chế có ưu điểm là bảo đảm cho những đại diện lập pháp có nhiều độc lập hơn để kiểm soát phía hành pháp, mặc dù rằng sự kiểm soát này còn tùy thuộc cách tổ chức các chính đảng cũng như phụ thuộc vào ảnh hưởng của hành pháp và lập pháp lên sự hình thành các lực lượng chính trị. Mặt khác chế độ này có khuyết điểm có thể đưa chính quyền vào thế kẹt bằng cách cản trở không cho nó có phương tiện làm luật và tài chính cần thiết để thực hiện những chương trình mà dân chúng đã lựa chọn. Trong một vài trường hợp cực đoan, việc phân biệt này đã dẫn đến sự đụng độ giữa hai ngành quyền lực; Khi đó mượn tiếng được dân chúng trao cho mình quyền lực hợp pháp qua cuộc tổng tuyển cử và lợi dụng uy quyền đối với lực lượng vũ trang, vị tổng thống có thể giành lấy quyền lập pháp qua một cuộc bỏ phiếu toàn dân.

Những chế độ được xây dựng trên ưu thế của vị thủ tướng chính phủ đặt nền tảng cho phép một sự phối hợp nhịp nhàng hơn giữa hoạt động của chính quyền và hoạt động của những dân biểu là những người được kêu gọi bỏ phiếu cho những đạo luật và sắc thuế cần cho việc thực hiện các chương trình của chính phủ. Một lợi điểm khác là mô thức này giảm thiểu khả năng dùng bạo lực của hành pháp đối với quốc hội (ưu điểm này được xem là vô cùng quan trọng trong trường hợp các chế độ dân chủ mới được hình thành gần đây). Ngược lại loại chế độ này có khuyết điểm là trao cho hành pháp quyền đặt lịch trình nghị sự cho quốc hội và giới hạn khả năng kiểm soát hành pháp của quốc hội bởi những dân biểu trong khối đa số tại quốc hội thường có khuynh hướng bảo vệ uy tín của chính phủ (mà họ còn mắc nợ vì chiếc ghế dân biểu và từđó quyếtđịnh cả sự thăng tiến của họ nữa) nên sẽ không tố cáo những thiếu sót của chính phủ.

40. Thế nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để bảo vệ nguyên tắc đó?

Nguyên tắc thượng tôn pháp luật diễn tả khái niệm đơn giản, theo đó những người mang trách vụ công cộng, dù đó là chức vụ dân cử hay không, phải tuân theo luật pháp và hiến pháp khi hành xử những quyền hạn được trao cho họ; Những quyền hạn này được định nghĩa và giới hạn rõ ràng bởi luật pháp (xx câu 38 về trách nhiệm pháp lý). Nguyên tắc này bắt nguồn từ khái niệm của Aristote cho rằng loại chính quyền tốt nhất là loại chính quyền dựa trên sự thượng tôn pháp luật chứ không dựa trên con người. Theo nghĩa cận đại, nguyên tắc này xuất phát từ cuộc tranh đấu nhằm giới hạn không cho nhà cầm quyền và những đại diện chính thức của họ sử dụng quyền lực một cách tùy tiện và bắt hành pháp phải đặt mọi hoạt động của mình dưới sự phán xét của các cơ quan tư pháp.

Người ta có thể xem nguyên tắc thượng tôn pháp luật như hòn đá tảng của cả tự do cá nhân lẫn dân chủ. Không có nguyên tắc này thì sẽ không thể bảo vệ được bất cứ quyền tự do cá nhân nào trước quyền lực của hành pháp. Vả lại khi luật pháp đã phát xuất từ một hiến pháp dân chủ và từ một cơ quan lập pháp dân cử thì việc cơ quan hành pháp tuân thủ nguyên tắc này là một trong những đòi hỏi của những chế độ dân chủ. Bởi lẽ đó người ta có thể xem những toan tính nhằm bẻ quẹo các thủ tục và quy định pháp lý nhân danh "quyền lợi quốc gia" hoặc chịu áp lực từ yêu sách nhất thời của quần chúng là phản dân chủ.

Muốn áp dụng nguyên tắc thượng tôn pháp luật thì phải có một bộ máy tư pháp độc lập để giám sát sự tôn trọng đó. Khi nói đến đến bộ máy tư pháp, Ðiều 1 của "Những nguyên tắc căn bản" của Liên hiệp quốc đã ghi rõ rằng "sự độc lập của bộ máy tư pháp cần được bảo đảm bởi Nhà nước và phải được Hiến pháp và quốc hội thừa nhận". Sự độc lập này bao gồm cả sự độc lập tập thể của bộ máy tư pháp, như một cơ quan cần được bảo vệ trước những xâm phạm của ngành hành pháp, lẫn sự độc lập cá nhân của những thẫm phán, khi họ cần phải hoàn thành một cách trong sáng các trách vụ được giao phó. Việc bảo vệ sự độc lập song đôi này đòi hỏi nhiều hơn những gì đã được hiến pháp bảo đảm trên giấy tờ. Việc bảo vệ sự độc lập này phụ thuộc rất nhiều vào phương thức chỉ định các thẩm phán và vào sự bảo đảm để họ có thể tiếp tục chức vụ giao phó.

