Nguyên Tắc Dân
Chủ (3/4)
Mục
tiêu dân chủ phải được hướng dẫn
bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi
nỗ lực dân chủ.
Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực
hiện hoặc
dễ
thất
bại
khi nhân tố tham chính
(cộng-sản
hay không-cộng-sản) mang
hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ.
Do
đó trong
quan
niệm
‘vấn
nạn
hiện
thực không phải là chấp nhận tư tưởng
dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng
và hành động phản-dân-chủ’
Diễn đàn Dân Chủ cố gắng
giới
thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên
tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu
tư đến tương lai dân tộc có thể suy
luận để so sánh phủ định
quan
điểm và
hành
động phản-dân-chủ
bởi
vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công
cơ
chế quốc trị dân chủ quy
phục và phụng sự nhân dân trong
tương lai trên nền tảng tư duy
và
kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không
lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp
tục phát triển nhờ vào cơ chế
dân
chủ khai phóng tiềm năng đóng góp
của
toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam
lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo
hèn bởi
thành
phần lãnh đạo độc tài mang
hành trang
tư
duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần
tài liệu Các
vấn đề dân chủ sau
đây trình bày nhiều đề tài khả dụng
như định chế dân chủ, vai trò chính
đảng, truyền thông, luật pháp, kinh
tế thị trường, trách nhiệm của chính
quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển
cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản,
quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy
sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn
Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý
bạn.
III. Tính trong suốt và trách nhiệm của chính
quyền
Sự trong suốt
của các hoạt động của chính quyền là
điều không thể thiếu được trong dân
chủ, bởi nếu không có những thông tin chính xác về
các hoạt động của chính quyền cũng
như về ảnh hưởng của các chính sách, thì
những người nắm giữ các trách nhiệm trong
lãnh cực công sẽ không thể nào đánh giá
được về các hoạt động của mình
và người dân cũng bị mất những yếu dùng
dùng làm cơ sở xét đoán cho việc sử dụng
lá phiếu của họ trong các ký bấu cử. Sự
tiếp cận các nguồn thông tin loại này, do đó,
phải được xem như là một loại quyền
của công dân và của các phương tiện truyền
thông hoạt động đại diện cho dân chứ
không thể bị xem là quyền lợi được
chính quyền ban phát. Bởi cử tri là người chọn
ra chính quyền nên họ phải có quyền được
biết họ đã bỏ tiền ra mua món hàng nào và người
ta đã đại diện họ dể làm chuyện gì.
Dù rằng việc
tổ chức để người dân có thể tiếp
cận với các thông tin loại này bị xem là một
sự phung phí ngân quỹ quốc gia nhưng chính việc
này lại góp phần làm gia tăng hiệu năng của
các hoạt động chính quyền bằng cách
đưa ra ánh sáng những vụ lãng phí công quỹ,
chống tệ nạn tham nhũng và vạch ra những
sai lầm của chính quyền trước khi chúng trở
thành bệnh mãn tính. Việc để cho các công dân
được tiếp cận với những hồ
sơ của chính quyền cũng như của các cơ
quan trực thuộc có liên quan đến dân là một
thành tố quan trọng của việc bảo vệ các
quyền tự do của người dân. Nhưng thế
nào là sự trong suốt của hoạt động của
chính quyền? Chúng ta có thể xem sự trong suốt này
phải bao gồm bốn mặt chính. Thứ nhất, sự
trong suốt bao gồm việc chính quyền phải tự
mình cung cấp thông tin về những dữ kiện liên
quan đến những chính sách, chẳng hạn như
những số liệu được dùng làm cơ sở
cho việc hình thành chính sách, những ảnh hưởng
thực tế, những hậu quả, những
phương thức áp dụng v.v...
Thứ nhì, sự
trong suốt bao gồm khả năng để tư nhân
và báo chí tiếp cận - một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp thông qua quốc hội - với những hồ
sơ tài liệu của chính quyền. Thứ ba, sự
trong suốt bao gồm tính chất công khai của các buổi
hội họp, thí dụ những phiên họp của quốc
hội, của các ủy ban trong quốc hội, của
những công sở hoặc đơn vị hành chánh
địa phương. Cuối cùng, sự trong suốt
bao gồm việc chính quyền, khi muốn soạn thảo
và thi hành những chính sách, phải tham khảo ý kiến
của những nhóm quyền lợi liên hệ một
cách có hệ thống, bao gồm cả việc phổ biến
thông tin và những góp ý nhận được trong những
buổi tham khảo này.
Sự trong suốt của hoạt động
chính quyền có loại trừ một số loại
thông tin nào đó không? Trong những thể chế dân chủ,
những loại thông tin sau đây thường được
xem là cần bảo mật một cách chính đáng: quyết
định của nội các hay của hội đồng
bộ trưởng, ý kiến mang tính cách chính trị của
các công chức cao cấp đối với thành viên
chính phủ. Ðây là những tin tức mà nếu bị lộ
ra thì sẽ ảnh hưởngđến nền an ninh quốc
gia, sự toàn vẹn của cơ chế dân chủ, sự
an toàn nhân thân của một số cá nhân, những bí mật
thương mãi của những hãng xưởng, những
hồ sơ nhân viên mà chỉ có người có trách nhiệm
mớiđược phép tiếp cận.
37.
Làm thế nào để bảo đảm cho hoạt
động chính quyền được trong suốt?
Trong thế kỷ
trước, khi phạm vi hoạt động chính quyền
còn hạn chế, người ta nghĩ rằng chỉ cần
quyền tự do báo chí là đủ để bảo
đảm sự trong suốt của hoạt động
chính quyền. Ngày nay, ý thức rằng sự phức tạp
ngày càng tăng và ảnh hưởng ngày càng lớn của
chính quyền, một sự bảo vệ chặt chẽ
nhất về quyền tự do báo chí - trong đó bao gồm
cả việc bảo mật những nguồn cung cấp
thông tin cho báo chí - cũng chưa đủ. Chính quyền
và những cơ quan hành chánh có khuynh hướng tự
nhiên là thích ẩn núp sau bức màn bí mật để
bao che cho những sai lầm hoặc lạm quyền, để
tránh gặp phiền phức hoặc chỉ đơn giản
là khỏi phải thú nhận những lỗi lầm.
Ngày này, phương cách hữu hiệu duy nhất để
chặn đứng khuynh hướng này là việc thông
qua một đạo luật bắt buộc phải bảo
đảm sự trong suốt của hoạt động
chính quyền, hay nói cách khác là bảo đảm quyền
tiếp cận thông tin.
Hoa Kỳ và
Thụy Ðiển là hai quốc gia có nhiều đạo
luật tiêu biểu cho việc bảo đảm quyền
tự do tiếp cận thông tin. Những đạo luật
này (đã được mổ xẻ kỹ trong câu 36)
quy định chính phủ có bổn phận phải công
bố hoạt động của mình, quy định quyền
của người dân được tiếp cận với
những tài liệu của chính phủ, quy định phải
mở cửa cho công chúng tham dự các buổi họp của
các cơ chế quyền lực và quy định việc
bảo vệ cho những thành viên nào của bộ máy
hành pháp muốn đưa tin (tố cáo) về sự thi
hành đáng chê trách hoặc gian lậu của khối
hành pháp. Ðây là những đạo luật có tính cách củng
cố và bổ túc cho những quy định cho phép các
dân biểu hoặc thành viên quốc hội được
quyền tiến hành các cuộc giám sát hoạt động
của khối hành pháp. Ðây là những đạo luật
cho phép các tòa án chứ không phải là chính quyền -
đây mới chính là khía cạnh quan trọng nhất của
các đạo luật thuộc lại này - được
phép định nghĩa những ngoại lệ của
nguyên tắc trong suốt, tức là những ngoại lệ
cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia
và đời sống riêng tư.
