Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam
Trich tu Dien Dan Dan Chu - Phan huy Lê
LTS.- Trong khuôn khổ loạt bài "giao thừa thiên kỉ / thế kỉ", chúng tôi xin giới thiệu một bài viết của nhà sử học Phan Huy Lê. Bài này được tác giả chọn đăng trong tuyển tập Tìm về cội nguồn (Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 1999, tập I, 820 tr, tập II, 938 tr). Nó được công bố lần đầu tiên, cách đây hơn 10 năm, trên báo Tổ Quốc (tháng 4.1988) của Đảng Xã hội Việt Nam lúc đó chưa bị giải thể. Cũng cần đặt bài viết trong bối cảnh thời gian ấy, để càng thấy rõ hơn tính thời sự của những vấn đề cơ bản được đặt ra.
1. Vấn
đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam
đã được đặt ra trong giới nghiên cứu
của chúng ta từ hơn một thập kỷ nay. Qua
những bài viết được công bố và những
lời phát biểu trong các cuộc hội thảo khoa học,
đã hình thành hai quan điểm khác nhau, thậm chí
trái ngược nhau về vấn đề này.
Một số
người khẳng định và nêu cao truyền thống
dân chủ, coi như một trong những truyền thống
ưu việt của nhân dân được tạo nên
trong quá trình dựng nước và giữ nước, và
là một cơ sở thuận lợi để xây dựng
chế độ làm chủ tập thể, xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Một số
người khác, nhất là trong thời gian gần đây,
lại tỏ ý hoài nghi hoặc phủ nhận hoàn toàn về
sự xuất hiện và tồn tại của một
truyền thống dân chủ trong điều kiện của
chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt
Nam và phương Đông nói chung.
Cả hai quan
điểm trái ngược đó lại gần như
thống nhất về mặt phương pháp : sử dụng
một số ca dao, tục ngữ, tập quán trong kho
tàng văn hoá dân gian hay một số tư liệu về
mối quan hệ vua - quan - dân rút từ trong thư tịch
cổ, để chứng minh cho nhận định của
mình. Đó là phương pháp chọn lọc một số
tư liệu, chứ không phải là sự khái quát khoa
học dựa trên cơ sở phân tích và tổng hợp
mọi tư liệu có liên quan và lý giải nguồn gốc
của nó trong những điều kiện lịch sử
cụ thể. Đấy cũng là biểu hiện của
phương pháp minh họa mang nặng tính chủ quan
đã một thời chi phối công tác nghiên cứu sử
học của chúng ta.
Vì vậy
trong bài viết này, để góp phần giải quyết
vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt
Nam, tôi không muốn dừng lại ở những biểu
hiện bề ngoài của nó, mà thử phân tích những
cơ sở hình thành và phát triển của nó trong tiến
trình lịch sử Việt Nam.
2. Sau
một thời kỳ phát triển lâu dài của chế
độ công xã nguyên thủy với những quan hệ
cộng đồng-dân chủ nguyên thủy, lịch sử
Việt Nam cũng như các nước khác trên thế
giới, bước vào thời kỳ phân hoá xã hội
với cuộc đấu tranh triền miên diễn ra dưới
nhiều hình thức và mức độ khác nhau giữa
người lao động bị áp bức, bóc lột với
kẻ thống trị áp bức, bóc lột. Trong cuộc
đấu tranh xã hội đó thường xuất hiện
những tư tưởng dân chủ nhất định
phản ánh khát vọng và ước mơ của quần
chúng lao khổ chống lại các bất công và bất
bình đẳng xã hội. Nội dung và mức độ
phát triển của những tư tưởng dân chủ
đó tùy thuộc vào tính chất của hình thái kinh tế
- xã hội thống trị, vào mức độ phân hoá
và đấu tranh xã hội, vào vị trí kinh tế - xã
hội của giai cấp bị áp bức, bóc lột. Những
tư tưởng dân chủ như vậy đã từng
xuất hiện trong xã hội chiếm hữu nô lệ,
trong xã hội phong kiến và được phản ánh
trong tư tưởng của một số nhà hiền
triết, trong đạo Cơ Đốc sơ kỳ,
đạo Phật sơ kỳ, trong cải cách tôn giáo,
trong chiến tranh nông dân...