Việc chỉ định các thẩm phán không thể nằm trong quyền hạn của chính quyền hay bộ máy hành pháp mà phải do một ủy ban tư pháp của quốc hội hoặc do một ủy ban độc lập chuyên lo về công tác tư pháp được hiến pháp công nhận đảm trách. Những thẩm phán này không thể bị chính quyền đương thời cách chức. Ngược lại họ cần có những bảo đảm để có thể tiếp tục trách vụ. Chỉ có cơ quan nào đã bổ nhiệm họ mới có thể cách chức họ nhưng cũng phải theo đúng thủ tục được dự trù cho mục đích này cũng như vì những lý do được định nghĩa rõ ràng, thí dụ như tham nhũng, thiếu xót nghiêm trọng trong công việc giao phó hay bất cẩn. Sự tuân thủ những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho những nghề nghiệp tư pháp khác, khi mà sựđộc lập của họđối với hành pháp cũng cần thiết cho sự bảo vệ nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

41. Vai trò của quốc hội trong việc kiểm soát trách nhiệm của chính quyền

Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát trách nhiệm về chính trị và tài chính của khối hành pháp. Trước hết Quốc hội có thể thi hành sự kiểm soát này nhờ dựa vào quyền phê chuẩn các đạo luật tổng quát và thuế khóa và nhờ dựa vào việc áp dụng những thủ tục bảo đảm rằng những đề nghị được chuyển cho quốc hội là những đề nghị đã được cân nhắc và bàn thảo kỹ lưỡng trước khi được các dân biểu thông qua. Thứ đến, Quốc hội có có những quyền hạn cần thiết để giám sát hoạt động của khối hành pháp khi đặt câu hỏi với các bộ trưởng, khi kiểm soát các tài liệu thích hợp và khi tiến hành thủ tục chất vấn những nhân vật liên hệ trong bộ máy hành pháp. Những công việc này được thực hiện trong những phiên họp khoán đại của quốc hội hay trong những ủy ban chuyên môn được thành lập trong khuôn khổ của một tập thể có phối hợp.

Hiệu quả của công việc kiểm soát của quốc hội về cách thức mà chính quyền hoàn thành các nhiệm vụ phụ thuộc một phần vào quyền tự do phát biểu của người dân biểu. Thông thường người ta cho rằng chỉ cần ban cho các dân biểu quyền đặc miễn pháp lý về những đề nghị mà họ đưa ra trong quốc hội để họ có thể phát biểu không sợ sệt. Do sự phức tạp của các hoạt động của chính quyền đương thời nên những dân biểu chỉ có thể đóng vai trò phê phán một cách hữu hiệu khi họ có một văn phòng làm việc và những phương tiện tra cứu cần thiết và khi họ có thể hợp tác với những chuyên viên khác ở ngoài. Một điều khá quan trọng là họ không bị bắt buộc phải tuân theo quan điểm của chính đảng của họ để đến nỗi đánh mất óc phê phán. Khi các dân biểu bị phụ thuộc vào bộ máy chính đảng của họ trong việc bầu hoặc đề cử vào các ủy ban chuyên môn thì quan điểm của họ khó đi ra ngoài đường hướng của đảng.

Trong việc kiểm soát chính phủ chúng ta không thể bỏ qua vai trò quan trọng của hệ thống đảng phái có tổ chức. Chính đảng đối lập phải có khả năng hành xử như một chính quyền thay thế cũng như phối hợp những hoạt động kiểm soát chính quyền bằng cách giám sát thường xuyên các hoạt động của chính quyền bằng con mắt phê phán.

Nhiều người cho rằng đây là khía cạnh bạc bẽo của công việc của một dân biểu vì trong nhiều trường hợp người ta có cảm tưởng rằng sự chỉ trích của phía đối lập chỉ nhằm mục đích gây cản trở và không có một biện pháp nào của chính phủ -dù có tốt đẹp- làm vừa được lòng họ. Ðó là trường hợp của quốc hội chế Anh quốc dựa trên sự đối lập của 2 chính đảng và những quốc hội chế khác cùng dựa trên hệ thống này. Cần nói thêm rằng mức độ cải tiến về cấu trúc của các chính phủ đương thời đòi hỏi việc kiểm soát của các chính đảng đối lập cũng phải có một cấu trúc phát triển tương ứng. Những chínhđảng này phảiđược chỉ trích chính phủ một cách tự do mà không bị nghi ngờ về tinh thần ái quốc của họ.