Chúng ta cũng
cần bàn thêm về hai vấn đề sau đây. Vấn
đề thứ nhất là tầm quan trọng của
ngân quỹ được các chính quyền dùng trong việc
giao tế công cộng (*). Ngày này giao tế công cộng
không còn giới hạn trong việc trình bày những
thông tin dữ liệu liên quan đến hoạt động
của chính phủ mà còn bao gồm cả những quyết
định về lịch thông báo, việc lựa chọn
chiến lược trình bày thông tin sao cho thông tin
được đón nhận một cách thuận lợi
nhất, việc để rò rỉ những thông tin
"đã được chọn lựa" và tất cả
mọi thủ thuật trong ngành giao tế công cộng
để gây ảnh hưởng đến dư luận
xã hội. Vì có những thủ thuật như vậy nên
luật pháp phải đặc biệt bảo đảm
quyền được hỏi và quyền được
kiểm tra những thông tin do chính quyền đưa ra một
cách thực sư tự do. Liên quan đến vấn
đề này, người ta cần thành lập một dịch
vụ thống kê công cộng độc lập với
chính quyền để cho quốc hội và dân chúng có
thể hỏi thăm một cách thật bình đẳng
(so với chính quyền).
Vấn đề thứ hai là sự
trong suốt của hoạt động chính quyền vượt
quá phạm vi của quyền được tự do tiếp
cận thông tin rất nhiều. Phạm vi của sự
trong suốt bao gồm cả khả năng đòi hỏi
một vị bộ trưởng phải biện hộ
cho hành động của mình và phải đưa vấn
đề ra tranh luận công khai, bao gồm cả nghĩa
vụ (mà tùy trường hợp sẽ được
gia giảm về sự bó buộc) của một chính phủ
phải đưa việc soạn thảo và thi hành chính
sách ra hỏi ý kiến công luận. Về điểm cuối
vừa nêu, người ta cần phải có một đạo
luật ấn định rõ lịch trình và phương
thức tham khảo, ấn định việc phổ biến
rộng rãi các thông tin do các phe phái khác nhau cung cấp về
vấn đề đang bàn cãi và ấn định việc
lượng giá sự ảnh hưởng đến môi
trường xung quanh của các dự án. Khái niệm về
sự trong suốt ởđây bao gồm khả năng của
một chính quyền cả trong việc biết làm tốt
việcđể cho người dân tiếp cận với
thông tin lẫn trong việc biết lắng nghe.
(*) Giao tế cộng cộng: public relation, relation publique,
Oeffentlichkeitsarbeit
38.
Thế nào là trách nhiệm của chính quyền?
Trách nhiệm
của chính quyền được đạt ra trên ba
phương diện.
Thứ nhất
là trách nhiệm về mặt pháp lý, nghĩa là mọi
cá nhân dảm nhiệm các trách vụ công cộng - dù do
dân bầu lên hay không - đều phải chịu trách
nhiệm trước tòa án về tính hợp pháp của
các hành động của mình. Ðây là điểm cốt
lõi của nguyên tắc thượng tôn pháp luật, theo
đó, những người soan thảo cũng như những
người áp dụng luật pháp và chính sách đều
phải hoạt động trong khuôn khổ của hiến
pháp và luật pháp, dựa trên những quyền hạn
mà luật pháp quy định và giới hạn cho họ.
Thứ hai là
trách nhiệm về mặt chính trị, nghĩa là chính
quyền hay bộ máy hành pháp phải có trách nhiệm
trình bày cho quốc hội hoặc nhân dân rằng, các
chính sách, lớp lang tổ chức và phương thức
thực hiện các chính sách đó được đụa
trên những cơ sơ có căn cứ. Việc quy kết
trách nhiệm trong loại trách nhiệm pháp lý có thể
thực hiện được một cách tương
đối đơn giản bằng cách đưa
người có chức vụ ra tòa để xử. Trong
khi đó, việc quy kết trách nhiệm trong loại
trách nhiệm chính trị không đơn giản chút nào
vì việc thực hiện chính sách rất phức tạp.
Thông thường các cơ quan nhà nước trực thuộc
chính quyền mà trong đó các nhân viên không được
chọn qua một cuộc bầu cử (như trong bộ
máy hành chánh, lực lượng vũ trang, lực lượng
cảnh sát, các cơ quan an ninh) sẽ phải chịu trách
nhiệm trước vị chủ tịch bộ máy hành
pháp (do dân bầu) qua trung gian của các bộ trưởng
do chính vị chủ tịch này bổ nhiệm. Về phần
của họ, vị chủ tịch bộ máy hành pháp
và các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm
trước dân chúng (phán xét qua các kỳ bầu cử)
cũng như trước quốc hội (trong vai trò
đại diện của dân giữa hai kỳ bầu cử).
Các dân biểu quốc hội sau đó cũng phải báo
cáo lại cho các cử tri của mình.
Thứ ba là
trách nhiệm về mặt tài chính nhằm bảo đảm
việc chi dùng tiền thuế vào những mục đích
đã được cơ quan lập pháp (quốc hội)
phê chuẩn, để việc chi dùng này càng hữu hiệu
bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Ðường dây trách nhiệm
của loại trách nhiệm tài chính cũng giống
như đường dây của loại trách nhiệm
chính trị cộng với vai trò của một vị tổng
thanh tra các trương mục. Vị tổng thanh tra này
tuy phải chịu trách nhiệm trước quốc hội
nhưng lại hoạt động hoàn toàn độc lập
về mặt chuyên môn khi đi kiểm tra chi tiết các
khoản chi tiêu của chính phủ.
. Mỗi đường dây này góp phần
thực hiện nguyên tắc dân chủ: người dân
được quyền kiểm soát chính phủ. Muốn
quy trách nhiệm về chính trị và tái chính, người
ta thấy cách tốt nhất là ủy nhiệm việc
kiểm soát cho các cơ quan chuyên môn. Những cơ quan
này - trong phạm vi hoạt động của họ - rất
cần được hưởng sự bảo vệ
tương đối nào đó trước áp lực của
công chúng hoặc của những người giữ trách
vụ chính trị và được kính trọng bởi
lương tâm chức nghiệp của họ. Phân tích
cho cùng, khiđã có tòa án giữ gìm việc tuân thủ
luật pháp và khi có tổng thanh tra kiểm nhận các
chi tiêu là phù hợp với sự duyệt xét ngân sách của
quốc hội và với hiến pháp thì chỉ còn trách
nhiệm chính trị là cầnđáng lưu ý hơn cả.
39.
Tại sao sự phân quyền lại quan trọng?