Xã hội
phân hoá và Nhà nước sơ kỳ trong lịch sử
Việt Nam cổ đại thuộc một loại hình
thái kinh tế - xã hội mà giới sử học nước
ta đã thảo luận hơn 30 năm nay (từ 1959
đến nay) và liên quan đến vấn đề
phương thức sản xuất châu Á mà giới khoa
học thế giới đã tranh luận trên nửa thế
kỷ nay (từ 1929 đến nay). Tuy nhiên ta có thể
ghi nhận một đặc điểm quan trọng là
trong xã hội đó, quan hệ bóc lột nô lệ không
phát triển bao nhiêu và chỉ dưới dạng chế
độ nô lệ gia trưởng (ta thường gọi
là chế độ nô tỳ), lực lượng sản
xuất chủ yếu là thành viên công xã nông thôn.
Tiếp theo
đó, lịch sử Việt Nam có trải qua chế
độ phong kiến hay không cũng là một vấn
đề gần đây được nêu lên như một
vấn đề tranh luận mà một xu hướng
đang phát triển ở phương Tây gần đây
là hoài nghi hoặc phủ nhận sự tồn tại của
chế độ phong kiến ở Việt Nam và thậm
chí cả phương Đông nói chung. Riêng tôi, cho đến
nay tôi vẫn cho rằng Việt Nam có trải qua một
thời kỳ phát triển của chế độ phong
kiến nhưng thuộc một loại hình chế độ
phong kiến phương Đông có nhiều đặc
điểm khác với chế độ phong kiến
phương Tây.
Chế độ
phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển trên cơ
sở một mặt là bảo tồn và phong kiến hoá
kết cấu kinh tế xã hội của công xã nông
thôn, mặt khác là sự phát triển của chế
độ tư hữu ruộng đất. Chế độ
sở hữu ruộng đất của công xã chuyển
hoá thành chế độ sở hữu nhà nước về
ruộng đất, và do đó quan hệ giữa vua và
thần dân bao gồm cả quan hệ bóc lột địa
tô của một địa chủ lớn (vua) đối
với nông dân tá điền (thành viên công xã). Cùng với
sự ra đời và phát triển của chế độ
tư hữu ruộng đất, trong xã hội lại xuất
hiện một tầng lớp địa chủ tư hữu
(bao gồm địa chủ, quý tộc và một số
quan lại) phát canh thu tô bóc lột trực tiếp nông
dân tá điền, và một tầng lớp nông dân tư
hữu có ít nhiều ruộng đất tư. Giai cấp
nông dân Việt Nam như thế là bao gồm một số
nông dân tự canh có ruộng đất tư hữu, số
đông là nông dân tá điền không có hoặc không có
bao nhiêu ruộng đất tư nên phải cày ruộng
của nhà vua và địa chủ theo quan hệ địa
chủ - tá điền, và một số nông dân nghèo khổ
phải đi làm thuê, đi ở, thân phận gần như
nô tỳ và thường dễ rơi xuống thân phận
nô tỳ.
Như vậy
là quần chúng lao động đông đảo trong xã
hội Việt Nam cổ truyền là nông dân công xã và
nông dân tá điền, có kinh tế riêng nhưng hầu
như không có quyền sở hữu ruộng đất.
Đặc điểm kinh tế xã hội đó ảnh
hưởng sâu sắc đến cuộc đấu tranh
xã hội của nông dân và quá trình nẩy sinh, phát triển
cũng như nội dung tư tưởng dân chủ của
nông dân Việt Nam.