42. Ai có thể trở thành dân biểu quốc hội?

Thực ra chúng ta bầu người đại diện chúng ta trong quốc hội không phải vì khả năng riêng biệt của họ mà bởi vì chúng tin tưởng họ. Chúng ta tin rằng họ sẽ cố gắng hết sức để bảo vệ quyền lợi của những người bầu ra họ, họ kiểm soát hoạt động cũng như những dự án của chính phủ, và giữ chính sách theo hướng mà họ đề ra khi tranh cử. Mọi người -bất kể thuộc tầng lớp xã hội nào- nếu thông minh vừa phải, có lương tâm, biết cách sắp xếp tổ chức, biết diễn đạt tương đối chính xác đều có thể hoàn tất nhiệm vụ của một dân biểu. Khi trúng cử người dân biểu sẽ có nhiều thời giờ và phương tiện để hoạt động tốt hơn. Họ sẽ dần dần thu thập kinh nghiệm, mặc dù trong chế độ dân chủ không ai có thể bảo đảm vai trò dân biểu này suốtđời cho họđược.

Số người có khả năng để làm dân biểu tuy rất nhiều nhưng trên thực tế chỉ có một số nhỏ được tuyển chọn. Con đường vào quốc hội -thông thường- là một con đường dài và khó khăn. Thường, các dân biểu là người của các chính đảng có tiếng tăm và đã hoạt động nhiều năm cho chính đảng này. Nhiều người từng có kinh nghiệm làm dân cử ở cấp huyện hoặc tỉnh. Họ phải thuyết phục ban tuyển chọn ứng viên trong đảng và có thể đã có vài ba thất bại trước khi được đứng vào vị trí "sáng giá" trong khu vực bầu cử hoặc trên danh sách của đảng nhà. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, nếu đảng nhà gặp xui trong năm đó thì chưa chắc họ sẽ trúng cử. Do đó người dân biểu cần rất nhiều sự bền chí và may mắn để thắng cử. Chỉ có những người nào đã bỏ nhiều công sức cho công việc xã hội và sẵn sàng làm việc ngày đêm mới đi đượcđếnđích.

43. Có nên cho phép dân biểu nhận các việc làm có thù lao khác không?

Những người ủng hộ lập trường này đưa ra những lý luận sau đây: người dân biểu không phải làm việc suốt cả năm, phụ cấp dân biểu không đủ sức hấp dẫn những người có tài dấn thân vào chính trường và một công việc ở ngoài sẽ giúp cho các dân biểu không mất liên lạc với thực tế. Thực ra không có lý luận nào ở trên là có lý. Dù rằng quốc hội không nhóm họp suốt cả năm nhưng công việc trong quốc hội rất bề bộn và đòi hỏi người ta phải làm việc liên tục, có nghĩa là, nếu muốn hoàn tất nhiệm vụ một cách đúng đắn người dân biểu lúc nào cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng. Ðó là điều mà cử tri chờ đợi nơi người dân biểu. Bù lại cử tri cũng đã sẵn sàng trả thù lao cho dân biểu tùy theo chức vụ mà họ gánh vác cũng như đài thọ các chi phí cần thiết khác. Không có cách nào có thể giúp người dân biểuđi sát với thự tế hơn là việc tiếp xúc thường xuyên với cử tri thuộc mọi tầng lớp dân chúng, với những ngườiđã bầu ra họ, và lắng nghe lời họ nói.

Còn một vấn đề phụ khác nhưng rất dễ xảy ra trong thực tế. Một vài nhóm hay tổ chức có thể trả lương cho dân biểu hay ký hợp đồng để vị này bảo vệ quyền lợi cho họ trong quốc hội. Loại dịch vụ này khó có thể chấp nhận được mặc dù nó rất phổ biến trong một số các quốc hội. Làm sao có thể biện bạch được rằng các dân biểu có thể đại diện cho quyền lợi của cử tri của họ trong khi mà họ cũng ăn lương để đại diện chính thức cho các nhóm quyền lợi (thường) có tầm hoạt động trên bình diện quốc gia? Việc bắt các dân biểu kê khai những nguồn thu nhập này chỉ là phương cách tạm bợ; tốt nhất là nên tuyệtđối cấm loại hoạtđộng này.

Vai trò của dân biểu rất đặc biệt vì nó có thể chấm dứt một cách đột ngột nếu không được cử tri bầu cho nữa. Ðiều này không có nghĩa là vị dân biểu đã thất bại trong nhiệm vụ của mình mà nhiều khi chỉ vì người lãnh đạo hay chương trình của chính đảng của họ không còn được lòng của cử tri nữa. Nói cho cùng tình trạng này cũng không khác hoàn cảnh của người công nhân làm trong lãnh vực tư nhân bị sa thải bất ngờ, không phải vì lý do năng suất mà vì nhu cầu thị trường. Trong cả hai trường hợp đó khổ chủ phải nhận được tiền bồi thường tương ứng với thời gian làm việc để có thểđi tìm việc làm mới. Hơn nữa họ phải nhậnđược quyền hoán chuyển tiền bồi thường này ra tiền hưu trí.