Việc cầm
quyền ở các nước dân chủ được
chia thành ba ngành, đó là ngành hành pháp (thường
được gọi cho tiện là "chính quyền")
có trách nhiệm soạn thảo và áp dụng các chính
sách, ngành lập pháp (quốc hội hoặc viện dân
biểu) có trách nhiệm phê chuẩn các đạo luật
và các sắc thuế cũng như kiểm soát hành pháp,
và ngành tư pháp (các tòa án) có nhiệm vụ giám sát
việc thi hành luật, nghĩa là tìm ra các trường
hợp vi phạm, và xét xử thủ phạm của những
vi phạm này.
Sự tách quyền
lực thành ba ngành riêng biệt là nguyên tắc then chốt
để bảo vệ những dạng trách nhiệm
pháp lý, chính trị và tài chính vừa được
đề cập ở trên. Nếu như tòa án không
độc lập với lập pháp và hành pháp thì nó
không thể canh chừng việc hành động phù hợp
theo pháp luật của những người mang trách vụ
công mà không sợ bị trả thù hoặc mong được
thưởng. Tương tự như vậy, nếu quốc
hội không có quyền phê chuẩn các đạo luật
một cách thật độc lập, không có quyền
quyết định về thuế khóa hoặc kiểm
soát hành pháp thì trách nhiệm chính trị và tài chính của
chính quyền đối với cử tri sẽ bị sói
mòn.
Mặc dù sự
tách biệt giữa ngành lập pháp và hành pháp là một
trong những đặc trưng truyền thống của
các chính quyền dân chủ nhưng sự tách biệt
này cũng biến dạng tùy theo những chế độ
chính trị khác nhau. Chính trong các chế độ có tổng
thống, khi việc bầu vị chủ tịch hành
pháp (tổng thống) được tách khỏi việc
bầu các dân biểu và khi mà vị chủ tịch hành
pháp không giữ vai trò nào trong lãnh vực lập pháp, người
ta thấy hai ngành quyền lực này được tách
biệt rõ ràng nhất. Ngược lại, trong một
chế độ đựa vào thủ tướng, khi
người lãnh đạo của chính đảng chiếm
đa số trong quốc hội được gọi ra
điều khiển chính quyền, thì có thể nói rằng
vị chủ tịch hành pháp này lúc nào cũng đứng
ở vị trí đôi trong mọi lãnh vực, vừa là
chủ tịch hành pháp và vừa là trưởng khối
đa số trong quốc hội.
Mỗi chế
dộ vừa nêu đều có ưu và khuyết điểm
riêng. Nói chung, tổng thống chế có ưu điểm
là bảo đảm cho những đại diện lập
pháp có nhiều độc lập hơn để kiểm
soát phía hành pháp, mặc dù rằng sự kiểm soát
này còn tùy thuộc cách tổ chức các chính đảng
cũng như phụ thuộc vào ảnh hưởng của
hành pháp và lập pháp lên sự hình thành các lực lượng
chính trị. Mặt khác chế độ này có khuyết
điểm có thể đưa chính quyền vào thế
kẹt bằng cách cản trở không cho nó có phương
tiện làm luật và tài chính cần thiết để
thực hiện những chương trình mà dân chúng
đã lựa chọn. Trong một vài trường hợp
cực đoan, việc phân biệt này đã dẫn
đến sự đụng độ giữa hai ngành
quyền lực; Khi đó mượn tiếng được
dân chúng trao cho mình quyền lực hợp pháp qua cuộc
tổng tuyển cử và lợi dụng uy quyền đối
với lực lượng vũ trang, vị tổng thống
có thể giành lấy quyền lập pháp qua một cuộc
bỏ phiếu toàn dân.
Những chế độ được
xây dựng trên ưu thế của vị thủ tướng
chính phủ đặt nền tảng cho phép một sự
phối hợp nhịp nhàng hơn giữa hoạt động
của chính quyền và hoạt động của những
dân biểu là những người được kêu gọi
bỏ phiếu cho những đạo luật và sắc
thuế cần cho việc thực hiện các chương
trình của chính phủ. Một lợi điểm khác
là mô thức này giảm thiểu khả năng dùng bạo
lực của hành pháp đối với quốc hội
(ưu điểm này được xem là vô cùng quan trọng
trong trường hợp các chế độ dân chủ
mới được hình thành gần đây). Ngược
lại loại chế độ này có khuyết điểm
là trao cho hành pháp quyền đặt lịch trình nghị
sự cho quốc hội và giới hạn khả năng
kiểm soát hành pháp của quốc hội bởi những
dân biểu trong khối đa số tại quốc hội
thường có khuynh hướng bảo vệ uy tín của
chính phủ (mà họ còn mắc nợ vì chiếc ghế
dân biểu và từđó quyếtđịnh cả sự
thăng tiến của họ nữa) nên sẽ không tố
cáo những thiếu sót của chính phủ.
40.
Thế nào là thượng tôn pháp luật và làm sao để
bảo vệ nguyên tắc đó?
Nguyên tắc
thượng tôn pháp luật diễn tả khái niệm
đơn giản, theo đó những người mang trách
vụ công cộng, dù đó là chức vụ dân cử
hay không, phải tuân theo luật pháp và hiến pháp khi
hành xử những quyền hạn được trao cho
họ; Những quyền hạn này được định
nghĩa và giới hạn rõ ràng bởi luật pháp (xx
câu 38 về trách nhiệm pháp lý). Nguyên tắc này bắt
nguồn từ khái niệm của Aristote cho rằng loại
chính quyền tốt nhất là loại chính quyền dựa
trên sự thượng tôn pháp luật chứ không dựa
trên con người. Theo nghĩa cận đại, nguyên
tắc này xuất phát từ cuộc tranh đấu nhằm
giới hạn không cho nhà cầm quyền và những
đại diện chính thức của họ sử dụng
quyền lực một cách tùy tiện và bắt hành
pháp phải đặt mọi hoạt động của
mình dưới sự phán xét của các cơ quan tư
pháp.
Người
ta có thể xem nguyên tắc thượng tôn pháp luật
như hòn đá tảng của cả tự do cá nhân lẫn
dân chủ. Không có nguyên tắc này thì sẽ không thể
bảo vệ được bất cứ quyền tự
do cá nhân nào trước quyền lực của hành pháp.
Vả lại khi luật pháp đã phát xuất từ một
hiến pháp dân chủ và từ một cơ quan lập
pháp dân cử thì việc cơ quan hành pháp tuân thủ
nguyên tắc này là một trong những đòi hỏi của
những chế độ dân chủ. Bởi lẽ đó
người ta có thể xem những toan tính nhằm bẻ
quẹo các thủ tục và quy định pháp lý nhân
danh "quyền lợi quốc gia" hoặc chịu
áp lực từ yêu sách nhất thời của quần
chúng là phản dân chủ.
Muốn áp dụng
nguyên tắc thượng tôn pháp luật thì phải có
một bộ máy tư pháp độc lập để
giám sát sự tôn trọng đó. Khi nói đến đến
bộ máy tư pháp, Ðiều 1 của "Những nguyên
tắc căn bản" của Liên hiệp quốc
đã ghi rõ rằng "sự độc lập của
bộ máy tư pháp cần được bảo đảm
bởi Nhà nước và phải được Hiến
pháp và quốc hội thừa nhận". Sự độc
lập này bao gồm cả sự độc lập tập
thể của bộ máy tư pháp, như một cơ
quan cần được bảo vệ trước những
xâm phạm của ngành hành pháp, lẫn sự độc
lập cá nhân của những thẫm phán, khi họ cần
phải hoàn thành một cách trong sáng các trách vụ
được giao phó. Việc bảo vệ sự độc
lập song đôi này đòi hỏi nhiều hơn những
gì đã được hiến pháp bảo đảm trên
giấy tờ. Việc bảo vệ sự độc lập
này phụ thuộc rất nhiều vào phương thức
chỉ định các thẩm phán và vào sự bảo
đảm để họ có thể tiếp tục chức
vụ giao phó.