Trong quá trình
phong kiến hoá công xã nông thôn từ thế kỷ X
đến XV, đã xuất hiện những cuộc
đấu tranh của nông dân vào cuối đời Lý
và cuối đời Trần với những tư tưởng
đòi bình đẳng xã hội và cứu giúp người
nghèo. Tư tưởng đó thể hiện trong cuộc
khởi nghĩa Lê Văn cuối thế kỷ XII và khởi
nghĩa Ngô Bệ cuối thế kỷ XlV. Lê Văn tung
tin thấy vết chân trâu trắng trên cây để
đoán rằng : " Trâu trắng là vật ở dưới
nước, nay lại ở trên cây, thế là điềm
kẻ dưới lên ở trên ", để cổ
vũ quần chúng. Ngô Bệ nêu khẩu hiệu " chẩn
cứu dân nghèo " để tập hợp quần
chúng nổi dậy chống triều Trần.
Đến
giai đoạn cuối của chế độ phong kiến,
trong cuộc chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII và nửa
đầu thế kỷ XIX tư tưởng dân chủ
nông dân được phát triển lên trình độ mới
với khẩu hiệu " lấy của nhà giàu chia
cho dân nghèo ", phản ánh yêu cầu bình đẳng
tài sản và tâm lý bình quân chủ nghĩa của những
người tiểu nông trong điều kiện kinh tế
hàng hoá đã phát triển. Tư tưởng đó biểu
thị rõ nét trong phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ
XVIII, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc
khởi nghĩa. Một điểm đáng lưu ý là
trong phong trào nông dân ở giai đoạn cuối của
phong kiến Việt Nam không thấy xuất hiện khẩu
hiệu ruộng đất như trong phong trào nông dân
nhiều nước Tây Âu ở hậu kỳ phong kiến
hay phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc giữa
thế kỷ XIX. Khuynh hướng chung của nông dân Việt
Nam là muốn củng cố chế độ ruộng
đất công của làng xã với một quy chế
quân điền bình đẳng, bảo đảm cho mọi
người có ruộng đất khẩu phần đủ
để cày cấy, nộp tô, thuế vừa phải
cho Nhà nước. Điều đó có thể được
giải thích bằng tâm lý của người nông dân
công xã mà những tàn dư của nó được bảo
lưu lâu dài trong xã hội phong kiến.
Về mặt
chính trị, tư tưởng dân chủ cao nhất của
nông dân là bạo động chống lại chế
độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo
chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một
xã hội công bằng có vua sáng tôi hiền. Đó là tư
tưởng :
- Được làm vua, thua làm giặc
- Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất
thế lại ra quét chùa.
Tư
tưởng đó cũng dội vào nhận thức của
một số nhà văn hoá mang nặng tấm lòng nhân
đạo như :
Thà rằng bạo động bất
lương,
Còn hơn
chết đói nằm đường thối thây.
(Lê Hữu Trác, Vệ sinh yếu
quyết)
Như vậy
là trong đấu tranh xã hội, tư tưởng dân chủ
của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở
yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài
sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ
nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư
tưởng bạo động về mặt chính trị.
Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người
nông dân công xã, người sản xuất nhỏ, nó có
mặt chính đáng và tích cực của nó trong cuộc
đấu tranh chống chế độ chuyên chế, chống
những bất công của xã hội phong kiến, nhưng
cũng bộc lộ mặt không tưởng và bất lực
của người nông dân trong sự nghiệp tự giải
phóng mình.
3. Một
đặc điểm quan trọng của xã hội Việt
Nam cổ truyền là sự tồn tại và bảo lưu
lâu dài tàn dư của công xã nông thôn.
Đây là
công xã nông thôn thuộc loại hình Á châu mà trong giai
đoạn đầu, đặc điểm cơ bản
của nó là quyền sở hữu công xã về toàn bộ
ruộng đất và công xã đem phân chia ruộng
đất đó cho các gia đình thành viên cày cấy. Bộ
máy quản lý công xã do các thành viên cử ra mà đứng
đầu là một Già làng có âm tiếng Việt cổ
gần như Po Chiêng và phiên âm Hán-Việt là Bồ
Chính.
