Nguyên Tắc Dân
Chủ (4/4)
Mục
tiêu dân chủ phải được hướng dẫn
bằng tư tưởng dân chủ và xây dựng bởi
nỗ lực dân chủ.
Cơ chế quốc trị dân chủ khó thực
hiện hoặc
dễ
thất
bại
khi nhân tố tham chính
(cộng-sản
hay không-cộng-sản) mang
hành trang tư duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ.
Do
đó trong
quan
niệm
‘vấn
nạn
hiện
thực không phải là chấp nhận tư tưởng
dân chủ mà là vượt thoát ngục tù tư tưởng
và hành động phản-dân-chủ’
Diễn đàn Dân Chủ cố gắng
giới
thiệu những tài liệu căn bản về các nguyên
tắc dân chủ với hy vọng độc giả ưu
tư đến tương lai dân tộc có thể suy
luận để so sánh phủ định
quan
điểm và
hành
động phản-dân-chủ
bởi
vì Việt Nam sẽ khó xây dựng thành công
cơ
chế quốc trị dân chủ quy
phục và phụng sự nhân dân trong
tương lai trên nền tảng tư duy
và
kinh nghiệm phản-dân-chủ. Không
lẽ trong khi các quốc gia phú cường tiếp
tục phát triển nhờ vào cơ chế
dân
chủ khai phóng tiềm năng đóng góp
của
toàn dân bất phân đảng phái, dân tộc Việt Nam
lại tiếp tục bị cầm tù trong ngục tù nghèo
hèn bởi
thành
phần lãnh đạo độc tài mang
hành trang
tư
duy và kinh nghiệm phản-dân-chủ?
Phần
tài liệu Các
vấn đề dân chủ sau
đây trình bày nhiều đề tài khả dụng
như định chế dân chủ, vai trò chính
đảng, truyền thông, luật pháp, kinh
tế thị trường, trách nhiệm của chính
quyền, bầu cử tự do và hình thức tuyển
cử, xã hội dân sự, nhân quyền, tư sản,
quyền lợi và giới hạn của công dân, v.v., tuy
sơ lược nhưng minh bạch do đó Diễn đàn
Dân Chủ xin trân trọng giới thiệu đến quý
bạn.
IV. Những quyền tự do cá nhân và phương
cách bảo vệ chúng
51. Nhân quyền là gì?
Nhân quyền và những tự do căn
bản là những quyền cá nhân phát xuất từ các
nhu cầu và khả năng của con người. Việc
công nhận nhân quyền và việc tạo dựng những
phương tiện trong luật quốc tế để
bảo vệ nhân quyền có lẽ là những thành tựu
tinh thần lớn nhất trong thế kỷ này. Cộng
đồng thế giới đã thông một số rất
lớn những hiệp định hoặc thỏa ước
quốc tế về nhân quyền. Ðây là những phương
tiện được đưa ra để củng cố
định nghĩa chính chung về việc mở rộng
Nhân quyền và các tự do căn bản của con
người và đồng thời bắt các chính quyền
phải đưa ra những biện pháp cần thiết
để bảo vệ những quyềnđó - từ
pháp lýđến thực hành - tại quốc gia của
mình.
Nguồn gốc chính của những nguyên tắc về
nhân quyền là Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế
được Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc
thông qua vào ngày 10.12.1948. Vào năm 1966, Liên Hiệp Quốc
đã thông qua hai công cụ quốc tế khác liên quan
đến những nhân quyền được tuyên xưng
trong Bản Tuyên ngôn nêu trên, đó là các Công ước
về Quyền kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Công
ước về Quyền Dân sự và Chính trị. Ðến
nay đã có hai phần ba các quốc gia trên thế giới
ký vào hai Công ước này. Ngoài ra Liên Hiệp Quốc
còn thông qua một Nghị Ðịnh Thư đi kèm với
Công ước về Quyền Dân sự và Chính trị,
cho phép cá nhân được quyền khiếu nại lên
Ủy ban Nhân quyền (của Liên Hiệp Quốc) là cơ
quan có trách nhiệm (do Công ước qui định) kiểm
soát sự vi phạm nhân quyền của các quốc gia.
Song việc cầu cứu đến Ủy ban Nhân quyền
chỉ có thể xảy ra khi quốc gia liên hệ đã
chấp nhận ký kết cả Công ước lẫn
Nghị định thư,điều màđến nay chỉ
mới có một số ít các quốc gia chịu làm.
Toàn thể các công cụ này - Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc
tế, hai bản Công ước và Nghị định
thư - hợp thành cái mà chúng ta gọi là Hiến chương
Quốc tế về Nhân quyền. Sau hết nhân quyền
còn là chủ đề của nhiều thỏa ước
quốc tế và hiệp ước vùng như Công ước
Mỹ châu về Nhân quyền, Hiến chương Phi châu
về Nhân quyền và Dân tộc, Công ước Âu châu
về Nhân quyền, mà nếuđem ra khai triển thì sẽ
vượt quá khuôn khổ của bài này.
52.
Nhân quyền được phân loại ra sao?
Có nhiều
cách để phân loại Nhân quyền nhưng cách phân
loại hiện được chấp nhận chung là
phân chia chúng thành nhóm quyền dân sự, quyền chính
trị, quyền xã hội, quyền kinh tế và quyền
văn hóa. Ðây là cách phân loại được dùng
trong Hiến chương Quốc tế về Nhân quyền.
Quyền dân sự và chính trị bao gồm
quyền sống, việc nghiêm cấm sự tra tấn
cá nhân, nghiêm cấm cưỡng bức lao động,
việc được bảo vệ trước sự bắt
bớ tùy tiện, tư do tư tưởng, tự do
lương tâm, tự do tôn giáo và tín ngưỡng, quyền
được tôn trọng có cuộc sống riêng tư,
tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do
được tham gia vào việc công. Nói một cách tổng
quát quyền dân sự và chính trị nhằm bảo
đảm không cho các cơ quan công quyền can thiệp
vào đời sống của các cá nhân hoặc vào hoạt
động của các nhóm người. Ngoài ra việc bảo
vệ những quyền này còn đòi hỏi các cơ
quan công quyền phải tạo ra các phương tiện
thí dụ như bảo đảm về mặt tài chính
cho một hệ thống trợ giúp pháp lý dành cho những
người nghèo hoặc những người không có
đủ khả năng (tài chính) để tự lo liệu
lấy sự biện hộ trước tòa. Một loại
hình thức hoạtđộng khác của các cơ quan công
quyền là việc tài trợ bằng công quỹđể
cho các nhóm thiểu số có tiếng nói trên các phương
tiện truyền thông.