Việc chỉ định các thẩm
phán không thể nằm trong quyền hạn của chính
quyền hay bộ máy hành pháp mà phải do một ủy
ban tư pháp của quốc hội hoặc do một
ủy ban độc lập chuyên lo về công tác tư
pháp được hiến pháp công nhận đảm trách.
Những thẩm phán này không thể bị chính quyền
đương thời cách chức. Ngược lại họ
cần có những bảo đảm để có thể
tiếp tục trách vụ. Chỉ có cơ quan nào đã
bổ nhiệm họ mới có thể cách chức họ
nhưng cũng phải theo đúng thủ tục
được dự trù cho mục đích này cũng
như vì những lý do được định
nghĩa rõ ràng, thí dụ như tham nhũng, thiếu xót
nghiêm trọng trong công việc giao phó hay bất cẩn.
Sự tuân thủ những nguyên tắc này cũng
được áp dụng cho những nghề nghiệp tư
pháp khác, khi mà sựđộc lập của họđối
với hành pháp cũng cần thiết cho sự bảo vệ
nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
41.
Vai trò của quốc hội trong việc kiểm soát
trách nhiệm của chính quyền
Quốc hội
đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát trách
nhiệm về chính trị và tài chính của khối
hành pháp. Trước hết Quốc hội có thể thi
hành sự kiểm soát này nhờ dựa vào quyền phê
chuẩn các đạo luật tổng quát và thuế
khóa và nhờ dựa vào việc áp dụng những thủ
tục bảo đảm rằng những đề nghị
được chuyển cho quốc hội là những
đề nghị đã được cân nhắc và
bàn thảo kỹ lưỡng trước khi được
các dân biểu thông qua. Thứ đến, Quốc hội
có có những quyền hạn cần thiết để
giám sát hoạt động của khối hành pháp khi
đặt câu hỏi với các bộ trưởng, khi
kiểm soát các tài liệu thích hợp và khi tiến
hành thủ tục chất vấn những nhân vật
liên hệ trong bộ máy hành pháp. Những công việc
này được thực hiện trong những phiên họp
khoán đại của quốc hội hay trong những
ủy ban chuyên môn được thành lập trong khuôn
khổ của một tập thể có phối hợp.
Hiệu quả
của công việc kiểm soát của quốc hội về
cách thức mà chính quyền hoàn thành các nhiệm vụ
phụ thuộc một phần vào quyền tự do phát
biểu của người dân biểu. Thông thường
người ta cho rằng chỉ cần ban cho các dân biểu
quyền đặc miễn pháp lý về những đề
nghị mà họ đưa ra trong quốc hội để
họ có thể phát biểu không sợ sệt. Do sự
phức tạp của các hoạt động của chính
quyền đương thời nên những dân biểu
chỉ có thể đóng vai trò phê phán một cách hữu
hiệu khi họ có một văn phòng làm việc và những
phương tiện tra cứu cần thiết và khi họ
có thể hợp tác với những chuyên viên khác ở
ngoài. Một điều khá quan trọng là họ không bị
bắt buộc phải tuân theo quan điểm của chính
đảng của họ để đến nỗi
đánh mất óc phê phán. Khi các dân biểu bị phụ
thuộc vào bộ máy chính đảng của họ trong
việc bầu hoặc đề cử vào các ủy ban
chuyên môn thì quan điểm của họ khó đi ra ngoài
đường hướng của đảng.
Trong việc
kiểm soát chính phủ chúng ta không thể bỏ qua vai
trò quan trọng của hệ thống đảng phái có
tổ chức. Chính đảng đối lập phải
có khả năng hành xử như một chính quyền
thay thế cũng như phối hợp những hoạt
động kiểm soát chính quyền bằng cách giám
sát thường xuyên các hoạt động của chính
quyền bằng con mắt phê phán.
Nhiều người cho rằng đây
là khía cạnh bạc bẽo của công việc của
một dân biểu vì trong nhiều trường hợp
người ta có cảm tưởng rằng sự chỉ
trích của phía đối lập chỉ nhằm mục
đích gây cản trở và không có một biện pháp
nào của chính phủ -dù có tốt đẹp- làm vừa
được lòng họ. Ðó là trường hợp của
quốc hội chế Anh quốc dựa trên sự đối
lập của 2 chính đảng và những quốc hội
chế khác cùng dựa trên hệ thống này. Cần
nói thêm rằng mức độ cải tiến về cấu
trúc của các chính phủ đương thời đòi
hỏi việc kiểm soát của các chính đảng
đối lập cũng phải có một cấu trúc
phát triển tương ứng. Những chínhđảng
này phảiđược chỉ trích chính phủ một
cách tự do mà không bị nghi ngờ về tinh thần
ái quốc của họ.
42.
Ai có thể trở thành dân biểu quốc hội?
Thực ra chúng ta bầu người
đại diện chúng ta trong quốc hội không phải
vì khả năng riêng biệt của họ mà bởi vì
chúng tin tưởng họ. Chúng ta tin rằng họ sẽ
cố gắng hết sức để bảo vệ quyền
lợi của những người bầu ra họ, họ
kiểm soát hoạt động cũng như những dự
án của chính phủ, và giữ chính sách theo hướng
mà họ đề ra khi tranh cử. Mọi người -bất
kể thuộc tầng lớp xã hội nào- nếu thông
minh vừa phải, có lương tâm, biết cách sắp
xếp tổ chức, biết diễn đạt
tương đối chính xác đều có thể hoàn
tất nhiệm vụ của một dân biểu. Khi trúng
cử người dân biểu sẽ có nhiều thời
giờ và phương tiện để hoạt động
tốt hơn. Họ sẽ dần dần thu thập kinh
nghiệm, mặc dù trong chế độ dân chủ
không ai có thể bảo đảm vai trò dân biểu này
suốtđời cho họđược.
Số người có khả năng để làm dân biểu
tuy rất nhiều nhưng trên thực tế chỉ có một
số nhỏ được tuyển chọn. Con
đường vào quốc hội -thông thường- là
một con đường dài và khó khăn. Thường,
các dân biểu là người của các chính đảng
có tiếng tăm và đã hoạt động nhiều
năm cho chính đảng này. Nhiều người từng
có kinh nghiệm làm dân cử ở cấp huyện hoặc
tỉnh. Họ phải thuyết phục ban tuyển chọn
ứng viên trong đảng và có thể đã có vài ba
thất bại trước khi được đứng
vào vị trí "sáng giá" trong khu vực bầu cử
hoặc trên danh sách của đảng nhà. Nhưng ngay cả
trong trường hợp này, nếu đảng nhà gặp
xui trong năm đó thì chưa chắc họ sẽ trúng
cử. Do đó người dân biểu cần rất nhiều
sự bền chí và may mắn để thắng cử.
Chỉ có những người nào đã bỏ nhiều
công sức cho công việc xã hội và sẵn sàng làm việc
ngày đêm mới đi đượcđếnđích.
43.