Về sau chế
độ tư hữu ruộng đất phát triển
thu hẹp dần chế độ ruộng đất công
của làng xã và sự phân hoá xã hội bên trong cũng
càng ngày càng nâng cao. Quá trình đó diễn ra cùng với
quá trình phong kiến hoá công xã nông thôn.
Nhưng nói
chung, tàn dư của công xã nông thôn ở những mức
độ tồn tại khác nhau tùy từng lúc và từng
nơi, vẫn được bảo lưu lâu dài trong
xã hội Việt Nam cổ truyền. Tất nhiên ở
đây có sự khác biệt giữa làng xã miền Bắc
và miền Nam do nhiều hoàn cảnh và điều kiện
lịch sử qui định.
Trên cơ sở
quan hệ cộng đồng công xã đó, hình thành và
bảo tồn một loạt phong tục tập quán gọi
chung là "lệ làng" ít nhiều phản ánh tính chất
dân chủ công xã. Nó được biểu thị trong
mối quan hệ tương đối bình đẳng
giữa các thành viên trong việc chia ruộng đất
công và trong các sinh hoạt cộng đồng, trong sự
tôn trọng người già bất cứ thuộc đẳng
cấp nào, trong việc thừa nhận vai trò to lớn của
người mẹ và người phụ nữ trong đời
sống gia đình và làng xã.
Những lệ
làng mang tính dân chủ công xã đó được phản
ánh rõ nét trong kho tàng văn hoá dân gian, nhất là trong ca
dao, tục ngữ mà nhiều người đã dẫn
chứng. Trong bộ luật Hồng Đức gồm 722
điều luật được xây dựng trong thế
kỷ XV và được áp dụng lâu dài cho đến
cuối thế kỷ XVIII (dĩ nhiên có được bổ
sung và sửa chữa ít nhiều), một số phong tục
tập quán dưới dạng luật tục dân gian có
hiệu lực lâu đời đã được ghi nhận
và pháp chế hoá thành những điều luật của
Nhà nước phong kiến. Điều này được
thể hiện tập trung nhất trong những điều
luật về quyền lợi của người phụ
nữ trong gia đình và xã hội, trong việc thừa hưởng
gia tài, kế thừa hương hỏa và phân chia tài sản
khi vợ chồng phải li dị. Nhiều nhà luật học
phương Tây đã ghi nhận đây là những
điều luật đặc biệt của Bộ luật
Hồng Đức và nêu cao tinh thần dân chủ của
nó, nhưng dĩ nhiên họ không giải thích được
nguồn gốc lịch sử của nó và do dó sự
đánh giá cũng có mặt không thỏa đáng.
Trong quá trình
phong kiến hoá công xã nông thôn, nhất là từ thế
kỷ XV trở đi, " phép vua " ngày càng can thiệp
và áp đặt vào đời sống cộng đồng
của làng xã và từ đó, diễn ra cuộc đấu
tranh giữa " phép vua " với " lệ làng
". Xu thế chung là "ấphép vua " ngày càng thắng
thế và chi phối, nhưng không thể xoá bỏ
được " lệ làng " và " lệ làng
" tỏ ra rất bướng bỉnh, nhiều khi
" phép vua " thua " lệ làng ".
Tư tưởng
dân chủ công xã có mặt tích cực của nó trong
đời sống xã hội lúc bấy giờ, nhưng
cũng gắn liền với tính cục bộ, địa
phương của công xã và những hẹp hòi của
các hình thức dân chủ công xã. Công xã chỉ thừa
nhận quyền bình đẳng và dân chủ giữa
các thành viên khi họ là thành viên của công xã, là bộ
phận tạo thành của cộng đồng, nhưng
hoàn toàn không công nhận quyền của cá nhân, của
con người với tư cách là một thực thể
độc lập. Dân chủ công xã không dựa trên sự
giải phóng con người và tôn trọng quyền của
con người, mà trói chặt con người trong quan hệ
cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền
lợi bình đẳng của con người với
tư cách là thành viên của cộng đồng.