44. Làm thế nào để tận diệt tham nhũng chính trị?

Tham nhũng chính trị là việc lợi dụng chức quyền để làm giàu cho bản thân. Tham nhũng có thể xuất hiện ở mọi cấp trong hoạt động của chính quyền, bất kể đó là chính quyền của quốc gia nào. Ở tại các quốc gia dân chủ, nếu người ta nhắm mắt làm ngơ trước những hành động nhằm đem lại bổng lộc qua chức vụ, thí dụ như trong việc cho thầu các công trình công cộng hoặc trong việc cấp giấy phép thương mãi, thì những hành động này sẽ làm dân chúng dần dần mất tin tưởng vào người đại diện "chính quyền". Niềm tin của dân chúng vào dân chủ cũng sẽ bị thương tổn bởi người dân sẽ cho rằng dân chủ không xứng đáng để được bảo vệ hoặc xây dựng. Vì lẽ đó mà chúng ta phải bằng mọi cách để đối phó đúng mức với vấn đề tham nhũng chính trị. Và dù biết tham nhũng sẽ không thể bị tận diệt được, chúng ta vẫn phải làm mọi cách để giới hạn nó lại một cách tối đa.

Tham nhũng chính trị dễ có điều kiện để phát triển khi những người có chức vụ công cộng được trả lương tương đối ít hoặc ngược lại khi tham nhũng là phương cách duy nhất trong xã hội để họ tăng nguồn thu nhập. Tham nhũng cũng sinh sôi nẩy nở khi sự phát triển trong kinh tế tư nhân bị phụ thuộc vào những quyết định mờ ám của chính quyền và khi khả năng bị lộ tẩy hoặc bị trừng trị khó xảy ra. Khi tìm hiểu môi trường phát sinh tham nhũng như trên, chúng ta cũng đã phần nào thấy những phương thuốc chữa bệnh tham nhũng: trả lương tương xứng cho những người giữ các trách vụ công mặc dù cũng không cần phải trả lương quá cao so với mức lương trong các ngành nghề khác; đặt một khung luật pháp và thủ tục rõ ràng minh bạch cho toàn bộ các quyết định có thể đem lợi lại cho giới kinh tế tư nhân; và cuối cùng làm cho các hoạt động chính quyền trở nên minh bạch theo đúng như luật pháp đòi hỏi để các cơ quan tư pháp có thể điều tra khách quan khi có nghi ngờ gian lậu.

Phương thuốc hữu hiệu nhất để chữa bệnh tham nhũng là việc xây dựng một tinh thần và truyền thống không quá chú tâm đến những lợi lộc cá nhân trong một nền kinh tế thị trường. Cần nói rõ rằng tất cả những biện pháp này, nhất là biện pháp cuối cùng vừa nêu, đều không thểđem ra áp dụng ở những nơi mà nạn tham nhũngđã bám rễ sâu và trở thành mãn tính.

45. Vai trò của bộ máy hành chính trong chế độ dân chủ

Ðể hàng ngày có thể điều hành công việc quốc gia, chính phủ phải dựa vào những công chức hành chánh cao cấp. Ðây là những người làm việc toàn thời gian nhưng không do dân bầu. Những công chức cao cấp này có hai nhiệm vụ. Thứ nhất, họ là những chuyên viên có thể đóng góp ý kiến về các chính sách và về việc soạn thảo các dự luật để đưa ra quốc hội. Thứ hai họ là người lãnh đạo nhân sự trong bộ máy hành chánh để thi hành các chính sách và áp dụng các đạo luật. Người ta chờ đợi họ sẽ thực thi hai chức năng này một cách có lương tâm và không thiên vị. Họ sẽ làm công việc này mà không chịu ảnh hưởng bởi (những) thế lực đang cầm quyền hoặc vào quan điểm của ngay cả chính cá nhân họ đối với chính sách đương thời. Nếu các chính phủ ngày nay không thể dựa trên một bộ máy hành chánh gồm những nhân sự chuyên nghiệp như vậy thì hoạt động của bộ máy hành chánh trong một chế độ dân chủ sẽ đụng phải một số các vấn đề khá đặc biệt, chẳng hạn như việc chỉ định những người chịu trách nhiệm về bộ máy hành chánh, cơ chế giám sát hoạt động của những công chức cao cấp hoặc thể thức tuyển chọn họ.

Vấn đề thứ nhất (chỉ định nhân sự) thực ra là mối bận tâm của các chính đảng. Họ sợ nếu để các công chức cao cấp được tự do lựa chọn việc áp dụng chính sách của chính đảng đang cầm quyền thì các công chức này có thể sẽ gây trở ngại hoặc có thể lợi dụng hiểu biết về các hồ sơ (mà chỉ có họ mới nắm vững) để cố vấn chệch hướng cho các bộ trưởng (thường không thông thạo các vấn đề bằng các cố vấn). Mối bận tâm này nhiều khi bị thổi phồng quá đáng. Phận sự của các công chức cao cấp là phải cho tiến hành việc đánh giá nghiêm chỉnh về các dự án của chính phủ dựa trên những ý kiến phản bác cũng như dựa trên những khó khăn mà dự án này có thể gây ra khi được đem ra áp dụng, vì chính họ cũng là người có nhiệm vụ thực thi các dự án này.