Có nên cho phép dân biểu nhận các việc làm có thù
lao khác không?
Những người ủng hộ lập
trường này đưa ra những lý luận sau đây:
người dân biểu không phải làm việc suốt
cả năm, phụ cấp dân biểu không đủ sức
hấp dẫn những người có tài dấn thân vào
chính trường và một công việc ở ngoài sẽ
giúp cho các dân biểu không mất liên lạc với thực
tế. Thực ra không có lý luận nào ở trên là có
lý. Dù rằng quốc hội không nhóm họp suốt cả
năm nhưng công việc trong quốc hội rất bề
bộn và đòi hỏi người ta phải làm việc
liên tục, có nghĩa là, nếu muốn hoàn tất nhiệm
vụ một cách đúng đắn người dân biểu
lúc nào cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng.
Ðó là điều mà cử tri chờ đợi nơi
người dân biểu. Bù lại cử tri cũng đã
sẵn sàng trả thù lao cho dân biểu tùy theo chức vụ
mà họ gánh vác cũng như đài thọ các chi phí cần
thiết khác. Không có cách nào có thể giúp người
dân biểuđi sát với thự tế hơn là việc
tiếp xúc thường xuyên với cử tri thuộc mọi
tầng lớp dân chúng, với những ngườiđã
bầu ra họ, và lắng nghe lời họ nói.
Còn một vấn đề phụ khác nhưng rất dễ
xảy ra trong thực tế. Một vài nhóm hay tổ chức
có thể trả lương cho dân biểu hay ký hợp
đồng để vị này bảo vệ quyền lợi
cho họ trong quốc hội. Loại dịch vụ này
khó có thể chấp nhận được mặc dù
nó rất phổ biến trong một số các quốc hội.
Làm sao có thể biện bạch được rằng các
dân biểu có thể đại diện cho quyền lợi
của cử tri của họ trong khi mà họ cũng
ăn lương để đại diện chính thức
cho các nhóm quyền lợi (thường) có tầm hoạt
động trên bình diện quốc gia? Việc bắt
các dân biểu kê khai những nguồn thu nhập này chỉ
là phương cách tạm bợ; tốt nhất là nên
tuyệtđối cấm loại hoạtđộng này.
Vai trò của dân biểu rất đặc biệt vì nó
có thể chấm dứt một cách đột ngột nếu
không được cử tri bầu cho nữa. Ðiều
này không có nghĩa là vị dân biểu đã thất bại
trong nhiệm vụ của mình mà nhiều khi chỉ vì
người lãnh đạo hay chương trình của
chính đảng của họ không còn được lòng
của cử tri nữa. Nói cho cùng tình trạng này cũng
không khác hoàn cảnh của người công nhân làm
trong lãnh vực tư nhân bị sa thải bất ngờ,
không phải vì lý do năng suất mà vì nhu cầu thị
trường. Trong cả hai trường hợp đó khổ
chủ phải nhận được tiền bồi
thường tương ứng với thời gian làm việc
để có thểđi tìm việc làm mới. Hơn nữa
họ phải nhậnđược quyền hoán chuyển
tiền bồi thường này ra tiền hưu trí.
44.
Làm thế nào để tận diệt tham nhũng chính
trị?
Tham nhũng chính
trị là việc lợi dụng chức quyền để
làm giàu cho bản thân. Tham nhũng có thể xuất hiện
ở mọi cấp trong hoạt động của chính
quyền, bất kể đó là chính quyền của quốc
gia nào. Ở tại các quốc gia dân chủ, nếu người
ta nhắm mắt làm ngơ trước những hành
động nhằm đem lại bổng lộc qua chức
vụ, thí dụ như trong việc cho thầu các công
trình công cộng hoặc trong việc cấp giấy phép
thương mãi, thì những hành động này sẽ
làm dân chúng dần dần mất tin tưởng vào người
đại diện "chính quyền". Niềm tin của
dân chúng vào dân chủ cũng sẽ bị thương tổn
bởi người dân sẽ cho rằng dân chủ không
xứng đáng để được bảo vệ hoặc
xây dựng. Vì lẽ đó mà chúng ta phải bằng mọi
cách để đối phó đúng mức với vấn
đề tham nhũng chính trị. Và dù biết tham nhũng
sẽ không thể bị tận diệt được,
chúng ta vẫn phải làm mọi cách để giới hạn
nó lại một cách tối đa.
Tham nhũng chính
trị dễ có điều kiện để phát triển
khi những người có chức vụ công cộng
được trả lương tương đối
ít hoặc ngược lại khi tham nhũng là phương
cách duy nhất trong xã hội để họ tăng nguồn
thu nhập. Tham nhũng cũng sinh sôi nẩy nở khi sự
phát triển trong kinh tế tư nhân bị phụ thuộc
vào những quyết định mờ ám của chính quyền
và khi khả năng bị lộ tẩy hoặc bị trừng
trị khó xảy ra. Khi tìm hiểu môi trường phát
sinh tham nhũng như trên, chúng ta cũng đã phần
nào thấy những phương thuốc chữa bệnh
tham nhũng: trả lương tương xứng cho những
người giữ các trách vụ công mặc dù cũng
không cần phải trả lương quá cao so với mức
lương trong các ngành nghề khác; đặt một
khung luật pháp và thủ tục rõ ràng minh bạch cho
toàn bộ các quyết định có thể đem lợi
lại cho giới kinh tế tư nhân; và cuối cùng
làm cho các hoạt động chính quyền trở nên
minh bạch theo đúng như luật pháp đòi hỏi
để các cơ quan tư pháp có thể điều
tra khách quan khi có nghi ngờ gian lậu.
Phương thuốc hữu hiệu nhất
để chữa bệnh tham nhũng là việc xây dựng
một tinh thần và truyền thống không quá chú tâm
đến những lợi lộc cá nhân trong một nền
kinh tế thị trường. Cần nói rõ rằng tất
cả những biện pháp này, nhất là biện pháp cuối
cùng vừa nêu, đều không thểđem ra áp dụng
ở những nơi mà nạn tham nhũngđã bám rễ
sâu và trở thành mãn tính.
45.
Vai trò của bộ máy hành chính trong chế độ dân
chủ
Ðể hàng
ngày có thể điều hành công việc quốc gia,
chính phủ phải dựa vào những công chức hành
chánh cao cấp. Ðây là những người làm việc
toàn thời gian nhưng không do dân bầu. Những công
chức cao cấp này có hai nhiệm vụ. Thứ nhất,
họ là những chuyên viên có thể đóng góp ý kiến
về các chính sách và về việc soạn thảo các
dự luật để đưa ra quốc hội. Thứ
hai họ là người lãnh đạo nhân sự trong bộ
máy hành chánh để thi hành các chính sách và áp dụng
các đạo luật. Người ta chờ đợi họ
sẽ thực thi hai chức năng này một cách có lương
tâm và không thiên vị. Họ sẽ làm công việc này
mà không chịu ảnh hưởng bởi (những) thế
lực đang cầm quyền hoặc vào quan điểm
của ngay cả chính cá nhân họ đối với chính
sách đương thời. Nếu các chính phủ ngày
nay không thể dựa trên một bộ máy hành chánh gồm
những nhân sự chuyên nghiệp như vậy thì hoạt
động của bộ máy hành chánh trong một chế
độ dân chủ sẽ đụng phải một số
các vấn đề khá đặc biệt, chẳng hạn
như việc chỉ định những người chịu
trách nhiệm về bộ máy hành chánh, cơ chế giám
sát hoạt động của những công chức cao cấp
hoặc thể thức tuyển chọn họ.