Trong số các quyền xã hội và văn hóa người
ta có thể đặc biệt kể đến quyền
được có thực phẩm, quyền được
bảo vệ sức khỏe, quyền được có
một mức sống tạm đủ, quyền
được trả lương đồng đều
cho một công việc tương tự, quyền
được bảo trợ xã hội, quyền
được làm việc, quyền đình công, quyền
có chỗ ở, quyền được đi học và
quyền được tham gia vàođời sống
văn hóa. Nói chung những quyền về xã hội và văn
hóa nhằm bắt các cơ quan công quyền phải có
trách nhiệm thực hiện các quyền này khi các cá
nhân - vì lý do thất nghiệp hoặc tàn tật - không
thể tự dáp ứng các nhu cầu của họđược
nữa.
Những nhân quyền nêu trên cùng tuân theo một nguyên tắc
quan trọng - một nguyên tắc không thể tách rời
khỏi nhân quyền -, là không một ai dù thuộc giới
tính, chủng tộc, tôn giáo và tín ngưỡng nào lại
có thể bị phân biệtđối xử khi hành xử
các nhân quyền của họ.
53.
Có nhân quyền nào được xem là quan trọng hơn
các nhân quyền khác không?
Câu trả lời
tốt nhất là tất cả các nhân quyền
được công nhận trên bình diện quốc tế
đều có ràng buộc với nhau và củng cố lẫn
cho nhau. Những quyền mà các công dân được xem
như là đã có được phụ thuộc vào
trình độ phát triển của của xã hội trong
đó những quyền đó đang tiến triển
cũng như phụ thuộc vào quyền có được
một đời sống tạm đủ và những
quyền đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở
và được giáo dục tại các quốc gia giàu
có.
Ngược lại tại những
nước nghèo, những quyền này trước mắt
vẫn còn là mối bận tâm của các cá nhân. Cần
nói rằng trong các xã hội dân chủ, các quyền kinh
tế và xã hội là những quyền căn bản cần
được bảo vệ ngang bằng như những
quyền căn bản khác như quyền dân sự và
chính trị sơ đẳng, quyền được cai
trị theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật, quyền
được bảo vệ khỏi bị bắt và giam
giữ một cáchđộcđoán, quyền có tự do
ngôn luận và tự do lập hội. Theo công pháp quốc
tế, mọi nhà nước có bổn phận khuyến
khích sự tôn trọng cá quyền cá nhân dành cho mọi
công dân mà không có phân biệt.
54.
Nhân quyền có tính phổ quát không?
Câu hỏi
được đặt ra là liệu nhân quyền có
là quyền của mọi người ở mọi
nơi không? Câu trả lời là có. Những tiêu chuẩn
quốc tế về nhân quyền có liên quan đến
toàn bộ những nhu cầu chung của con người
cũng như mọi khả năng của các cá nhân mà
không phân biệt cá nhân này đang sống tại quốc
gia nào. Rõ ràng thế giới của chúng ta bao gồm nhiều
vùng và nhiều văn hóa khác nhau, gồm cả nước
giàu lẫn nước nghèo. Có người cho rằng những
tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền chỉ
liên quan đến cá nhân và như thế không thể
nào dung hòa được với những nền văn hóa
chỉ xem cá nhân là một phần tử không thể
tách rời được của cộng đồng và
chỉ chú trọng đến bổn phận của cá
nhân đối với cộng đồng mà thôi. Câu hỏi
liệu quan niệm (quốc tế) hiện nay về quyền
cá nhân có làm các xã hội thay đổi quan niệm về
quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng đang là
một đề tài tranh luận sôi nổi diễn ra tại
cả những quốc gia phương Bắc (giàu) lẫn
phương Nam (nghèo).
Sự thay đổi rõ ràng đã xảy
ra mặc dù không có gì chứng minh rằng việc công
nhận hay bảo vệ quyền cá nhân gây ảnh hưởng
xấu đến sự đoàn kết giữa những
con người hoặc trong xã hội. Ngược lại
những chuẩn mực liên quan đến quyền phổ
quát của cá nhân lại còn nhắm đến việc
bảo vệ các nhóm người và các dân tộc khi thừa
nhận sự cần thiết của việc kết nối
cá nhân vào chung với đồng loại để cùng
thực tập một ngôn ngữ riêng hoặc thừa nhận
việc đồng nhất một cá nhân với tập
thể cùng văn hóa, cùng tông giáo hay cùng nếp sống
với nó. Luật quốc tế về nhân quyền công
nhận ngay từ bước khởi đầu một số
các quyền chung cho mọi người nhưng sau đó
còn tiến xa hơn khi công nhận và chứng duyệt
cho các nền văn hóa và các dân tộc bảnđịađược
quyền thăng hoa và phát triển.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế cũng đề
cập đến những bổn phận của cá nhân
đối với cộng đồng. Bản Tuyên ngôn
này khẳng định rằng nhân cách của một
cá nhân chỉ có thể thăng hoa và phát triển một
cách tự do và đầy đủ trong một cộng
đồng được họ cùng nhiều người
khác dựng nên. Tuy nhiên khái niệm về nhân quyền
chỉ phát sinh từ khi có sự khẳng định rằng
mỗi cá nhân sinh rađều có giá trị không gì thay
thếđược.
Có người giải thích rằng sự chống đối
đặc tính phổ quát của nhân quyền phát xuất
từ thực tế các nền văn hóa có quan niệm
khác nhau về bổn phận và quyền lợi của
cá nhân. Cách giải thích này chưa thực đủ.