Vì thế họ thường bị hiểu lầm là cố ý cản chặn chính sách. Nhưng ngoài ra cũng còn có một vấn đề khác nữa: các công chức cao cấp có thể họp lại thành một tập thể tuy không được dân bầu nhưng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc định hướng các chính sách nói chung và có thể lợi dụng ảnh hưởng này cho các mục đích phi dân chủ. Trong các chế độ dân chủ lâu đời, người ta dùng một trong hai phương thức sau đây để giới hạn sự rủi ro này lại. Phương cách thứ nhất cho phép thế lực cầm quyền được quyền bổ nhiệm một hay nhiều viên chức lãnh đạo bộ máy hành chánh trong các bộ. Người đảm nhiệm chức vụ này, trên nguyên tắc, sẽ bị thuyên chuyển sau mỗi kỳ thay đổi chính phủ. Phương cách thứ hai là thành lập văn phòng giúp đỡ cho bộ trưởng. Văn phòng này gồm những chuyên viên có thể giải thích về các hồ sơ một cách khác cho vị bộ trưởng nghe cũng như có thể kiểm soát một cách hoàn toàn độc lập về các ý kiến của các công chức cao cấp. Phải nói ngay rằng không có phương thức nào trong hai cách trên là hoàn hảo nhưng nói cho cùng chúng vẫn mang lại lợi nhiều hơn hại.

Vấn đề thứ hai là trách nhiệm của những công chức cao cấp. Mỗi bộ được xây dựng trên một hệ thống nhân sự có thứ bậc, chịu trách nhiệm tăng dần với vị bộ trưởng và chịu trách nhiệm thông qua vị bộ trưởng này với quốc hội. Người ta có thể đặt vấn đề một cách xác đáng rằng, trong một chế độ dân chủ, liệu các công chức cao cấp có còn phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước luật pháp, đối với quốc hội và công chúng, để trong một vài trường hợp nào đó, trách nhiệm này sẽ phải được đặt cao hơn sự phục tùng theo thứ bậc quyền hạn. Một công chức sẽ phải xử sự thế nào khi lệnh trên hàm chứa một sự vi phạm pháp luật, một sự lừa dối quốc hội hoặc sự xâm phạm đến quyền lợi của những người mà họ có bổn phận phải phục vụ? Những thí dụ vừa kể đã cho ta thấy những mâu thuẫn có thể xảy ra giữa hai loại trách nhiệm: giữa trách nhiệm của một công chức hành chánh và trách nhiệm của một công dân trong một chế độ dân chủ. Trong thực tế, nhiều công chức đã sử dụng phương cách cho rò rỉ thông tin để giải quyết thế kẹt này. Thực tế này lại càng cho thấy sự cần thiết phải cho thông qua một đạo luật nhằm bảo vệ những người cung cấp thông tin nằm trong bộ máy hành pháp.

Vấn đề thứ ba là phương thức tuyển chọn công chức hành chính cao cấp trong một chế độ dân chủ. Ðể bảo đảm phẩm chất, các công chức sẽ được tuyển chọn trong số các ứng viên có trình độ đại học hoặc được đào tạo và có khả năng chuyên môn thích ứng, dĩ không phụ thuộc vào thành phần đảng phái của họ. Nếu phương cách tuyển chọn này trong một chừng mực nào đó có thể bảo đảm rằng các ứng viên trúng tuyển thuộc về thành phần trí thức ưu tú thì người ta cần giữ để nó sao cho nó không chỉ ưu đãi một số thành phần xã hội nào đó. Trong một chế độ dân chủ, nhà chức trách cần phải phản ánh cấu trúc xã hội. Theo nguyên tắc bình đẳng chính trị thì mọi việc ở các công sở phải rộng mở đối với mọi người không phân biệt họ thuộc thành phần xã hội nào. Ðiều này đòi hỏi phải có những biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự kỳ thị, để bảođảm thực thi sự bìnhđẳng giữa các giới phái trong hệ thống giáo dục cũng như trong việc tuyển chọn công chức cho các cơ quan.

46. Công dân có phương tiện nàođể buộc các cơ quan nhà nước phải làm tròn trách nhiệm đã được giao phó?

Người dân trong một chế độ dân chủ có nhiều phương tiện hữu hiệu để đối phó với những đại diện của các cơ quan công quyền một khi quyền lợi của họ bị một quyết định phi pháp hoặc một lỗi lầm của bộ máy hành chính (cẩu thả, chậm trễ, tùy tiện, ...) xâm phạm. Gặp trường hợp lạm quyền, người dân có thể kiện sự vụ ra tòa án. Gặp trường hợp cơ quan hành chánh làm sai, người dân có thể nhờ vị dân biểu của đơn vị bầu cử của mình hoặc các cơ sở trung gian hòa giải can thiệp. Cơ sở trung gian hòa giải là nơi có trách nhiệm cứu xét đến nơi đến chốn những khiếu nại của những công dân cho rằng mình bị chính quyền chèn ép. Mới đây có thêm Hiến Chương Công Dân ra đời để quy định việc bồi thường cho những người (tiêu thụ) phải chịu thiệt thòi do sự thiếu trách nhiệm của những cơ quan cung cấp dịch vụ công cộng, khi các cơ quan này cung cấp cho họ trợ cấp thấp hơn mức luật pháp quy định.