Vấn đề
thứ nhất (chỉ định nhân sự) thực ra
là mối bận tâm của các chính đảng. Họ sợ
nếu để các công chức cao cấp được
tự do lựa chọn việc áp dụng chính sách của
chính đảng đang cầm quyền thì các công chức
này có thể sẽ gây trở ngại hoặc có thể
lợi dụng hiểu biết về các hồ sơ (mà
chỉ có họ mới nắm vững) để cố
vấn chệch hướng cho các bộ trưởng (thường
không thông thạo các vấn đề bằng các cố
vấn). Mối bận tâm này nhiều khi bị thổi
phồng quá đáng. Phận sự của các công chức
cao cấp là phải cho tiến hành việc đánh giá
nghiêm chỉnh về các dự án của chính phủ dựa
trên những ý kiến phản bác cũng như dựa
trên những khó khăn mà dự án này có thể gây ra
khi được đem ra áp dụng, vì chính họ cũng
là người có nhiệm vụ thực thi các dự án
này.
Vì thế họ
thường bị hiểu lầm là cố ý cản chặn
chính sách. Nhưng ngoài ra cũng còn có một vấn
đề khác nữa: các công chức cao cấp có thể
họp lại thành một tập thể tuy không
được dân bầu nhưng lại có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến việc định hướng
các chính sách nói chung và có thể lợi dụng ảnh
hưởng này cho các mục đích phi dân chủ. Trong
các chế độ dân chủ lâu đời, người
ta dùng một trong hai phương thức sau đây để
giới hạn sự rủi ro này lại. Phương cách
thứ nhất cho phép thế lực cầm quyền
được quyền bổ nhiệm một hay nhiều
viên chức lãnh đạo bộ máy hành chánh trong các bộ.
Người đảm nhiệm chức vụ này, trên
nguyên tắc, sẽ bị thuyên chuyển sau mỗi kỳ
thay đổi chính phủ. Phương cách thứ hai là
thành lập văn phòng giúp đỡ cho bộ trưởng.
Văn phòng này gồm những chuyên viên có thể giải
thích về các hồ sơ một cách khác cho vị bộ
trưởng nghe cũng như có thể kiểm soát một
cách hoàn toàn độc lập về các ý kiến của
các công chức cao cấp. Phải nói ngay rằng không
có phương thức nào trong hai cách trên là hoàn hảo
nhưng nói cho cùng chúng vẫn mang lại lợi nhiều
hơn hại.
Vấn đề
thứ hai là trách nhiệm của những công chức
cao cấp. Mỗi bộ được xây dựng trên một
hệ thống nhân sự có thứ bậc, chịu trách
nhiệm tăng dần với vị bộ trưởng
và chịu trách nhiệm thông qua vị bộ trưởng
này với quốc hội. Người ta có thể đặt
vấn đề một cách xác đáng rằng, trong một
chế độ dân chủ, liệu các công chức cao cấp
có còn phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước
luật pháp, đối với quốc hội và công
chúng, để trong một vài trường hợp nào
đó, trách nhiệm này sẽ phải được
đặt cao hơn sự phục tùng theo thứ bậc
quyền hạn. Một công chức sẽ phải xử
sự thế nào khi lệnh trên hàm chứa một sự
vi phạm pháp luật, một sự lừa dối quốc
hội hoặc sự xâm phạm đến quyền lợi
của những người mà họ có bổn phận
phải phục vụ? Những thí dụ vừa kể
đã cho ta thấy những mâu thuẫn có thể xảy
ra giữa hai loại trách nhiệm: giữa trách nhiệm
của một công chức hành chánh và trách nhiệm của
một công dân trong một chế độ dân chủ.
Trong thực tế, nhiều công chức đã sử dụng
phương cách cho rò rỉ thông tin để giải
quyết thế kẹt này. Thực tế này lại càng
cho thấy sự cần thiết phải cho thông qua một
đạo luật nhằm bảo vệ những người
cung cấp thông tin nằm trong bộ máy hành pháp.
Vấn đề thứ ba là phương
thức tuyển chọn công chức hành chính cao cấp
trong một chế độ dân chủ. Ðể bảo
đảm phẩm chất, các công chức sẽ
được tuyển chọn trong số các ứng
viên có trình độ đại học hoặc
được đào tạo và có khả năng chuyên
môn thích ứng, dĩ không phụ thuộc vào thành phần
đảng phái của họ. Nếu phương cách tuyển
chọn này trong một chừng mực nào đó có thể
bảo đảm rằng các ứng viên trúng tuyển
thuộc về thành phần trí thức ưu tú thì người
ta cần giữ để nó sao cho nó không chỉ ưu
đãi một số thành phần xã hội nào đó.
Trong một chế độ dân chủ, nhà chức trách
cần phải phản ánh cấu trúc xã hội. Theo
nguyên tắc bình đẳng chính trị thì mọi việc
ở các công sở phải rộng mở đối với
mọi người không phân biệt họ thuộc thành
phần xã hội nào. Ðiều này đòi hỏi phải
có những biện pháp hữu hiệu để ngăn
ngừa sự kỳ thị, để bảođảm
thực thi sự bìnhđẳng giữa các giới phái
trong hệ thống giáo dục cũng như trong việc
tuyển chọn công chức cho các cơ quan.
46.
Công dân có phương tiện nàođể buộc các cơ
quan nhà nước phải làm tròn trách nhiệm đã
được giao phó?
Người dân
trong một chế độ dân chủ có nhiều phương
tiện hữu hiệu để đối phó với những
đại diện của các cơ quan công quyền một
khi quyền lợi của họ bị một quyết
định phi pháp hoặc một lỗi lầm của bộ
máy hành chính (cẩu thả, chậm trễ, tùy tiện,
...) xâm phạm. Gặp trường hợp lạm quyền,
người dân có thể kiện sự vụ ra tòa án.
Gặp trường hợp cơ quan hành chánh làm sai, người
dân có thể nhờ vị dân biểu của đơn
vị bầu cử của mình hoặc các cơ sở
trung gian hòa giải can thiệp. Cơ sở trung gian hòa
giải là nơi có trách nhiệm cứu xét đến
nơi đến chốn những khiếu nại của
những công dân cho rằng mình bị chính quyền chèn
ép. Mới đây có thêm Hiến Chương Công Dân ra
đời để quy định việc bồi thường
cho những người (tiêu thụ) phải chịu thiệt
thòi do sự thiếu trách nhiệm của những cơ
quan cung cấp dịch vụ công cộng, khi các cơ
quan này cung cấp cho họ trợ cấp thấp hơn
mức luật pháp quy định.
Trên đây chúng ta đã chỉ nêu những
thí dụ liên quan đến loại trách nhiệm về
tiêu thụ và đòi hỏi những cam kết phải
đặc biệt được tôn trọng. Loại
trách nhiệm này khác với loại trách nhiệm tập
thể mà chúng tađã có dịp xem qua trong phần 38.