Ðiểm chính là các nền văn hóa đã quan niệm
trái ngược nhau về việc đặt cá nhân cao hơn
cộng đồng. Lẽ dĩ nhiên, tùy nền văn hóa
người ta có thể có cách diễn đạt khác
nhau về những khía cạnh của nhân quyền nhưng
người ta không thể nghi ngờ tính phổ quát của
nó. Những chỉ trích và chống đối vừa nêu
còn được phụ trợ bởi thực tế hiển
nhiên là các quốc gia trên thế giới thường có
phản ứng thiếu công bằng đối với những
vi phạm nhân quyền. Việc lên án vi phạm nhân quyền
thường phụ thuộc vào tương quan lực
lượng giữa các quốc gia. Nói cách khác các quốc
gia thường tỏ ra nghiêm khắc đối với
sự vi phạm nhân quyền tại các quốc gia thù
địch và bỏ qua cho các quốc gia đồng minh.
Ðể vận động được sự ủng hộ
của toàn thể các quốc gia cho một trật tự
quốc tế dựa trên sự tôn trọng nhân quyền
chúng ta phải thiết lập được một
cơ chế quốc tế có khả năngđánh giá một
cách khách quan và khôngđãi lọc cung cách mà các quốc
gia hoàn thành trách vụ bảo vệ những tiêu chuẩn
nhân quyền phổ quát.
Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở
Vienne thủ đô Áo quốc vào tháng 6.93 đã
đưa ra những xác quyết quan trọng về nhân
quyền và bổn phận của cộng đồng quốc
tế: Tất cả mọi nhân quyền đều phổ
quát, bất khả phân (không thể tách rời nhau), phụ
thuộc lẫn nhau và ràng buộc chặt chẽ với
nhau. Cộng đồng quốc tế phải bàn bạc
giải quyết vấn đề nhân quyền một
cách toàn cầu, công minh, cân đối, bình đẳng
và xem mọi nhân quyền quan trọng như nhau. Không bỏ
quên sự quan trọng của đặc thù quốc gia
và địa phương cũng như sự đa dạng
về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, các
quốc gia - bất kể theo chế độ chính trị,
kinh tế và văn hóa nào - đều có bổn phận
khuyến khích/ xúc tiến và bảo vệ nhân quyền
cũng như mọi quyền tự do căn bản (Tuyên
ngôn và Chương trình Hànhđộng,điều 5).
55.
Cộng đồng quốc tế có thể bày tỏ sự
quan tâm chínhđáng của mình về cách thực thi nhân
quyền tại một quốc gia nào đó không?
Nguyên tắc
không can thiệp vào nội tình các quốc gia là một
trong những nguyên tắc căn bản của trật tự
quốc tế mới, theo như Hiến chương của
Liên Hiệp Quốc đã quy định.
Tuy nhiên, sự
phát triển của phong trào bảo vệ nhân quyền
trên bình diện thế giới và sự mở rộng
thường xuyên các tiêu chuẩn về nhân quyền
trên phạm vi thế giới đã là một sự công
nhận chính thức các công ước về nhân quyền.
Do đó cung cách đối xử với
các công dân sẽ được đưa lên khỏi phạm
vi nội bộ của quốc gia và trở thành đối
tượng của sự phê bình của các chính phủ
khác cũng như các tổ chức phi chính phủ. Ðiều
này hoàn toàn không thể xem là sự can thiệp vào nội
bộ của các quốc gia. Hội nghị Quốc tế
về Nhân quyền đã xác nhận rằng sự khuyến
khích/ xúc tiến và bảo vệ tất cả các nhân
quyền là mối bận tâm chính đáng của cộng
đồng quốc tế (Tuyên ngôn và Chương trình
Hànhđộng,điều 4).
56.
Nhân quyền liên quan ra sao với dân chủ?
Theo Hội nghị
Quốc tế về Nhân quyền, quyền con người
và dân chủ (cũng như sự phát triển về
kinh tế) phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau.
Nói cách khác, hiên nay cộng đồng quốc tế
đã nhìn nhận rằng việc bảo vệ nhân quyền
và nguyên tắc thượng tôn pháp luật - không phải
chỉ ở tại các quốc gia phát triển mà còn
ở các quốc gia đang phát triển - chỉ có thể
hữu hiệu nếu bảo vệ được các
nguyên tắc dân chủ. Văn bản của Hội nghị
cũng cho thấy rằng việc thực thi nhân quyền
và các quyền tự do của con người rất cần
để cho nền dân chủ có thể hoạt động
tốt. Chỉ mới đây thôi có người còn cho rằng
nhân quyền có thể được thực thi và bảo
vệ tại các quốc gia không dân chủ, đặc
biệt khi sự phát triển kinh tế được
ưu tiên. Bằng chứng thường thấy là chẳng
chóng thì chầy các chế độ này sẽ mất
đặc tính khoan dung và trở thành một chế
độ đàn áp, tham nhũng và mất ổn định.
Thực ra quan
niệm cho rằng dân chủ và nhân quyền có liên quan
chặt chẽ với nhau không phải chỉ mới xuất
hiện sau này. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế
năm 1948 cũng đã ghi lên sự bảo vệ chính
quyền dân chủ. "Ý nguyện của toàn dân là cơ
sở cho quyền lực quốc gia" (đ. 21) là một
trong những lý tưởng được ghi vào Tuyên
ngôn Nhân quyền Quốc tế. Công ước Quốc tế
về Quyền Dân sự và Chính trị bắt buộc
các quốc gia phải bảo đảm cho mỗi công
dân nước họ quyền và phương tiện
để "tham gia vào việc điều hành việc
công -dù là trực tiếp hay gián tiếp thông qua những
người đại diện đã được chọn
lựa một cách tự do-, được bầu cử
và ứng cử trong các cuộc bầu cử trong sạch
được tổ chức định kỳ, và có thể
đạt đến được các chức vụ
công trong những điều kiện công bằng."