Trên đây chúng ta đã chỉ nêu những thí dụ liên quan đến loại trách nhiệm về tiêu thụ và đòi hỏi những cam kết phải đặc biệt được tôn trọng. Loại trách nhiệm này khác với loại trách nhiệm tập thể mà chúng tađã có dịp xem qua trong phần 38. Nhìn chung những thí dụ này nhắc nhở chúng ta rằng, quần chúng trong tổng thể của nó là khách hàng của những dịch vụ cung cấp bởi các cơ quan công quyền, và nói cho cùng thì người lãnhđạo quốc gia cũng phải có bổn phận báo cáo với quần chúng nhân dân về việc thực hiện những trách nhiệm về tư pháp, chính trị và tài chính.

47. Làm thế nào để bảo đảm sự kiểm soát của một chính quyền dân sự đối với quân đội?

Ở tại các quốc gia có truyền thống dân chủ vững chắc, nghĩa là tại những xứ mà làn ranh giữa lãnh vực chính trị và quân sự được định nghĩa thật rõ ràng và được bảo vệ một cách chu đáo, sự kiểm soát của chính quyền dân sự đối với quân đội sẽ không gặp nhiều khó khăn ngoại trừ một vài trường hợp có tranh chấp nhỏ liên quan đến việc mua vũ khí, định mức quân số, điều kiện sinh hoạt của quân đội. Trong khi đó lịch sử tại các quốc gia dân chủ tân lập lại thường ghi nhận những vụ đảo chính, những chế độ quân phiệt, ở đó thành phần chính phủ và những chính sách dự tính đều phải đưa qua cho các lãnh tụ quân đội duyệt xét. Bài toán quân đội lạm quyền tại những nước này hầu như khó có thể giải quyết được. Ở bất cứ ở nước nào cũng vậy, quân đội luôn luôn có nhiều phương tiện vật chất và tổ chức để có thể phế bỏ những vị lãnh đạo chính trị dân cử, tiếm chiếm quyền lực và đặt dân chúng dưới sự điều khiển của họ. Như thế vấn đề mà chúng ta đang bàn phụ thuộc rất lớn vào thiện chí của quân đội trong việc hành xử cho đúng với vai trò của mình.

Làm cách nào để thuyết phục quân đội theo chiều hướng này? Người ta khó có thể bảo đảm sự phục tùng của quân đội đối với giới lãnh đạo chính trị dân cử bằng cách chỉ dạy họ rằng quân đội cần giữ thế phi chính trị, hoặc mua chuộc họ bằng lương cao, vị thế lớn, hay bằng cách trang bị những hệ thống vũ khí tinh vi cho họ. Sự bất bình trong quân đội hiếm khi gây ra những cuộc đảo chánh mặc dù đôi khi nó cũng đóng một vai trò xúc tác thêm. Thường quân đội đứng lên lật đổ chính phủ dân sự khi đất nước bị khủng khoảng nặng nề và lâu dài mà cả những người cầm quyền lẫn các cơ quan (dân sự) đều bó tay: nội chiến, lạm phát triền miên, trật tự xã hội rối loạn, tham nhũng lộ liễu và sâu rộng. Quân đội cũng có thể đảo chính để ngăn chặn một chính đảng cực đoan thắng cử và lên cầm quyền. Trong cả hai trường hợp vừa nêu nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp của quân đội không xuất phát từ bản chất của quân đội mà do chế độ dân chủ quá yếu kém khiến cho các cơ chế của nó không làm việc đúng đắn được.

Dù thế nào, một chính phủ quân đội tốt lắm cũng chỉ đem lại phương thuốc tạm và không thể là một giải pháp lâu bền cho những vấn đề của xã hội. Có thời, cách đây khoảng mười hay hai mươi năm, người ta có mốt ca ngợi quân đội là đầu tàu trong công cuộc canh tân kinh tế và xây dựng quốc gia, và đem nó ra để đối chọi với cơ chế chính trị dân chủ đầy rẫy tham nhũng và chia rẽ. Nhưng quân đội đã không thể đem lại cho chính phủ một tư thế chính danh trong việc cầm quyền, chưa kể rằng bản tổng kết về hoạt động của các chính quyền quân sự rất thê thảm. Không phải khi điều hành quốc gia một cách bất cần dư luận và trong sự bí mật mà người ta có thể đối phó hữu hiệu được với nạn tham nhũng. Ngược lại, điều này còn có thể bao che cho tham nhũng nữa. Chính phủ quân sự cũng không bảo đảm được cả cho những hoạt động kinh tế trong sạch nữa. Sau hết cần phải biết rằng, các chính phủ quân sự cũng có thành tích vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, là điều khó có thể chấp nhận đối với mọi hình thức chính phủ hoạt động dựa trên sự trong sáng.