Nhìn chung những thí dụ này nhắc nhở chúng ta rằng,
quần chúng trong tổng thể của nó là khách hàng của
những dịch vụ cung cấp bởi các cơ quan công
quyền, và nói cho cùng thì người lãnhđạo quốc
gia cũng phải có bổn phận báo cáo với quần
chúng nhân dân về việc thực hiện những trách
nhiệm về tư pháp, chính trị và tài chính.
47.
Làm thế nào để bảo đảm sự kiểm
soát của một chính quyền dân sự đối với
quân đội?
Ở tại
các quốc gia có truyền thống dân chủ vững chắc,
nghĩa là tại những xứ mà làn ranh giữa lãnh vực
chính trị và quân sự được định
nghĩa thật rõ ràng và được bảo vệ một
cách chu đáo, sự kiểm soát của chính quyền
dân sự đối với quân đội sẽ không gặp
nhiều khó khăn ngoại trừ một vài trường
hợp có tranh chấp nhỏ liên quan đến việc
mua vũ khí, định mức quân số, điều kiện
sinh hoạt của quân đội. Trong khi đó lịch
sử tại các quốc gia dân chủ tân lập lại
thường ghi nhận những vụ đảo chính,
những chế độ quân phiệt, ở đó thành
phần chính phủ và những chính sách dự tính đều
phải đưa qua cho các lãnh tụ quân đội duyệt
xét. Bài toán quân đội lạm quyền tại những
nước này hầu như khó có thể giải quyết
được. Ở bất cứ ở nước nào
cũng vậy, quân đội luôn luôn có nhiều phương
tiện vật chất và tổ chức để có thể
phế bỏ những vị lãnh đạo chính trị
dân cử, tiếm chiếm quyền lực và đặt
dân chúng dưới sự điều khiển của họ.
Như thế vấn đề mà chúng ta đang bàn phụ
thuộc rất lớn vào thiện chí của quân đội
trong việc hành xử cho đúng với vai trò của
mình.
Làm cách nào
để thuyết phục quân đội theo chiều
hướng này? Người ta khó có thể bảo đảm
sự phục tùng của quân đội đối với
giới lãnh đạo chính trị dân cử bằng
cách chỉ dạy họ rằng quân đội cần
giữ thế phi chính trị, hoặc mua chuộc họ
bằng lương cao, vị thế lớn, hay bằng cách
trang bị những hệ thống vũ khí tinh vi cho họ.
Sự bất bình trong quân đội hiếm khi gây ra những
cuộc đảo chánh mặc dù đôi khi nó cũng
đóng một vai trò xúc tác thêm. Thường quân đội
đứng lên lật đổ chính phủ dân sự
khi đất nước bị khủng khoảng nặng
nề và lâu dài mà cả những người cầm quyền
lẫn các cơ quan (dân sự) đều bó tay: nội
chiến, lạm phát triền miên, trật tự xã hội
rối loạn, tham nhũng lộ liễu và sâu rộng.
Quân đội cũng có thể đảo chính để
ngăn chặn một chính đảng cực đoan thắng
cử và lên cầm quyền. Trong cả hai trường
hợp vừa nêu nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp
của quân đội không xuất phát từ bản chất
của quân đội mà do chế độ dân chủ
quá yếu kém khiến cho các cơ chế của nó
không làm việc đúng đắn được.
Dù thế nào,
một chính phủ quân đội tốt lắm cũng
chỉ đem lại phương thuốc tạm và không
thể là một giải pháp lâu bền cho những vấn
đề của xã hội. Có thời, cách đây khoảng
mười hay hai mươi năm, người ta có mốt
ca ngợi quân đội là đầu tàu trong công cuộc
canh tân kinh tế và xây dựng quốc gia, và đem nó
ra để đối chọi với cơ chế chính
trị dân chủ đầy rẫy tham nhũng và chia rẽ.
Nhưng quân đội đã không thể đem lại
cho chính phủ một tư thế chính danh trong việc
cầm quyền, chưa kể rằng bản tổng kết
về hoạt động của các chính quyền quân sự
rất thê thảm. Không phải khi điều hành quốc
gia một cách bất cần dư luận và trong sự
bí mật mà người ta có thể đối phó hữu
hiệu được với nạn tham nhũng. Ngược
lại, điều này còn có thể bao che cho tham nhũng
nữa. Chính phủ quân sự cũng không bảo đảm
được cả cho những hoạt động kinh
tế trong sạch nữa. Sau hết cần phải biết
rằng, các chính phủ quân sự cũng có thành tích vi
phạm nhân quyền nghiêm trọng, là điều khó có
thể chấp nhận đối với mọi hình thức
chính phủ hoạt động dựa trên sự trong
sáng.
Chúng ta hiện không có giải pháp nào
đáng tin cậy hơn để thay thế tiến trình
từng bước củng cố các cơ chế dân chủ,
củng cố một chính quyền hợp hiến và củng
cố nguyên tắc thượng tôn pháp luật, mà trong
trường hợp thất bại, chúng ta sẽ phải
nhờ đến sự hỗ trợ của cộng
đồng thế giới. Ðể giải quyết các
mâu thuẫn chính trong xã hội chúng ta cũng không có phương
tiện nào khác hơn là tìm một giải pháp chính trị
dựa trên sự thương lượng và thỏa thuận.
Song song với phương thức này chúng ta cần
định ra những phương thức hữu hiệu
hơn nữa, cả trên bình diện quốc gia lẫn
quốc tế, để truy ra và trừng phạt những
vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất, đặc
biệt đối với những vi phạm của nhân
viên trong bộ máy nhà nước, và để chế tài
những chếđộ dung dưỡng cho sự vi phạm
nhân quyềnđó.
48. Cơ quan tình báo có chỗ đứng trong một chế
độ dân chủ không?
Về mặt
nguyên tắc, dân chủ không chấp nhận bất cứ
hình thức hoạt động bí mật nào của
chính quyền. Nhưng các quốc gia dân chủ nào cũng
bắt buộc phải có những hoạt động ngầm
để bảo vệ cho người dân trước những
đe dọa đến từ nước ngoài, từ những
tổ chức phạm pháp hoạt động trong phạm
vi lãnh thổ quốc gia, hoặc những âm mưu lật
đổ nhắm vào các cơ chế dân chủ. Loại
hoạt động bí mật này sẽ dẫn đến
việc áp dụng những phương thức xâm phạm
vào quyền công dân - bao gồm việc giám sát và dọ
thám bằng điện tử, nghe lén điện thoại
đến đủ mọi trò gian xảo khác. Do bản
chất bí mật, những hoạt động này lại
càng dễ bị lợi dụng vào những mục đích
khác với mục đích được luật pháp cho
phép chính thức và có thể bị đem áp dụng
đối với những hoạt động hoặc những
tổ chức chính trị hoàn toàn hợp pháp nhưng bị
chính quyền đương thời xem là đi ngược
với chính sách của họ.
Như vậy vấn đề
được đặt ra ở đây phụ thuộc
vào sự kiểm soát về mặt chính trị đối
với các loại hoạt động bí mật này. Chỉ
quy định chung chung rằng những hoạt động
an ninh phải chịu trách nhiệm trước quốc hội
hoặc trước một hay nhiều bộ trưởng
chưa đủ. Cần phải thành lập một
ủy ban đặc biệt của quốc hội - có thể
nhóm họp bí mật bất cứ lúc nào thấy có nhu
cầu cần thiết - để giám sát các loại hoạt
động này cũng như kiểm soát việc thực
sự áp dụng những quy định đã được
công bố trước công chúng đối với loại
hoạt động này. Ngoài ra ủy ban trung gian này phải
có được thẩm quyền giải quyết những
khiếu nại của người dân về những
hành vi theo dõi các hoạt động hoàn toàn hợp pháp
của họ khi họ có đủ lý dođể chứng
minh rằng hành vi này xâm phạmđến quyền công
dân của họ.