Việc công nhận một cách rõ ràng
quan hệ phụ thuộc giữa quan niệm về quyền
cá nhân trong luật quốc tế và quan niệm căn bản
về thể chế dân chủ là một trong những tiến
bộ quan trọng nhất xuất hiện trên lãnh vực
bang giao quốc tế kể từ khi chiến tranh lạnh
chấm dứt. Tương tự như vậy việc tập
thể các quốc gia đang phát triển cùng nhìn nhận
rằng quyền phát triển chỉ có thểđược
thực hiện thông qua việc tôn trọng nhân quyền
và các nguyên tắc dân chủ là một tiến bộ
thêm nữa trên bình diện quốc tế trong giaiđoạn
hậu chiến tranh lạnh.
57.
Các quyền dân sự và chính trị liên quan ra sao với
dân chủ?
Trong một chế độ dân chủ,
việc bảo đảm các quyền dân sự và quyền
chính trị của người dân mang 2 nhiệm vụ.
Thứ nhất, các quyền này rất quan trọng nếu
người ta muốn tôn trọng 2 nguyên tắc dân chủ
căn bản, đó là nguyên tắc về sự kiểm
soát của dân chúng và nguyên tắc về bình đẳng
về chính trị khi cần lấy quyết định
tập thể. Thứ hai, những quyền và tự do
này sẽ giới hạn phạm vi hoạt động của
tập thể bằng cách định ra những phạm
vi tự do và phạm vi lựa chọn của cá nhân nằm
ngoài tầm quyết định của tập thể. Ðể
giải thích nhiệm vụđôi này chúng ta thử xét
qua một số quyền dân sự và quyền chính trị
có liên hệ mật thiết với chếđộ dân
chủ.
(i) Tự do và an toàn nhân thân: Nếu không được
bảo vệ khỏi bị bắt bớ, tù, đầy,
trục xuất một cách độc đoán, thì người
dân sẽ không thể vững tâm tham gia vào những cuộc
tranh luận hoặc các hoạt động chính trị.
Do đó những thành viên của khối lập pháp - tức
là các dân biểu - phải được hưởng
quyền bất khả xâm phạm về pháp lý trong khi
thi hành nhiệm vụ. Song, trong chế độ dân chủ,
việc tôn trọng quyền tự do lại là một
nguyên tắc cần được áp dụng cho mọi
người trong đó có cả những người bị
quan điểm chung loại ra - những người mà sự
tự do và sự toàn vẹn thân xác cần được
bảo vệ. Nguyên tắc này cũng luôn thách thức
quanđiểm của khốiđa số.
(ii) Những bảo đảm cho thủ tục tố tụng
hợp thức: Những lý luận vừa nêu cũng
được dùng để biện minh cho sự cần
thiết phải bảo vệ người dân trước
những lời buộc tội vô căn cứ, những
cách đối xử sai trái, trước sự tra tấn
và những phiên xử thiếu công bằng. Trong các chế
độ mà các nguyên tắc dân chủ không được
tôn trọng, các đối thủ chính trị của chế
độ thường hay bị đưa ra tòa. Một
xã hội dân chủ đòi hỏi phải có một hệ
thống tư phápđộc lập vàđòi hỏi sự
vận hành của các tòa án hình sự phải dựa
trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, tránh những
ảnh hưởng và lèo lái về chính trị và ý thức
hệ.
(iii) Tự do tư tưởng và tự do lương
tri: Trong một xã hội dân chủ mỗi người có
quyền tự do suy nghĩ và gắn bó với những
tư tưởng hoặc triết lý sống tùy sở
thích. Một xã hội dân chủ cũng công nhận cho
cá nhân quyền tự do được tụ hợp với
những người khác thành một tôn giáo hoặc một
tín ngưỡng, quyền tự do thuyết giảng và
thực hành những niềm tin của mình. Các quyền
tự do này chỉ có mỗi một giới hạn,
đó là quyền tự do của những người khác.
Quyền tự do tư tưởng cần được
bảo vệ trong mọi tình huống, cần được
bảo vệ như là quyền của cá nhân trước
các niềm tin khác của khối đa số, dù cho các
niềm tin đó có mạnh đến đâu hoặc có
mang sắc thái tôn giáo hay không. Ðiều này cần đặc
biệt áp dụng cho những cộng đồng thiểu
số có những tín ngưỡng và niềm tin khác biệt
nhưng cũng phải được hưởng những
bảo đảm giống như cộngđồngđa
số.
(iv) Tự do phát biểu và tự do truyền thông: Như
ta đã biết, điều cốt yếu trong một chế
độ dân chủ là mỗi người dân phải
có được một tiếng nói và mọi tiếng
nói phải có quyền được phát biểu bình
đẳng như nhau. Nếu công nhận cho mỗi người
dân khả năng được phát biểu thì quyền
tự do phát biểu là một quyền cá nhân căn bản.
Những tiêu chuẩn quốc tế về tự do ngôn
luận không chỉ bảo đảm quyền phát biểu
một quan điểm mà còn bao gồm cả "quyền
tìm kiếm và tiếp nhận mọi thông tin và ý tưởng,
bằng mọi phương tiện và qua mọi biên giới".
Ðối với các xã hội tân tiến, quyền này cũng
hàm ý là các phương tiện truyền thông đại
chúng phải được độc lập, và - trong sự
tôn trọng những quy ước được định
ra một cách rõ ràng để bảo vệ thanh danh và
đời tư của cá nhân - các phương tiện
truyền thông này được tự do thông tin đến
người dân, chỉ trích chính quyền, mở ra các
cuộc tranh luận đủ loại để giúp người
dânđịnh hướng tổng quát trong xã hội mà
họđang sống.
Sự trong suốt trong cách vận hành guồng máy chính
quyền trong thể chế dân chủ cũng được
củng cố bằng nguyên tắc tự do thông tin. Tự
do thông tin cũng bao hàm rằng những nguồn thông tin
và tài liệu xuất phát từ chính quyền không bị
xếp loại "mật" hoặc đang còn giữ
trong vòng bí mật và công chúng có quyền tự do xem
xét những tài liệu này ngoài một số đãđược
quyđịnh chặt chẽ (xx thêm phần 37).