Chúng ta hiện không có giải pháp nào đáng tin cậy hơn để thay thế tiến trình từng bước củng cố các cơ chế dân chủ, củng cố một chính quyền hợp hiến và củng cố nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mà trong trường hợp thất bại, chúng ta sẽ phải nhờ đến sự hỗ trợ của cộng đồng thế giới. Ðể giải quyết các mâu thuẫn chính trong xã hội chúng ta cũng không có phương tiện nào khác hơn là tìm một giải pháp chính trị dựa trên sự thương lượng và thỏa thuận. Song song với phương thức này chúng ta cần định ra những phương thức hữu hiệu hơn nữa, cả trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế, để truy ra và trừng phạt những vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất, đặc biệt đối với những vi phạm của nhân viên trong bộ máy nhà nước, và để chế tài những chếđộ dung dưỡng cho sự vi phạm nhân quyềnđó.


48. Cơ quan tình báo có chỗ đứng trong một chế độ dân chủ không?

Về mặt nguyên tắc, dân chủ không chấp nhận bất cứ hình thức hoạt động bí mật nào của chính quyền. Nhưng các quốc gia dân chủ nào cũng bắt buộc phải có những hoạt động ngầm để bảo vệ cho người dân trước những đe dọa đến từ nước ngoài, từ những tổ chức phạm pháp hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, hoặc những âm mưu lật đổ nhắm vào các cơ chế dân chủ. Loại hoạt động bí mật này sẽ dẫn đến việc áp dụng những phương thức xâm phạm vào quyền công dân - bao gồm việc giám sát và dọ thám bằng điện tử, nghe lén điện thoại đến đủ mọi trò gian xảo khác. Do bản chất bí mật, những hoạt động này lại càng dễ bị lợi dụng vào những mục đích khác với mục đích được luật pháp cho phép chính thức và có thể bị đem áp dụng đối với những hoạt động hoặc những tổ chức chính trị hoàn toàn hợp pháp nhưng bị chính quyền đương thời xem là đi ngược với chính sách của họ.

Như vậy vấn đề được đặt ra ở đây phụ thuộc vào sự kiểm soát về mặt chính trị đối với các loại hoạt động bí mật này. Chỉ quy định chung chung rằng những hoạt động an ninh phải chịu trách nhiệm trước quốc hội hoặc trước một hay nhiều bộ trưởng chưa đủ. Cần phải thành lập một ủy ban đặc biệt của quốc hội - có thể nhóm họp bí mật bất cứ lúc nào thấy có nhu cầu cần thiết - để giám sát các loại hoạt động này cũng như kiểm soát việc thực sự áp dụng những quy định đã được công bố trước công chúng đối với loại hoạt động này. Ngoài ra ủy ban trung gian này phải có được thẩm quyền giải quyết những khiếu nại của người dân về những hành vi theo dõi các hoạt động hoàn toàn hợp pháp của họ khi họ có đủ lý dođể chứng minh rằng hành vi này xâm phạmđến quyền công dân của họ.

49. Tại sao các đơn vị hành chánh địa phương lại quan trọng đối với nền dân chủ?

Ðể bảo đảm tính năng động, một quốc gia theo chế độ dân chủ cần phải có những đơn vị hành chánh địa phương (tỉnh, huyện, xã) được người dân bầu lên vì những lý do sau đây. Cơ chế đại diện địa phương gia tăng thêm khả năng tham gia vào diễn trình quyết định những công việc chung cũng như số người tham gia vào diễn trình ấy. Do tính bám rễ địa phương mà các cơ chế này dễ đáp ứng các nhu cầu và những đặc thù của địa phương hơn là chính quyền trung ương của bình diện quốc gia. Cơ chế này cũng cho phép đem thử nghiệm một vài chính sách trong một phạm vi nhỏ của địa phương và nếu thành công có thể đem áp dụng tại những địa phương khác kể cả việc áp dụng trên bình diện toàn quốc. Ngoài ra cơ chế này cũng được dùng làm thước đo thử sức những người muốn có sự nghiệp chính trị trên bình diện quốc gia và cũng cho phép các chính đảng thua cuộc trong cuộc đầu phiếu toàn quốc có thể rút về các thành trì địa phương của họ. Sau hết, để giới hạn sự tập trung quyền hành vào tay chính quyền trung ương, theo tinh thần của hiến pháp, cơ chế này còn mở nguyên tắc phân quyền ra về chiều rộng. Nhìn riêng rẽ, mỗi đặc tính này đều rất quan trọng; khi gộp chung lại, chúng cho thấy lợi ích không thể phản bác được của các đơn vị hành chánh dân cử địa phương.