49.
Tại sao các đơn vị hành chánh địa
phương lại quan trọng đối với nền
dân chủ?
Ðể bảo
đảm tính năng động, một quốc gia theo
chế độ dân chủ cần phải có những
đơn vị hành chánh địa phương (tỉnh,
huyện, xã) được người dân bầu lên
vì những lý do sau đây. Cơ chế đại diện
địa phương gia tăng thêm khả năng tham
gia vào diễn trình quyết định những công việc
chung cũng như số người tham gia vào diễn
trình ấy. Do tính bám rễ địa phương mà
các cơ chế này dễ đáp ứng các nhu cầu
và những đặc thù của địa phương
hơn là chính quyền trung ương của bình diện
quốc gia. Cơ chế này cũng cho phép đem thử
nghiệm một vài chính sách trong một phạm vi nhỏ
của địa phương và nếu thành công có thể
đem áp dụng tại những địa phương
khác kể cả việc áp dụng trên bình diện toàn
quốc. Ngoài ra cơ chế này cũng được dùng
làm thước đo thử sức những người
muốn có sự nghiệp chính trị trên bình diện
quốc gia và cũng cho phép các chính đảng thua cuộc
trong cuộc đầu phiếu toàn quốc có thể
rút về các thành trì địa phương của họ.
Sau hết, để giới hạn sự tập trung quyền
hành vào tay chính quyền trung ương, theo tinh thần của
hiến pháp, cơ chế này còn mở nguyên tắc phân
quyền ra về chiều rộng. Nhìn riêng rẽ, mỗi
đặc tính này đều rất quan trọng; khi gộp
chung lại, chúng cho thấy lợi ích không thể phản
bác được của các đơn vị hành chánh
dân cử địa phương.
Song, các thế lực hùng hậu tại
các quốc gia trên thế giới hiện nay lại
đang muốn tập trung diễn trình quyết định
chính trị vào tay trung ương. Do đó những người
có trách nhiệm về tài chánh trong các chính quyền thường
tìm cách kiểm soát tổng khối lượng chi tiêu
trong lãnh vực công, một phương cách được
họ xem là phương tiện quan trọng để
điều hành nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra chính
quyền trung ương khó mà chấp nhận để
cho các đối thủ chính trị có thể tạo cản
trở đối với các chính sách của họ hoặc
làm giảm ảnh hưởng của những chính sách
này tại địa phương. Sau hết, trong một
xã hội ngày càng có nhiều chuyển động,
người dân ngày càng khó chấp nhận sự cách biệt
quá lớn về mặt dịch vụ công cộng giữa
các địa phương. Sự bình đẳng giữa
các công dân đòi hỏi phải có sự bình đẳng
về những dịch vụ mà họ được
hưởng. Ðể thực hiện sự bình đẳng
vừa kể, nếu bên cạnh các quy định chung lại
còn bắt các địa phương phải chấp nhận
một sự điều phối đáng kể về
tài nguyên cho nhau, thì sự tự trị của các
đơn vị hành chánh địa phương sẽ bị
sút giảm một cách đáng kể, và kèm theođó là
sự giảm sút về khả năng chọn lựa của
cử tri trong các cuộcđầu phiếu.
Chúng ta không có một phương thức giải quyết
nào vừa đơn giản vừa có khả năng áp
dụng chung để giải quyết những ưu tiên
xung khắc vừa nêu. Tuy nhiên, nếu chúng ta ý thức
rằng hiện nay những áp lực mạnh nhất xuất
phát từ phía những người ủng hộ tập
quyền, thì quyền lợi của những đơn vị
hành chánh địa phương mới đáng được
bảo vệ hơn cả. Một sự bảo vệ tối
thiểu sẽ phải có đủ những đặc
điểm sau đây: cử tri có thể hiểu một
cách rõ ràng và dễ dàng về sự phân chia nhiệm vụ
giữa các cơ quan quyền lực trung ương và
địa phương; địa phương phải có
đủ quyền và đủ phương tiện để
có thể thực hiện những trách vụ của
mình trong khuôn khổ phải lưu tâm đến nhu cầu
đặc thù của địa phương và những
quy định quốc gia đang có hiệu lực. Muốn
bảo vệ quyền lợi địa phương
người ta cũng cần dự phòng những phương
cách thích hợp để cho các đại diện trách
nhiệm của đơn vị hành chánh địa
phương có thể báo cáo cho cử tri về các hoạt
động của họ. Ngoài ra cũng cần phải có
một đạo luật nhằm ngăn ngừa chính quyền
trung ương lấn bước sang những đặc
quyền của địa phương; Có thể giao cho
một tòa án hiến pháp giám sát việc áp dụng
đạo luật này. Sau cùng và quan trọng hơn cả,
phẩm chất của quan hệ giữa cơ quan quyền
lực trung ương vàđịa phương phụ
thuộc chính yếu vào tháiđộ hợp tác và sự
công nhận lẫn nhau trên các lãnh vực thẩm quyền
của nhau - hơn là chấp nê với nhau về pháp lý.
50.
Chế độ liên bang thích hợp trong những điều
kiện nào?
Chế độ liên bang dựa trên
nguyên tắc phân chia lãnh thổ quốc gia thành nhiều
tiểu bang riêng biệt, mỗi tiểu bang có một quốc
hội dân cử và một bộ máy hành pháp riêng. Mỗi
một quốc hội tiểu bang có quyền biểu quyết
về mức độ thuế và việc thu thuế căn
cứ vào sự phân chia quyền hạn giữa những
tiểu bang và chính quyền trung ương quốc gia
được quy định bởi hiến pháp. Lịch
sử cho thấy các quốc gia theo chế độ liên
bang đã được hình thành theo nhiều cách khác
nhau: qua sự hợp nhất những nước trước
đây hoàn toàn độc lập chủ quyền, hay qua
sự công nhận chế độ tự trị của
các vùng hoặc quốc gia trướcđây thuộc về
một nước duy nhất, hay qua việc cùng chấp
nhận một thỏaước dựng nước.
Nói chung chế độ liên bang thích hợp với những
nước có lãnh thổ rộng lớn bao gồm trong
đó những vùng mang sắc thái văn hóa và địa
lý rất khác biệt mà nằm gần nhau. Chế độ
liên bang cũng có khả năng đáp ứng được
với nhu cầu đòi tự trị của các thiểu
số sắc tộc hoặc văn hóa cùng sống trong một
không gian địa lý, để tránh khỏi phải chấp
nhận một sự độc lập chủ quyền
hoàn toàn. Nhiều khi việc chấp nhận sống chung
dưới một mái nhà còn có lợi hơn việc
chia cách hoàn toàn hoặc mất thời giờ tranh cãi với
nhau tối ngày. Người ta cũng thấy rằng một
phần lớn những lập luận ủng hộ cho
việc thành lập các quốc hội dân cử địa
phương (mà chúng ta đã vừa xét qua ở phần
trước) cũng đúng một cách xácđáng với
chếđộ liên bang.