(v) Tự do tụ tập và tự do lập hội: Những
chế độ dân chủ đại diện hiện
nay sẽ không thể hoạt động được
nếu không bảo đảm cho người dân quyền
tự do tụ họp để bàn thảo về các vấn
đề quốc gia, để thành lập các công
đoàn hoặc các hiệp hội đủ loại trong
mục đích bảo vệ quyền lợi đối với
chính quyền, cũng như để thành lập các
chính đảng và tham gia vào đó. Những quyền tự
do này cũng bao gồm cả quyền tụ tập trong
khuôn khổ của một cuộc biểu dương lực
lượng, và quyền đưa thỉnh nguyện
thư đến những người hữu trách nhằm
mục đíchđòi hỏi giải quyết các vấnđề
bị ta thán.
58.
Các quyền kinh tế và xã hội liên quan ra sao với
dân chủ?
Theo tháp dân chủ
đã được trình bày ở phần trên (xx câu
15) thì những quyền căn bản nhằm bảo
đảm công ăn việc làm, nhà ở, thực phẩm,
mức sống khả dĩ, bảo đảm giáo dục
và thỏa mãn một số các nhu cầu căn bản
khác được xem là nền tảng của xã hội
dân sự. Những cơ chế dân chủ chỉ có thể
vận hành tối hảo trong một xã hội mà phần
lớn người dân không chỉ ăn vì đói. Một
sự vận hành tốt của chế độ dân chủ
đòi hỏi phải thỏa mãn những nhu cầu tối
thiểu để bảo đảm sự sinh tồn.
Việc tôn trọng
các nguyên tắc dân chủ đòi hỏi rằng các lá
phiếu của cử tri hoặc người dân phải
có giá trị ngang nhau. Một sự chênh lệch thái quá
về mặt triển vọng của cuộc sống cũng
như về quyền được giáo dục giữa
các thành phần xã hội sẽ làm giảm một cách
đáng kể khả năng phát triển dân chủ của
một xã hội. Mặt khác, dân chủ nếu
được xem là một tiến trình tập thể sẽ
cho phép ta nhận diện và sửa chữa những bất
công đó.
Ðiều này cũng đúng với sự
phát triển. Sự phát triển chỉ có thể lâu
dài nếu những chính sách phát triển có đủ khả
năng biện bạch trước công chúng và nếu
chúng đượcđem ra áp dụng chủ yếu nhằm
mụcđích bảo vệ nhân quyền và nguyên tắc
thượng tôn pháp luật (xx câu 68).
59.
Trong trường hợp nào một chính quyền dân chủ
được phép giới hạn nhân quyền?
Luật quốc
tế cho phép thực thi việc giới hạn một số
nhân quyền (nhất định) nếu chính quyền
liên hệ nêu lên được những lý do đã
được luật quốc tế định nghĩa
rất rõ ràng, thí dụ có liên quan đến trật tự
công cộng, giá trị đạo đức, an ninh quốc
gia hay việc bảo vệ quyền lợi tha nhân. Tuy
nhiên có một số nhân quyền không thể bị giới
hạn trong bất cứ hoàn cảnh nào. Trong một xã
hội dân chủ một cá nhân - trong mọi tình huống
- cũng không thể bị tước một số bảo
đảm cơ bản thí dụ như các bảo đảm
không bị tra tấn, không mất tự do tư tưởng
và không bị kỳ thị.
Công pháp quốc
tế quy định rất rõ về các nguyên tắc mà
một chính phủ phải tuân theo khi muốn can thiệp
vào sự thực thi nhân quyền của người dân
hoặc muốn đình hoãn áp dụng nhân quyền. Sự
giới hạn này phải được ghi vào luật
lệ quốc gia, có nghĩa nó phải có mục đích
chính đáng, phải rõ ràng phù hợp với công pháp
quốc tế hoặc phải chứng minh được
sự cần thiết để bảo vệ các nguyên tắc
dân chủ. Về mặt thực hành, chính quyền nào
muốn có quyết định như trên thì chính quyền
ấy phải chứng minh được rằng hành
động của họ tương xứng với nguyên
nhân đã đưa họ đi đến quyết
định giới hạn việc thực thi một quyền
tự do hoặc một nhân quyền nào đó.
Như vậy, hành động cấm
đoán một chính đảng hoạt động không
thể biện bạch bằng bất cứ lý do nào ngoại
trừ trường hợp chính đảng đó bị
xác định thuộc về một lực lượng
chính trị có hoạt động bạo lực hoặc
nhằm chống lại hiến pháp. Một cách tương
tự, luật quốc tế chỉ cho phép kiểm duyệt
báo chí trong những trường hợp thật đặc
biệt, thí dụ như khi có một tờ báo dựđịnh
công bố những thông tin rất nhạy cảm, mà một
tòa án lại phán quyết rằng nếu bị tiết
lộ, chúng sẽ gây nguy hiểm cho mạng sống của
một số công dân hoặcđe dọa nền an ninh quốc
gia.
60.
Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
nào thì được phép đình chỉ nhân quyền?
Luật quốc
tế về nhân quyền cho phép tạm thời đình
chỉ việc bảo đảm một số quyền dân
sự và chính trị khi quốc gia ở trong tình trạng
đặc biệt với tuyên bố chính thức rằng
tình trạng này đang đe dọa sinh mạng của
quốc gia. Những nguyên nhân được các chính quyền
dựa vào để ban hành tình trạng đặc biệt
thường là những mâu thuẫn nội chính mang tính
chất chính trị hay sắc tộc đã thoái hóa
thành những xung đột bạo lực hay hành vi khủng
bố. Thông thường, trong trường hợp này
các lực lượng cảnh sát hoặc an ninh sẽ bị
buộc phải tăng cường các hoạt động
bắt bớ hoặc khám xét mà có thể dẫn đến
các quyết định bắt giam không xét xử.
Những xã hội dân chủ thường
rất ngại phải dùng đến những quyền lực
ngoại lệ nêu trên và chỉ sử dụng các quyền
lực đặc biệt này trong trường hợp tối
cần thiết mà thôi cũng như cố gắng tối
đa để tránh những lạm dụng khi phải
chọn lựa sử dụngđến những quyền
lựcđặc biệt này.