Song, các thế lực hùng hậu tại các quốc gia trên thế giới hiện nay lại đang muốn tập trung diễn trình quyết định chính trị vào tay trung ương. Do đó những người có trách nhiệm về tài chánh trong các chính quyền thường tìm cách kiểm soát tổng khối lượng chi tiêu trong lãnh vực công, một phương cách được họ xem là phương tiện quan trọng để điều hành nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra chính quyền trung ương khó mà chấp nhận để cho các đối thủ chính trị có thể tạo cản trở đối với các chính sách của họ hoặc làm giảm ảnh hưởng của những chính sách này tại địa phương. Sau hết, trong một xã hội ngày càng có nhiều chuyển động, người dân ngày càng khó chấp nhận sự cách biệt quá lớn về mặt dịch vụ công cộng giữa các địa phương. Sự bình đẳng giữa các công dân đòi hỏi phải có sự bình đẳng về những dịch vụ mà họ được hưởng. Ðể thực hiện sự bình đẳng vừa kể, nếu bên cạnh các quy định chung lại còn bắt các địa phương phải chấp nhận một sự điều phối đáng kể về tài nguyên cho nhau, thì sự tự trị của các đơn vị hành chánh địa phương sẽ bị sút giảm một cách đáng kể, và kèm theođó là sự giảm sút về khả năng chọn lựa của cử tri trong các cuộcđầu phiếu.

Chúng ta không có một phương thức giải quyết nào vừa đơn giản vừa có khả năng áp dụng chung để giải quyết những ưu tiên xung khắc vừa nêu. Tuy nhiên, nếu chúng ta ý thức rằng hiện nay những áp lực mạnh nhất xuất phát từ phía những người ủng hộ tập quyền, thì quyền lợi của những đơn vị hành chánh địa phương mới đáng được bảo vệ hơn cả. Một sự bảo vệ tối thiểu sẽ phải có đủ những đặc điểm sau đây: cử tri có thể hiểu một cách rõ ràng và dễ dàng về sự phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan quyền lực trung ương và địa phương; địa phương phải có đủ quyền và đủ phương tiện để có thể thực hiện những trách vụ của mình trong khuôn khổ phải lưu tâm đến nhu cầu đặc thù của địa phương và những quy định quốc gia đang có hiệu lực. Muốn bảo vệ quyền lợi địa phương người ta cũng cần dự phòng những phương cách thích hợp để cho các đại diện trách nhiệm của đơn vị hành chánh địa phương có thể báo cáo cho cử tri về các hoạt động của họ. Ngoài ra cũng cần phải có một đạo luật nhằm ngăn ngừa chính quyền trung ương lấn bước sang những đặc quyền của địa phương; Có thể giao cho một tòa án hiến pháp giám sát việc áp dụng đạo luật này. Sau cùng và quan trọng hơn cả, phẩm chất của quan hệ giữa cơ quan quyền lực trung ương vàđịa phương phụ thuộc chính yếu vào tháiđộ hợp tác và sự công nhận lẫn nhau trên các lãnh vực thẩm quyền của nhau - hơn là chấp nê với nhau về pháp lý.

50. Chế độ liên bang thích hợp trong những điều kiện nào?

Chế độ liên bang dựa trên nguyên tắc phân chia lãnh thổ quốc gia thành nhiều tiểu bang riêng biệt, mỗi tiểu bang có một quốc hội dân cử và một bộ máy hành pháp riêng. Mỗi một quốc hội tiểu bang có quyền biểu quyết về mức độ thuế và việc thu thuế căn cứ vào sự phân chia quyền hạn giữa những tiểu bang và chính quyền trung ương quốc gia được quy định bởi hiến pháp. Lịch sử cho thấy các quốc gia theo chế độ liên bang đã được hình thành theo nhiều cách khác nhau: qua sự hợp nhất những nước trước đây hoàn toàn độc lập chủ quyền, hay qua sự công nhận chế độ tự trị của các vùng hoặc quốc gia trướcđây thuộc về một nước duy nhất, hay qua việc cùng chấp nhận một thỏaước dựng nước.

Nói chung chế độ liên bang thích hợp với những nước có lãnh thổ rộng lớn bao gồm trong đó những vùng mang sắc thái văn hóa và địa lý rất khác biệt mà nằm gần nhau. Chế độ liên bang cũng có khả năng đáp ứng được với nhu cầu đòi tự trị của các thiểu số sắc tộc hoặc văn hóa cùng sống trong một không gian địa lý, để tránh khỏi phải chấp nhận một sự độc lập chủ quyền hoàn toàn. Nhiều khi việc chấp nhận sống chung dưới một mái nhà còn có lợi hơn việc chia cách hoàn toàn hoặc mất thời giờ tranh cãi với nhau tối ngày. Người ta cũng thấy rằng một phần lớn những lập luận ủng hộ cho việc thành lập các quốc hội dân cử địa phương (mà chúng ta đã vừa xét qua ở phần trước) cũng đúng một cách xácđáng với chếđộ liên bang.

 

(Phần kế tiếp  )