4. Việt
Nam trước cách mạng chưa hề trải qua một
hình thức tồn tại của nền cộng hoà dân
chủ, mà chỉ có một chính thể duy nhất là chế
độ quân chủ với những dạng thức tập
quyền và mức độ chuyên chế khác nhau.
Cho đến
trước thế kỷ XV, nhất là trong thời Lý,
Trần, chế độ quân chủ tập quyền
đã được xác lập vững vàng, nhưng
chưa mang tính chất chuyên chế quan liêu nặng nề.
Chế độ đó dựa trên nền tảng công
xã nông thôn phổ biến và bền vững đang trên
đường phong kiến hoá.
Đất
nước sau hơn nghìn năm Bắc thuộc, vừa
giành lại độc lập dân tộc và đang phải
bảo vệ nền độc lập đó chống lại
nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ác liệt của
những đế chế lớn mạnh. Các vương
triều tiến bộ lúc bấy giờ sớm nhận
thức được mối quan hệ gắn bó giữa
lợi ích của vương triều với lợi ích
chung của cả dân tộc và đang giữ vai trò tổ
chức, lãnh đạo các cuộc chiến tranh giữ nước.
Đó là những cuộc kháng chiến và những cuộc
chiến tranh giải phóng mang tính dân tộc và tính nhân
dân sâu rộng, những cuộc chiến tranh nhân dân yêu
nước chống ngoại xâm với vai trò định
đoạt của nhân dân, của khối đoàn kết
dân tộc. Từ thực tế lịch sử đó, Trần
Quốc Tuấn đã coi " chúng chí thành thành "
(ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)
và tổng kết nguyên nhân thắng lợi cơ bản
là do " vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước
nhà chung sức ", Nguyễn Trãi cũng ví dân như
nước, nước có thể chở thuyền và lật
thuyền nên " phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ "
(thuyền bị lật mới biết sức dân như
nước).
Từ những
điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và
hoàn cảnh giữ nước trên đây, các vương
triều tiến bộ thời bấy giờ phải lo
giữ lòng dân và phải áp dụng một số hình thức
dân chủ đối với dân. Từ đó, chúng ta thấy
nhà Lý đặt Lầu Chuông trong thành Thăng Long để
" dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng
thì đánh chuông lên ", nhà Trần mở hội
nghị Diên Hồng để cùng với các bô lão bàn kế
đánh giặc, Trần Quốc Tuấn chủ trương
" khoan thu sức dân để làm kế sâu rễ bền
gốc " và Nguyễn Trãi ước mong làm sao
" nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận
sầu than "... Đó là những yếu tố dân
chủ gắn liền với sự nghiệp bảo vệ
độc lập dân tộc đương thời và thực
tế lịch sử đã chỉ rõ, một phong trào
dân tộc rộng lớn bao giờ cũng chứa đựng
những yếu tố dân chủ nhất định.
Nhưng từ
thế kỷ XV trở đi, chế độ quân chủ
chuyển sang mô hình Nho giáo với tính chất chuyên chế
quan liêu càng ngày càng nặng nề. Và cũng từ
đó, mối quan hệ giữa vua quan và dân càng ngày
càng tách rời và đối lập, những chủ
trương và hình thức dân chủ của các vương
triều trước không còn được kế tục
nữa.
5. Qua
sự phân tích những cơ sở kinh tế, xã hội,
chính trị đã từng làm nẩy sinh và bảo tồn,
phát triển trong mức độ nào đó những tư
tưởng và hình thức dân chủ trong xã hội Việt
Nam cổ truyền, tôi rút ra mấy nhận xét tổng
quát sau đây :
*
Không thể phủ nhận được sự tồn
tại của một số tư tưởng và hình thức
dân chủ nào đó trong đời sống xã hội và
trong truyền thống Việt Nam.