Ngay cả trong tình trạng đặc biệt được
mô tả ở trên người ta cũng không được
phép vi phạm hoặc đình chỉ một số nhân
quyền như quyền sống, quyền tư do tư
tưởng, tư do lương tri, quyền không bị
tra tấn hành hạ. Ðây là những quyền được
xem là những quyền bất khả xâm phạm và dođó
là những nhân quyền và quyền tự do tuyệtđối.
61.
Một người có thể bị từ chối tư
cách công dân trong một chế độ dân chủ
không?
Trên nguyên tắc một Quốc gia có
quyền định ra những điều kiện cho những
ai muốn xin hưởng quy chế làm thành viên của cộng
đồng (sắc tộc) quốc gia, còn gọi là quy
chế công dân, và định ra những thủ tục
để xin quyền của công dân. Song khi thi hành quyền
lực tối cao này Quốc Gia phải tránh mọi hành
vi kỳ thị và luôn chú ý để (thí dụ như)
không áp dụng một chính sách di dân dựa trên sự
kỳ thị chủng tộc. Hơn nữa Quốc gia phải
tôn trọng những hiệpđịnh quốc tế về
việc tiếp nhận người tỵ nạnđãđược
ký kết.
Một Quốc gia có thể từ chối không cho người
(ngoại quốc) những quyền chính trị nếu họ
chưa là công dân sống trên lãnh thổ của nó, mặc
dù các nước dân chủ hiện có lệ cho những
người ngoại quốc từng sống một thời
gian tương đối lâu tại nước họ
quyền tham gia vào đời sống chính trị bao gồm
cả quyền bầu cử (xx câu 21). Ngoại trừ những
quyền chính trị không cách gì tách khỏi tư cách
công dân, Quốc gia cần bảođảmđể cho
mọi người ngoại quốc sống hợp pháp
trên lãnh thổ của nóđược hưởng mọi
nhân quyền và quyền tự do căn bản mà không hề
có sự phân biệt hoặc kỳ thị nào.
62.
Quyền của các cộng đồng thiểu số có
được bảo đảm không?
Luật quốc
tế nhân quyền có ghi rõ những bảo đảm
đặc biệt cho những cộng đồng thiểu
số, dù đó là thiểu số về tôn giáo, văn
hóa, sắc tộc, dân tộc hay ngôn ngữ. Những cộng
đồng thiểu số này có quyền đòi hỏi
quốc gia không phải chỉ tôn trọng sự hiện
diện của họ mà còn phải bảo vệ bản
sắc đặc thù cũng như tạo thuận lợi
cho sự phát huy bản sắc này.
Thành viên các
cộng đồng thiểu số phải được
hưởng toàn bộ các quyền dân chủ, trong đó
có quyền được tham gia vào việc điều
hành quốc gia ở trong những điều kiện bình
đẳng như mọi công dân khác và được
tham gia vào các quyết định liên quan đến cộng
đồng đặc thù của họ cũng như liên
quan đến khu vực mà họ đang sinh sống.
Ở trên chúng ta vừa chỉ mới
nêu lên một vài nguyên tắc thuộc "Tuyên ngôn về
Quyền của các Cộng đồng thiểu số Dân
tộc, Sắc tộc, Tôn giáo, Ngôn ngữ" được
Ðại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua
vào tháng 12.92. Rất nhiều nếu không muốn nói là
đa số các quốc gia trên thế giới đều
có các cộng đồng thiểu số. Do đó việc
tôn trọng quyền thiểu số cũng là một
trong những tiêu chuẩn để xét về bản chất
dân chủ của một quốc gia. Do đó việc thực
thi các nguyên tắc của bản Tuyên ngôn nêu trên của
Liên hiệp quốc sẽ phải được xem
như một mụcđích hàngđầu và phảiđược
công bố rõ ràng trong toàn nước.
63.
Về mặt thực tiễn, nhân quyền được
bảo vệ bằng cách nào?
Trong các xã hội
dân chủ, nhân quyền đã được bảo vệ
bằng những phương tiện rất khác nhau. Luật
quốc tế về nhân quyền cũng chỉ cung cấp
một số nguyên tắc, nhưng trong đó có một
nguyên tắc có tính bắt buộc là phải giúp cho mọi
người dân có thể kêu cứu, một khi họ có
cảm tưởng rằng nhân quyền của họ bị
vi phạm. Mọi người dân phải có quyền
đòi hỏi được hưởng những nhân
quyền nằm trong những thỏa ước quốc tế
về nhân quyền mà chính phủ của họ đã
ký kết. Ngoại trừ một vài trường hợp
ngoại lệ, các quốc gia đều có một bản
hiến pháp thành văn, trong đó không chỉ ghi cách thức
vận hành của một cơ chế dân chủ mà còn
định nghĩa về các nhân quyền mà quốc gia
đó cam kết công nhận và bảo vệ. Nói chung
các tòa án là tuyến đầu bảo vệ những nhân
quyền cá nhân được định nghĩa trong phần
"Hiến chương các quyền" của hiến
pháp.
Mọi người
dân phải được quyền kiện thưa lên
tòa án mà không hề có bất cứ hạn chế nào -
kể cả trường hợp không có phương tiện
thì sẽ được nhận sự trợ giúp về
mặt pháp lý - để có thể bảo vệ những
quyền của họ; Những phán quyết và ý kiến
của tòa án phải được các cơ quan công quyền
đem ra áp dụng, có nghĩa là trong giới hạn
ấn định bởi hiến pháp, các cơ quan này hoặc
sẽ phải hủy bỏ một số đạo luật
nhất định nào đó, hoặc phải bồi thường
tiền bạc hay quyền lợi. Tuy nhiên việc bảo
vệ nhân quyền cũng thường đòi hỏi phải
có các biện pháp hỗ trợ bổ túc một cách
đa dạng - trong đó có thể có một vài biện
pháp pháp lý - thí dụ như để có thể ngăn
cấm mọi hình thức kì thị hoặc để giúp
cho những thành phần yếu kém trong xã hội như
trẻ em, những người kém may mắn hoặc tàn
tật có thể thực thi những quyền căn bản
của họ.
Trong một xã hội dân chủ, người
dân thường nhờ các vị dân biểu giúp họ
chống lại các bất công hoặc giúp họ cơ hội
thực thi quyền. Các cơ quan truyền thông cũng
đóng một vai trò then chốt khi làm người chú
tâm canh giữ luật pháp, sẵn sàng tố cáo mọi
vi phạm. Trong thực hành, người ta có thể
đặt ra rất nhiều những cơ chế bảo
vệ nhân quyền như ủy ban trung gian hòa giải hoặc
một tổ chức độc lập có trách nhệm
kiểm soát các hoạt động của các cơ quan hành
pháp. Thực ra nếu chỉ có bằng chừng đó
thôi thì chưa đủ. Một sự bảo vệ hữu
hiệu nền dân chủ chủ yếu dựa trên niềm
tin vào những nguyên tắc và mục đích của dân
chủ. Do đó việc quan trọng là phải thiết
lập ở mọi cấp một chương trình giáo
dục nhân quyền và giáo dục về đời sống
dân sự trong một xã hội dân chủ. Những chương
trình giáo dục này sẽ không phải chỉ đóng
khung giới hạn tại các trường học hoặc
đại học mà nhất thiết cần phảiđược
tỏa rộng rađến cả các cơ quan hành chánh,
trongđó có các lực lượng cảnh sát và các cơ
quan quân sự.
V. Xã hội dân chủ hoặc xã hội công dân
64. Xã hội công dân là gì ?
(Các tác giả
hiện chưa thống nhất cách dịch từ
société civile hoặc civil society. Người gọi là xã
hội công dân, người gọi nó là xã hội dân sự.
Hai cách gọi này chỉ khác nhau bởi gócđộ nhìn.
Chúng tôi chọn cách gọi thứ nhất, gần với
chữ Buergergesellschaft của Ðức).
Xã hội công dân - một thành tố quan trọng của
dân chủ - đã trở thành đặc biệt quan trọng
khi trong thế kỉ 20, hai chế độ độc tài
phát xít và cộng sản đã cùng tìm cách tóm thâu mọi
cơ chế xã hội và đặt chúng dưới sự
kiểm soát của Nhà nước. Khái niệm về xã
hội công dân có thể được diễn giải
bằng 2 cách khác nhau. Trong nghĩa tiêu cực, nó có mục
đích giới hạn ảnh hưởng của Nhà nước,
ngăn chặn Nhà nước qui định hóa mọi
hoạt động của xã hội, ngăn chặn Nhà
nước xâm nhập vào mọi lãnh vực đời
sống của xã hội. Trong nghĩa tích cực, xã hội
công dân có mục đích thiết lập nên vô số
các trung tâm tự trị trong xã hội để người
dân có thể tập hợp lại để tự giải
quyết các vấn đề mà họ quan tâm. Những
trung tâm tự trị này được xem như là những
trạm truyền thông ra với dư luận cũng
như là công cụ để tạo áp lực lên các cơ
quan quyền lực cũng như dể chống lại sự
xâm lấn của các cơ quan này.
Xã hội
công dân có những đặc thù chính như sau: một
nền kinh tế thị trường (xx câu 9), những
phương tiện thông tin và truyền thông tự trị
(xx câu 6), những trung tâm gồm những chuyên viên tinh
thông độc lập với Nhà nước có đủ
khả năng đánh giá về chính sách và các hoạt
động của công quyền trên mọi lãnh vực.
Trên hết, xã hội công dân cần một mạng lưới
những hội đoàn tự nguyện hoạt động
trên mọi lãnh vực của đời sống xã hội
để người dân có thể tự lo liệu về
các vấn đề của họ. Tùy nơi tùy lúc, hoặc
tổ chức này hoặc tổ chức kia sẽ đóng
góp tích cực hơn vào việc bảo vệ và phát triển
dân chủ. Khi thì đó là các nghiệp đoàn công
nhân, khi thì đó là các hội chuyên viên, các nhóm đấu
tranh cho quyền lợi của phụ nữ hoặc nhân
quyền, các hội lo về phát triển, các nhóm tương
tế, các tổ chức tôn giáo hoặc đó là đủ
mọi loại hội đoàn hoạt động trên
bình diện địa phương.
Trong khung cảnh có tự do ngôn luận
và tự do lập hội, sự gia tăng số lượng
các hội nhóm là điều tự nhiên, cũng tự
nhiên như việc người dân ý thức được
rằng họ có nhu cầu phải hoạt động tập
thể để giải quyết các vấn đề mà
họ cùng quan tâm - hoặc để tranh đấu hoặc
để xúc tiến thực hiện các quyền lợi
của họ. Việc hình thành các tổ chức tập
thể sẽ càng được chú trọng khi vai trò của
các tổ chức được chính thức công nhận,
chẳng hạn như khi các tổ chức nàyđược
mời làm cố vấn cho những vấnđề mà cơ
quan công quyềnđang quan tâm giải quyết.
65.
Hoạt động của các hiệp hội công dân có
gây trở ngại cho dân chủ không?
Do tự trị
từ tổ chức cho đến tài chính, các hiệp hội
và các tổ chức hoạt động trong xã hội
công dân có thể có khả năng gây ảnh hưởng
làm thay đổi một số mặt nào đó của
hoạt động của các cơ quan công quyền hoặc
có thể gây cản trở cho chúng. Chúng ta sẽ rất
khó xác định rằng bắt đầu từ lúc
nào thì các hoạt động loại này của các tổ
chức sẽ đi ngược lại với các nguyên
tắc dân chủ.