*
Những tư tưởng và hình thức dân chủ
đó thực chất là dân chủ nông dân nẩy sinh
trong cuộc đấu tranh xã hội của những người
sản xuất nhỏ mà đỉnh phát triển cao nhất
là chủ nghĩa bình quân, là dân chủ công xã dựa
trên sự bảo tồn quan hệ cộng đồng công
xã và một số biện pháp thân dân của các vương
triều tiến bộ trong điều kiện phân hoá
giai cấp chưa gay gắt và trước yêu cầu bức
thiết của nhiệm vụ giữ nước. Những
tư tưởng và hình thức dân chủ đó đã
biểu thị mặt tích cực và tiến bộ của
nó trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ nhưng
cũng có mặt hạn chế nặng nề của nó.
*
Có thể coi đó là những yếu tố dân chủ
và xã hội chủ nghĩa như cách nói của V. I.
Lênin, và cần trân trọng nó khi nghiên cứu và đánh
giá di sản văn hoá truyền thống. Nhưng từ
đó khuếch đại lên thành một truyền thống
dân chủ mạnh mẽ của nhân dân ta thì không phản
ánh đúng sự thật lịch sử và dễ đánh
lừa, ru ngủ chúng ta một cách nguy hiểm trước
thực tế chúng ta đang ra sức khắc phục tình
trạng mất dân chủ hiện nay và xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa.
*
Trong lịch sử tiến hoá của nhân loại, trong chế
độ cổ đại, đã có nền dân chủ
chủ nô, nhưng chỉ giới hạn trong giai cấp
chủ nô và những người tự do, và hơn thế
nữa, phủ nhận quyền dân chủ, chà đạp
lên quyền sống và nhân phẩm của quần chúng
lao động đông đảo là nô lệ. Phải
đến thời kỳ phát triển của chủ nghĩa
tư bản, trên cơ sở xã hội công dân và Nhà nước
pháp quyền, con người mới được giải
phóng khỏi các chế độ chuyên chế và một
nền dân chủ, một truyền thống dân chủ thực
sự mới được xây dựng, vừa mang tính
giai cấp của chủ nghĩa tư bản, vừa phản
ánh một bước tiến của văn minh nhân loại.
Nhưng Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển
của chủ nghĩa tư bản nên cũng không có
điều kiện xây dựng nền dân chủ tư sản
và không có truyền thống dân chủ tư sản, có
chăng chỉ là một số yếu tố, một số
tư tưởng nào đó tiếp thụ từ bên
ngoài và nẩy nở trong một số thành phần xã hội
nhất định.
*
Những yếu tố dân chủ trong truyền thống
Việt Nam còn quá thấp và quá yếu so với yêu cầu
xây dựng nền dân chủ hiện nay. Hơn nữa
trong truyền thống Việt Nam, dân chủ nông dân với
tư tưởng bình quân chủ nghĩa và dân chủ
công xã lấy quan hệ cộng đồng để trói
buộc con người còn có mặt di hại cho nền
dân chủ hiện nay và là cội nguồn tư tưởng
của một số mặt tiêu cực trong xã hội
đang diễn ra hàng ngày.
Công cuộc
đổi mới và xây dựng đất nước hôm
nay phải xuất phát từ di sản lịch sử và
văn hoá của quá khứ để lại, trong đó
có những mặt mạnh và ưu việt cần
được kế thừa và phát huy, những mặt
yếu và lỗi thời cần được khắc
phục để vươn lên tiếp nhận những
xu thế và thành tựu của thời đại. Nền
dân chủ chúng ta đang xây dựng hiện nay có kế
thừa một số yếu tố dân chủ của di sản
truyền thống, nhưng cũng phải khắc phục
nhiều hạn chế và di hại của quá khứ.
Quá trình dân chủ hoá là một quá trình mới mẻ
trong lịch sử Việt Nam và quá chậm so với tiến
trình lịch sử thế giới, do đó đòi hỏi
chúng ta phải có những bước đi thích hợp
và khẩn trương nhằm xây dựng một nền
dân chủ Việt Nam vừa phù hợp với văn hoá
và truyền thống Việt Nam, vừa bắt kịp sự
tiến hoá của thời đại.
Phan Huy Lê