Ða số các
chính phủ được bầu lên một cách dân chủ
thường tìm cách hỏi ý kiến các tổ chức
bảo vệ quyền lợi của các nhóm người
khác nhau trong xã hội và tìm cách thỏa thuận với
họ. Phương thức này là một trong những
đặc thù chính yếu của một chính phủ hoạt
động với sự đồng thuận của
người dân. Song le sẽ có một số nhóm quyền
lợi có thể dựa vào cách thức tổ chức,
vào phương tiện tài chính hoặc những quen biết
để tạo nhiều ảnh hưởng hơn các
nhóm khác. Một khi sự ảnh hưởng này tương
ứng với số lượng thành viên của nhóm
đó thì nó còn dân chủ hơn loại ảnh hưởng
tạo ra bởi những phương tiện tài chính và
quyền lực của một tổ chức bị một
vài người khống chế.
Dó đó, nếu có những hiệp hội
có nhiều ảnh hưởng trong xã hội mà sự
điều hành nội bộ phù hợp với các nguyên
tắc dân chủ và những người lãnh đạo
lại là những đại diện xứng đáng,
thì những hiệp hội đó phải được
xem trọng hơn những hội đoàn khác. Sau cùng, một
xã hội công dân cần phải dành cho những tổ
chức sau đây vai trò cố vấn đặc biệt.
Ðó là các tổ chức đại diện cho những
người vì một sự thua xút nàođó về mặt
xã hội, kinh tế hoặc thân thể mà không thể
có tiếng nói tham gia vào diễn trình hoạchđịnh
chính sách cho nên sẽ coi như là bất lực nếu
khôngđược sự hỗ trợ của các nhóm
này.
66.
Hoạt động của các tổ chức kinh tế
có cần tuân theo các nguyên tắc dân chủ không?
Nhiều người
dân chủ cho rằng chỗ làm việc là một trong yếu
tố ảnh hưởng quan trọng đến cách sống
của từng người, quan trọng đến nỗi
họ cho rằng, muốn thiết lập một xã hội
thật sự dân chủ người ta phải đặc
biệt chú trọng đến việc dân chủ hóa các
quan hệ trong chỗ làm việc. Tối thiểu nhất
người ta phải ngăn chặn không để các
người chủ cản trở việc thành lập
các nghiệp đoàn, để cho các công nhân có thể
cùng nhau hoạt động trong việc tự bảo vệ
hoặc để họ có thể cùng tranh đấu nhằm
cải thiện mức sống và điều kiện làm
việc.
Ở một
mức cao hơn, người ta cần gắn bó công
nhân vào sự tiến triển cũng như sự lời
lỗ của hãng, làm cho họ có trách nhiệm với sự
thành công của hãng và đầu tư sức mình cho
chuyện đó. Có người sẽ phản đối
rằng những ý tưởng như vậy sẽ giới
hạn quyền hành của người chủ trong việc
sa thải cũng như về mặt áp dụng kỷ luật
với công nhân. Song, kinh nghiệm chung cho thấy rằng
các hãng xưởng thành công nhất trong lãnh vực kinh
tế hiện nay lại là những hãng xưởng biết
kích thích sáng kiến của nhân viên và phương cách
tốt nhất để đạt được điều
này là phải xem nhân viên như những "công
dân" chứ không là những "đối tượng".
Nói cách khác, dân chủ và hiệu năng kinh tế không
nhất thiết phải đối nghịch với nhau,
cho dù việc dân chủ hóa các quan hệ trong hãng xưởng
là nhằm tạo ra áp lực để làm giảm khoảng
cách quá đáng về đồng lương và về
điều kiện làm việc giữa nhân viên lãnh đạo
và công nhân sản xuất.
Trong một xã hội dân chủ các tổ
chức kinh tế cũng phải có trách nhiệm đặc
biệt đối với cộng đồng địa
phương nơi chúng đặt cơ sở, thí dụ
như ảnh hưởng của các hoạt động
của tổ chức kinh tế đối với môi trường
sinh thái. Quyền khiếu kiện của các công dân
đối với các cơ quan chính phủ một khi quyền
lợi của họ bị đụng chạm cũng
được áp dụng đối với các hãng xưởng
tư nhân, khi mà sức khỏe và sự thoải mái
thân thể của người dân bị ảnh hưởng
bởi những hoạt động của hãng xưởng.
Do đó hoạt động của các tổ chức kinh
tế phải được đặt nằm trong cái
khung của những quiđịnh pháp lý chặt chẽ
cũng như phải chịu sự giới hạn của
các quiđịnh bảo vệ môi sinh nghiêm ngặt.
67.
Tài sản tư nhân có cần thiết cho dân chủ
không?
Nếu như
về mặt kinh tế tài sản riêng được
xem là một thành phần thiết yếu của kinh tế
thị trường, thì về mặt chính trị, nó cũng
được bảo vệ bởi những lý luận
chính trị vững chắc cho rằng nó giúp cho người
dân thực hiện được những hoạt động
chính trị nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước.
Như vậy chúng ta có thể xem tài sản riêng như
là một cơ chế của xã hội công dân và như
là một hình thức bảo vệ sự tự do chính
trị.
Song le chúng ta chớ nên vội kết
luận rằng mọi can thiệp của nhà nước
vào quyền tư hữu phải nhất thiết đe dọa
đến quyền tự do cá nhân và cần chống lại
nó. Quan niệm về tài sản riêng phát sinh từ việc
giới hạn quyền tự do cá nhân đã được
toàn xã hội chấp nhận và áp đặt về
phương diện thi hành. Việc độc quyền
hưởng thụ các tài sản riêng bao giờ cũng
đi đôi với việc giới hạn người
khác trong việc hưởng thụ những tài sản
đó. Những điều kiện để truất phế
quyền tự do cần phải được toàn xã hội
cùng định ra và việc biến những điều
kiện này thành luật cần được thực hiện
tùy hoàn cảnh. Tóm lại, đòi hỏi để luật
pháp qui định việc sử dụng tài sản riêng
là một đòi hỏi chính đáng, trong đó, cách thức
phân phối các tài sản riêng có thể để tùy
thuộc các chính sách áp dụng chung. Chúng ta có thể
xem rằng, dù trên nguyên tắc tài sản riêng rất
quan trọng đối với nền dân chủ nhưng
nó không là một quyền tự nhiên hay tuyệt đối.
Sự chính đáng của quyền tư hữu phải
nằm trong khuôn khổ những gìđược tập
thểđịnh ra và giới hạn lại.